41. Về lá đơn khiếu nại của dân xã Phú Lâm tổng Hòa Đa, phủ Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên (TBHNH 2004)
VỀ LÁ ĐƠN KHIẾU NẠI CỦA DÂN XÃ PHÚ LÂM TỔNG HÒA ĐA,
PHỦ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
LÊ HỒNG LÝ
Viện Nghiên cứu Văn hóa
Năm 1997 trong đợt khảo sát điền dã tại thị trấn Phú Lâm, nay thuộc thị xã Tuy Hòa tỉnh Phú Yên, chúng tôi đã sưu tầm được một lá đơn bằng chữ Hán của dân làng Phú Lâm khiếu nại lên quan phủ về những sai trái của một vị quan chức địa phương.
Xã Phú Lâm xưa nay là một thị trấn nằm trên đường quốc lộ số 1 nằm cách thị xã Tuy Hòa, thủ phủ của tỉnh Phú Yên 5 km về phía Nam. Những người cung cấp tư liệu cho chúng tôi là ông Huỳnh Đức Sổ, 68 tuổi, Huỳnh Đức Bền (72 tuổi), Luơng Minh Hương (50 tuổi) và ông Trần Công Quý (hơn 40 tuổi). Theo các ông cho biết, Phú Lâm xưa có tên là làng Hoành Lâm (rừng ngang). Nguyên ủy thủy tổ là Huỳnh Đức Chiếu theo Lương Văn Chánh vào lập nghiệp ở đây vốn người huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Khi đó ở đây chưa có tục danh là gì, thấy ven biển rừng cây rậm rạp, đặt là Hoành Lâm (rừng ngang). Làng có địa phận từ cửa sông Đà Rằng (từ phía cửa sông) ra đến cửa Diễn, phía đông giáp Đà Nông sông Hoành Thạch, năm giáp Đông Mỹ, phía tây giáp làng Lỗi Cói, Phú Lễ ngày nay. Hoành Lâm xưa gọi là Ngũ Lâm vì gồm 5 làng Lâm là:
- Thạch Lâm
- Út Lâm (Mậu Lâm cũ)
- Phước Lâm
- Thọ Lâm
- Phú Lâm
Xưa dân Hoành Lâm cai quản tất cả một vùng rộng lớn này không cho dân nơi khác đến đây chặt cây, khai thác. Để bảo vệ những nguồn lợi của mình nên dân 5 làng Lâm (còn gọi là xã) có những tục lệ, những quy định hết sức chặt chẽ. Trong đó có việc quy định những lệ tế tá thổ, tiền hiền, phân định mốc giới... luôn luôn được tiến hành xem xét và giữ gìn hết sức nghiêm ngặt. Trong những dịp làm lễ tá thổ, dân các làng cùng nhau xác định, xây dựng sửa sang lại những cột mốc của họ rành mạch, rõ ràng. Mọi chuyện phát sinh, xâm phạm luôn là việc được xem xét nghiêm túc, vì vậy đã có những cuộc kiện tụng, xích mích lớn khi phần đất của làng bị vi phạm. Điều này đã từng xảy ra giữa làng Phú Lâm và láng giềng của họ.
Trong nội bộ dân làng, việc giữ gìn nền nếp, phong tục cũng được dân làng lưu ý. Những hội hè, nghi lễ trong năm xưa kia được tổ chức đều đặn vì sự đoàn kết và bình an trong làng. Cùng với làng làm lễ tá thổ tạ ơn các vị chủ đất xa xưa từng cư ngụ ở đây và để xác định ranh giới thì các gia đình cũng làm lễ tá thổ của nhà mình. Đồng thời là các nghi lễ nhằm nhớ ơn những vị tiền hiền đầu tiên đến xây dựng cuộc sống ở đây.
Nếu như thủy tổ xưa của cả khu vực Hoành Lâm là Huỳnh Đức Chiếu, thì tiên hiền của Phú Lâm lại là Hoàng Đức Định. Xung quanh vị tiền hiền này đã xảy ra một chuyện là vị chủ làng Nguyễn Dụng vào thời gian đó đã "muốn chiếm đoạt nghiệp cũ của dân, lập nên một hương ước đặt sai vị trí vị tổ của dân là tiền hiền đưa cụ tổ bá là người sau, việc đó làm đảo điên...". Đó là nguyên nhân gây nên việc dân làng làm đơn khiếu nại lên quan trên. Lá đơn ghi ngày 11 tháng 3 năm Duy Tân thứ hai, trước khi được gửi đi có sự xác nhận của các bô lão và chức sắc trong làng.
Vấn đề ở đây là việc xâm phạm tín ngưỡng truyền thống của nhân dân được xem xét và xử lý thế nào giữa dân làng và các chức dịch cùng các cấp thẩm quyền. Đó là bài học đáng xem xét. Dưới đây là toàn văn bản phiên âm, dịch và copy bản gốc của lá đơn. Bản phiên âm và dịch là của cụ Hoàng Nghĩa Chương, cán bộ hưu trí đang sống ở Hà Nội.
Phiên âm:
Tuy Hòa phủ, Hòa Đa tổng, Phú Lâm xã, Hoàng Đức Thân khấu:
Bẩm vì khất phê bằng sự duyên dân xã lòng tiền truy niệm tam nhân công nghiệp đồng ưng trí dân tổ bá Hoàng Đức Định vô tiền hiền, Vũ Văn Luật vi hậu hiền, Nguyễn Tiến Phú vi thổ công đẳng phân kinh. Gia Long niên gian lai tư, xã nội tế lễ tương tuần kính biểu nguyên hữu hương lệ, tự Nguyễn Dụng vô hương chủ dục đoạt dân tiền nghiệp biệt lập hương ước, võng trí ngộ tổ vô tiên hiền, dân tổ bá vô hậu tiền (do hương ước hữu tẩy bổ nhất xứ nhất hành chỉ mạc, không song cước tiền hậu sự thuộc gian tình), thử thứ điên đảo, dân dự xã chức biết kinh do nha phủ tỉnh đường đơn khiến tỉnh nhai ngộ tình tệ đi khoản (do tiền hiền nhất khoản). Nhưng thưa thôi để hầu lục giảo bất tề vị mong cứu xác bất từ, ư khứ niên thập nhất nguyệt nhật giảo Nguyễn Dụng độc tự hướng tỉnh khất bằng thử thứ. Phiên đường Hồ đại nhân đệ cấp thính nhất điện chơ từ lược hành phê hứa (do hiện cưu dân vị thương) tình thậm dư bản. Bản niên tam nguyệt dân phục hướng tình giảo khiếu ngộ giá khoản, thừa thôi lượng tháo cập lý dịch tề đề tương cựu đơn bạc xác cứu quả hệ dân tổ bá vô tiền hiền (di dân tỉ bá Hoàng Đức Định số thực tại, cáo tổ Nguyễn Hiến Phú vi phục hồi), đương đường minh xử ngộ Nguyễn Dụng lý khúc vô khi đối nại y kiệp dĩ phục tình lập hòa hưu từ khuê khát giao khứ, bình bằng từ tỉnh hương ước đẳng bản thi tiêu đản khủng vô bằng tắc ngộ thợ, cường hào để nhân hậu nhật, hoặc hành tái trở vô tòng công, tiệp triếp. Cảm bồ bạc phục khất.
Tỉnh đường đại nhận các hạ tuất cập dân tổ bái văn phê vô bằng, ty dân hồi tường xã nội tuân tuần dĩ môn, thứ tự nhi chức võng tranh. Vạn là tươm khấu bẩm.
Do hữu châu ấn
Thích bằng
Do hiển tiểu triện
Duy Tân nhị niên tam nguyệt thập nhất nhật
Do hữu Châu ấn.
Sao độc Nguyễn Dụng tổng độc tân Lý trưởng Nguyễn Cận
cập Hoàng Thân dự
Hoàng Đình Thân thủ tỷ
Hoàng hưu nhà dĩ thuận tình tương độc Hoàng Thân tổ bá
Hoàng Đức Định
Cư thủ thứ tự dĩ thuận tình đồng định ưng khách bằng chí như tha đặc sô
An tái khiếu sinh phiền
Tô đơn bằng nhân Nguyễn Văn Thành tự kỷ
Thưa sao đơn bằng Lý trưởng Hoàng Lục Hòa ứng
Dịch nghĩa:
Phủ Tuy Hòa, Tổng Hòa Đa, xã Phủ Lâm Hoàng Đức Thân cúi đầu
Bẩm xin được phê sự việc: dân xã theo từ trước theo nhớ 3 người công nghiệp cùng bố trí: Tổ đầu của dân là Hoàng Đức Định là bậc hiền đầu tiên, Vũ Văn Luật là bậc hiền sau đó, Nguyễn Tiến Phú là thổ công tất cả rất rõ. Từ thời Gia Long tới nay dân làng tế lễ tuần tự theo biểu gốc đã có của làng. Từ khi Nguyễn Dụng làm chủ của làng, muốn chiếm đoạt nghiệp cũ trước của dân, lập nên một hương ước đặt sau vị trí vị tổ của dân là tiền hiền, đưa cụ tổ bá làm người sau (vì hương ước có tẩy sửa 1 chỗ 1 hàng giấy mực không ăn khớp trước sau, sự việc gian dối), việc đó làm đảo điên, dân cùng chức sắc của xã biết rõ đến cửa nhà quan tỉnh đưa đơn khiếu nại nói rõ tình tệ sai trái nhiều khoản (trong đó việc tiền hiền là một khoản (điều); mong nhờ được lưu ý ngõ hầu ý đồ gian xảo không rõ nay chưa được cứu xác nhận, chưa được nghiêm cấm. Năm ngoái tháng 11, Nguyễn Dụng tự một mình đến tỉnh xin khất cái bằng chứng thứ hai đó. Quan Bố chính là Hồ đại nhận bằng lòng nghe lời nói một người đó, và phê hứa (do việc nghiên cứu chưa được có thương lượng), tình cảm dân rất dao động. Năm nay vào tháng 3 dân lại tới trình khiếu nại về việc gian giảo đó để thực sự phân xử bên nguyên bên bị (2 phe) cùng các lý dịch (chức sắc trong làng) để đến đưa đơn cả mong được ít nhiều xác cứu hệ quả. Về người tổ bá của dân làm bậc tiền hiền (ý: hiền đầu tiên) (vì tổ bá của dân Hoàng Đức Định là thực tại, các tổ Nguyễn Tiến Phú làm như cũ). Để tỏ rõ là người gian giảo Nguyễn Dụng lý lẽ uẩn khúc không thể đối chiếu được, sự việc trở lại tình cảm lấy lời hòa nhã, oán giận bỏ qua hết, cùng các lời trong hương ước, các bản gốc thu lại đừng làm mất, sợ không bằng cứ thì ắt có lời không thật, ấy là việc các cường hào để lại người sau, dẫu làm trái không theo việc công, rất đội ơn cúi đầu trước nhà quan tỉnh, mong người lớn thường tới người tổ bá của dân mà phê vào văn bằng, để dân về trình rõ trong xã để tuần tự biết rõ mà bỏ việc tranh chấp, muốn nhờ ơn, xin cúi đầu bẩm.
Nghe bằng cứ.
Do có dấu ấn đỏ.
Do có triện nhỏ.
Duy Tân năm thứ hai tháng 3 ngày 11.
Có dấu son đỏ.
Sao đọc Nguyễn Dụng cùng lý trưởng mới Nguyễn Cận và Hoàng Thân cùng dự.
Hoàng Dự Thân kỷ nhang.
Hòa Hữu Nhà đã thuận tình cùng đọc Hoàng thân tổ bá là: Hoàng Đức Định ở đầu thứ tự, cảng thuận tình đều ứng định nghe bằng cứ như trên, được không có khiếu nại lại tính phiền hà.
Viết đơn bằng là Nguyễn Văn Thành ký.
Thông báo Hán Nôm học 2004 (tr.334-338)