VI | EN
37. Tư liệu Hán Nôm ở huyện Kim Bảng tỉnh Nam Hà (TBHNH1995)
TBHNH1995

TƯ LIỆU HÁN NÔM Ở HUYỆN KIM BẲNG TỈNH NAM HÀ

PHẠM VĂN THẮM

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

I. Vị trí

Kim Bảng, một huyện nằm ở đỉnh điểm phía bắc tỉnh Nam Hà, là một trong hai huyện duy nhất của tỉnh có địa thế rừng núi trải dài tới đồng bằng. Địa giới của huyện phía đông giáp huyện Duy Tiên, phía Tây giáp huyện Lạc Thủy tỉnh Hòa Bình, phía bắc giáp huyệng Ứng Hòa tỉnh Hà Tây, phía nam và đông nam giáp thị xã Phủ Lý và huyện Than Liêm. Huyện Kim Bảng nằm ở vị trí có đường giao thông thủy bộ rất thuận lợi: đường quốc lộ 1a chạy dọc phía đông, từ Cầu Rẽ - Đồng Văn xuống thị xã Phủ Lý. Đến đây có đường đi Nam Định Thái Bình, đường chính chạy thẳng Ninh Bình vào Nam. Đường quốc lộ liên tỉnh số 21 nối với đường quốc lộ 1a qua sông Đáy đi Chi Nê - Lạc Thủy, Hòa Bình. Về đường sông, sông Đáy là một nhánh của sông Hồng chảy qua Hà Tây đổ về Kim Bảng chảy xuôi xuống Phủ Lý, dọc theo xã Châu Sơn qua huyện Thanh Liêm đến Ninh Bình rồi đổ ra biển. Dòng sông, đường bộ địa thế từ nhiên chia đôi huyện Kim Bảng thành hai phần. Phần phía nam gồm các xã Châu Sơn, một phần xã Phù Vân, xã Thanh Sơn, xã Thi Sơn, Liên Sơn, Khả Phong, Ba Sao và Hồng Sơn, một xã miền núi vừa mới được thành lập.

II. Tên gọi

Địa danh Kim Bảng trước đời Trần có tên gọi là Cổ Bảng. Theo Tống thư châu quận chí: Tôn Hạo đời Ngô đem quân đi đánh người Di ở Phù Nghiêm, lấy đất ấy lập quân [Vũ Bình], cách châu về đường thủy là 1490 dặm. qua khảo cứu, quận Vũ Bình nằm giữa dòng sông Hồng và sông Đáy... Các huyện Chương Mỹ, Mỹ Đức, Thanh Oai củaĐông và Kim Bảng, Duy Tiên của Hà Nam nằm trong phạm vi quận ấy (1). Sách Nhất thống trí chép: huyện Kim Bảng từ đời Trần trở về trước gọi là Cổ Bảng thuộc châu Lỵ Nhân. Châu Lỵ Ngân có các huyện Thanh Liêm, Bình Lục, Cổ Bàng, Cổ Giã, Cổ Lễ (2). Huyện Kim Bảng đời Trần thuộc lộ Thiên Trường. Từ năm Quang Thái 10 (1397) thuộc trấng Thuên Trường. Naqm Quang Thuận 7 (1446) triều đình bỏ trấn dặt thừa tuyên, huyện Kim Bảng thuộc thừa tuyên Thiên Trường. Sau đó vài năm, năm Quang Thuận 10 (1469) vua Lê Thánh Tông cho đổi Thiên Trừong thành Sưn Nam, Kim Bảng thuộc thừa tuyên Sơn Nam. Năm Hồng Đức 21 (1490), triều đình bỏ thừa tuyên đặt xứ, Kim Bảng thuộc xứ Sơn Nam. Năm Cảnh Hưng 2 (1741) Triều đình bỏ xứ, đặt lộ, chia Sưn Nam thành hai lộ: Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ. Huyện Kim Bảng thuộc Sơn Nam Thượng. Đời Tây Sơn (1788 - 1802) Kim Bảng thuộc trấn Sơn Nam Thượng. Năm Gia Long 3 (1804) trấn Sơn Nam Thượng được riều đình cho bỏ chữ Thượng, chỉ gọi là trấn Sơn Nam. Huyện Kim Bảng vẫn thuộc trấn này. Năm Minh Mệnh 13 (1832), Triều đình lấy ba phủ Ứng Hòa, Lỵ Nhân, Thường Tín của trấn Sơn Nam cùng phủ Hoài Đức lập thành tỉnh Hà Nội. Năm 1890, phủ Lỵ Nhân được tách ra lập thành một tỉnh roêng lấy ten là Hà Nam, huyện Kim Bảng thuộc tỉnh Hà Nam (3). Từ năm 1965 huyện Kim Bảng thuộc tỉnh Nam Hà, sau đó là Hà Nam Ninh. Từ năm 1993, Ninh Bình tách ra lập thành tnhr riêng, huyện Kim Bảng thuộc tỉnh Nam Hà cho đến nay.

III. Kim Bảng có nhiiều di tích lịch sử và tư liệu Hán Nôm

a. Cũng như nhiều làng quê ở đồng bằng Bắc Bộ, mỗi làng xã ở huyện Kim Bảng đều có đình, chùa, đền, nhà thờ họ. Rất tiếc trong những năm tháng chiến tranh nhiều do tích bị tàn phá như đình chùa thôn Châu Xá, xã Chầu Sơn, đình chùa xã Phù Vân... Tuy nhiên, huyện Kim Bảng vẫn còn nhiều di tích và quần thể di tích nổi tiếng như đình Phương Thượng xã Lê Hồ; đình Thượng xã Thanh Sơn. Hai di tích này đã được Bộ Văn hóa và Thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử. Các quần thể đình chùa thôn Thịnh Châu xã Châu Sơn. Một dải quần thể di tích tiếp nối với di tích chùa Hương của Hà Tây chạy dọc sông Đáy qua Tượng Lĩnh, Tân Sơn, Thụy Lôi, Thi Sơn đến tận đền thờ bà Lê Chân của xã Hồng Sơn. Trong các quần thể ấy không thể không nhắc đến Ngũ Động Sơn một di tích quý giá ẩn mình trong núi Cấm mới được phát hiện.

Cho đến nay chúng tôi chưa tìm được tư liệu nào nói về núi Cấmcũng như chưa lý giải được vì sao quả núi này có tên gọi là "Cấm". Song vùng này đầy ắp các truyền thuyết nói về các vị tiên vào những đêm trăng sáng thường xuống núi Cấm uống rượu đánh cờ, du ngoạn cảnh trần gian. Cũng chính vì phong cảnh hữu tình mà nhiều mặc khách tao nhân, kể cả vua chúa, văn thần đến vãng cảnh đề thơ ngâm vịnh, nhưng chưa có ai nói đến Ngũ Động Sơn trong núi Cấm. Ngũ Động Sơn là tên gọi chung của năm động nối liền nhau tạo thành một dãy liên hoàn nằm trong lòng núi Cân. Cửa Ngũ Động Sơn quay ra phía sông Đáy. Động đầu tiên gọi là Hang Châu, động này không rộng lắm, ngửa mặt nhìn lên chỉ thấy một vòm trời xanh. Từ động này đivào động thứ hai có một con đường nhỏ dường như những bậc thang leo lên cổng trời. Bắt đầu từ động thứ hai chúng ta thấy nhiều vô kể các khối thạch nhũ với muôn hình muôn vẻ. Từ động thứ ba đến động thứ tư, người ta có thể thấy trên vách động tựa như bức "phù điêu" diễn tả các hình ảnh về con người, các hoạt động của loài vật. Động bốn là động lớn nhát có thể chứa được hàng ngàn người. Dưới chân động thứ tư, về mùa nước người ta có thể nhìn thấy dòng nước trong vắt với đàn cá lội tung tăng. Đến động thứ năm có những dải nhũ rủ từ trần động xuống mặt đất tạo nên ba ô cửa, những dải nhũ nhỏ rủ xuống lưng chừng trông tựa bức màn che. Có nhiều điều bí ẩn có thể còn chưa được phát hiện trong năm hang động này.

Bên cạnh Ngũ Động Sơn là đền Trúc thờ Lý Thường Kiệt bên kia núi Cấm là chùa Nhi, pong cảnh thật sơn thủy hữu tình.

b. Trong các di tích của huyện hiện còn lưu giữ được mảng di văn viết bằng chữ Hán, chữ Nôm với khối lượng không nhỏ, và có nhiều văn bản mang niên đại khá sớm như đạo sắc phong mang niên đại Phúc Thái (1645) hiện còn lưu được tại đền thờ Trần Hưng Đạo bên núi Trúc xã Ngọc Sơn. Bài văn khắc thên hai quả chuôn treo tại chùa Đặn Xá, Đề Xá thuộc xã Văn Xá mang niên đại Chính Hòa 15 (1694) và Chính Hòa 16 (1695). Phong phú hơn nữa vẫn là mảng vaun bia dựng trong các di tích. Văn bia có nhiều loại: Bia trùng tu, bia ghi việc xây dựng di tích, bia ghi việc gửi giỗ... Niên đại văn bia hiện mới tìm thấy niên đại Vĩnh Thịnh là sớm nhất. Nhưng đáng chú ý hơn cả là tấm bia khắc niên đại Chiêu Thống (1787) hiện dựng tại di tích xã Liên Sơn. Chúng ta đã biết Le Chiêu Thống lên ngôi nhờ thế lực ngoại bang. Ông ta chỉ ở ngôi mọt năm sau đó bị Tây Sơn Nguyễn Huệ đánh đuổi đã phải chạy ra nước ngoài. Văn bia mang niên đại Chiêu Thống là một trong những hiện tượng hiếm thấy ở trong vùng.

Cố thể mói các di tích của huyện được nhiều người biét đến cũng nhờ một phần ở mảng di văn này. Tuy chưa phải đã sưu tập được hết, nhưng số lượng manngr di văn Hán Nôm ở các địa phương trong huyện như sau:

c. Mảng di văn Hán Nôm tại huyện Kim Bảng có một số lượng không nhỏ. Đây chính là nguồn tư liệu dáng quí cho việc nghiên cứu mọi khía cạnh đời sống văn hóa của ông cha trên một vùng đất giàu truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước.

Chú thích:

1. Xem Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua cá đời, Nxb Khoa học Hà Nội, 1964 trang 59.

2.. Tác giả Đào Duy Anh, sách đã dẫn, trang 100, 133.

1. Tác giả Đào Duy Anh sách đã dẫn. Trang 100, 133.

Thông báo Hán Nôm học 1995 (tr. 346-351)

Phạm Văn Thắm
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm