VI | EN
38.Về tấm bia kỷ niệm việc cải lương ở làng Đăm (TBHNH 2002)
TBHNH2002

VỀ TẤM BIA KỶ NIỆM VIỆC CẢI LƯƠNG Ở LÀNG ĐĂM

LÊ HỒNG LÝ

Viện Nghiên cứu Văn hoá dân gian

          Trong một đợt điền dã năm 2002 vừa qua tại làng Đăm, xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm, Hà Nội chúng tôi đã tìm được nội dung của tấm bia kỷ niệm việc cải lương ở làng. Từ năm 1994, qua nhiều đợt điều tra tại đây chúng tôi đã mang máng nghe đến chuyện tấm bia này, song không sao tìm lại được. Dân làng không còn nhiều người nhớ đến tấm bia đó, song ai còn nhớ được đều có những kỷ niệm sâu sắc. Người già ở trong làng đều kể, trước đây tấm bia cao 1,25m, rộng 0,80m mặt trước viết bằng chữ Hán, mặt sau là chữ Quốc ngữ, các diềm bia đều được trang trí hoa văn rất đẹp. Bia được đặt trong một nhà bia, có mái cong và trạm trổ đẹp. Vị trí nhà bia ở chỗ UBND xã bây giờ ngay đầu làng rất trang trọng. Bia được đặt trên một bệ cao, tôn tấm bia lên rất trang trọng. Các góc của nhà bia đều có đắp những con sư tử và các cột có khắc các câu đối ca ngợi và ghi chép việc của làng.

       Khi thời thế thay đổi bia bị phá huỷ, bị quăng quật về xóm Lẻ, rồi bị ném xuống đầm như nhiều các di tích khác do hoàn cảnh thời bấy giờ. Thời gian sau, vật đổi sao dời, người ta không còn biết số phận của tấm bia ra sao và đến sau này không ai còn biết gì về nó nữa. Người đương thời nhắc đến nó chỉ bằng những kỷ niệm về một thời đã qua của làng Đăm cổ truyền.

       Một sự tình cờ may mắn, tấm bia đã được một người để ý đến. Đó là ông Nguyễn Đăng Tảo năm nay 64 tuổi, khi còn rất trẻ nhưng ông rất hiếu kỳ và yêu quí tấm bia của làng. Trước khi tấm bia bị phá huỷ ông đã kịp chép được nội dung của tấm bia đó. Theo ông cho biết thực ra là ông đã thuộc lòng nội dung tấm bia đó và sau này khi đi bộ đội ông đã sợ quên nên đã chép ra giữ lại. Nội dung tấm bia như sau:

       Làng ta xưa gọi Tây Đàm, nhân kiêng tên là Lê mới cải là Tây Đam, sau lại phạm huý quốc triều nên mới đổi là Tây Tựu. Địa thế của núi Trai hùng vĩ, sông Nhuệ chảy ven làng, nước biếc non xanh, tinh anh tụ hội. Về văn hoá có hai Tiến sĩ họ Nguyễn hàm thụ quốc triều, có hàng cửu phẩm văn giai. Về võ có quan Thái uý mệnh danh hộ quốc công thần triều Lê. Xã có ba thôn nối liền một dải, dân cư đông đúc của trăm vùng. Ơn nhờ quan Hoàng tướng công dân, ta như người đi đêm gặp đuốc sáng, ngài đã đưa người lên Sở Canh nông mang hạt giống về trồng, nghề rau thịnh đạt, ngô Đăm nổi tiếng nhất vùng tỉnh Hà Đông. Năm 1925 ngài trích quĩ công hàng tỉnh 1000 đồng để cho dân ta mở mang trường học. Ngài đã đặt ra lệ tư văn và quan viên hàng xã. Sái lễ công điền để lấy tiền tu tạo bổ ích cho dân. Do vậy, nên năm 1926 làm chùa, 1927 làm miếu, 1928 chữa quán chợ, 1929 làm văn chỉ, lát sân chợ, xây tường hoa, bờ ao trại, 1930 xây cầu Dầm bằng xi măng cốt sắt, 1931 – 1932 lát gạch trên đường làng, 1933 làm nhà tân sinh kiểu mẫu; 1934 sửa chữa xưởng thuyền, xây nhà hậu, sửa sang từ vũ, 1935 tu tạo thuỷ toạ trồng cây hai bên vệ đường; 1936 xây cầu cống và đắp đường khuyến nông. Phong tục có lệ đốt cây pháo cây bông, rước thánh đua thuyền. Có lò vật võ cổ truyền thượng võ lâu năm, làng trên chạ dưới trong ấm ngoài êm. Vì vậy nên quan thiếu bảo Hoàng tướng công ngài đã ban bốn chữ “Mỹ tục khả phong” cho làng ta đó.

       Nay lập bia này trước là để tỏ lòng nhớ ơn quan Hoàng tướng công, âu cũng là để kỷ niệm những việc cải lương cho đời sau vậy.

       Hoàn thành ngày 3 tháng chạp năm Bính Tý tức 15 Janvier 1937.

       Hội đồng bản xã

Thư chỉ hàn lâm

Nguyễn Hữu Thực

Chánh tổng

Nguyễn Hữu Dư

Lý trưởng

Nguyễn Hữu Đạo

Chưởng bạ

Nguyễn Hữu Tuệ

Tả tự hành văn

Đàm xuyên tiên sinh Nguyễn Phan Lãng

Hương sư

Nguyễn Văn Tường

       Xung quanh nội dung tấm bia có một vấn đề mà chúng tôi tìm hiểu được như sau:

       1) Bia đã ghi lại được những sự kiện vô cùng quan trọng và chính xác cái đã diễn ra ở làng Đăm mà kể những người đương thời không phải ai cũng nhớ được. Nó như một cái mốc đánh dấu và khẳng định những chi tiết lịch sử như: việc đổi tên làng hay mốc những sự kiện xảy ra sau đó. Do vậy mà giá trị lịch sử của tấm bia là một tài liệu rất quí giá.

       2) Nội dung tấm bia cho ta thấy vai trò của vị quan tổng đốc Hà Đông Hoàng Trọng Phu đã có công khá lớn đối với các làng trong khu vực cai quản của ông. Cũng có thể vì tấm bia liên quan đến ông mà nó đã bị phá vào thời cải cách ruộng đất và sau đó. Tuy vậy, những việc làm của ông thì khó có thể phủ nhận được.

       3) Xưa kia, như rất nhiều làng khác, làng Đăm là một làng nông nghiệp thuần tuý, hội làng Đăm cũng cũng là một biểu hiện của những nghi lễ nông nghiệp ấy. Nội dung bia đã chỉ cho ta biết nguồn gốc của việc trồng rau quả, và gần đây phát triển thành nghề trồng hoa, mới bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ. Bia ghi: “... Ngài đã đưa người lên Sở Canh nông mang hạt giống về trồng, nghề rau thịnh đạt, ngô Đăm nổi tiếng nhất vùng của tỉnh Hà Đông”. Truyền thống ấy sau đã trở thành một nghề của làng Đăm từ các loại rau gia vị, quả (cà chua, dưa lê) và nó luôn luôn năng động thay đổi theo các nhu cầu của thành phố Hà Nội.

       4) Nội dung tấm bia cũng giải thích được phần nào điều băn khoăn của chúng tôi khi tìm hiểu về lễ hội đua thuyền làng Đăm. Câu hỏi được đặt ra là tại sao một lễ hội đua thuyền làng Đăm lớn như vậy, đã từng nổi tiếng trong nhân gian: “Bơi Đăm, rước Gia, hội Thầy” vậy mà suốt từ đầu thế kỷ đến năm 1939 – 1940 nó mới được tổ chức lại với qui mô và tầm cỡ đúng với nó có. Bởi vì suốt một thời gian dài từ năm 1924 đến năm 1937, tại đây đã liên tục diễn ra những hoạt động xây dựng, tu bổ quan trọng. Những công trình đó đòi hỏi sự tốn kém rất nhiều sức người, sức của và trí tuệ của nhân dân. Do đó khó mà có thể tổ chức một lễ hội có qui mô lớn như lễ hội đua thuyền làng Đăm. Điều đó giải thích vì sao năm 1940 mới có hội làng Đăm và đó cũng là hội làng cuối cùng trước Cách mạng Tháng tám 1945.

       5) Một điều thú vị khác mà qua tìm hiểu nội dung tấm bia chúng tôi thấy được đó là: truyền thống ứng xử của người xưa. Toàn bộ nội dung tấm bia là do vị hương sư Nguyễn Văn Tường quê ở Tiên Lữ, Võ Giàng, Bắc Ninh soạn ra. Tuy nhiên, khi ghi tên vào bia ông đã khéo léo nhường công đó cho Đàm xuyên tiên sinh Nguyễn Phan Lãng như người tả tự hành văn, bởi vì ông không phải là người dân gốc làng Đăm. Việc này tất cả mọi người đều biết khi đó, người ta ghi nhận công lao và tấm lòng của vị hương sư. Đây cũng được coi là một nét đẹp văn hoá trong lề lối ứng xử của người xưa. Vị hương xưa cũng coi như một sự tạ ơn của ông đối với làng đã cho ông hành nghề tại đây.

       Như vậy, bằng một nội dung tấm bia ngắn ngủi nhưng đã ghi lại được rất nhiều thông tin quan trọng cũng như tâm tình của những người lập ra tấm bia này đại diện cho người làng Đăm. Thử đặt vấn đề nếu không có người ghi chép lại được thì nhiều chi tiết chính xác của lịch sử làng Đăm người đời sau không sao biết được. Lời lẽ của nội dung bia đã cho chúng ta thấy không chỉ những sự kiện lịch sử, văn hoá mà còn cả mà tự hào của người dân làng Đăm cũng như tình cảm của họ đối với người có công với làng. Ngày nay nghiên cứu nội dung của tấm bia ấy đã ta có thể nắm bắt được nhiều điều toát lên từ đó.

       Cũng có thể đâu đó trong kho lưu trữ hay trong tay các nhà nghiên cứu, sưu tầm đã có bản dập của nội dung tấm bia này một cách chính xác và đầy đủ hơn. Song với bản chép tay của một người dân bình thường làng Đăm (ông Nguyễn Đăng Tảo) chúng tôi hy vọng về cơ bản nội dung tấm bia đã được lưu giữ lại.

       Vì vậy chúng tôi xin công bố tấm bia này với niềm tri ân người đã lưu giữ được nó và để các bậc thức giả xem xét, bổ sung hay tiếp tục nghiên cứu để đóng góp gìn giữ những giá trị văn hoá của nước nhà.

Thông báo Hán Nôm học 2002, tr.320-324

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hns@vass.gov.vn
Tel: 02438573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm