VỀ BẢN ĐIỀU LỆ CỦA HỘI TƯ VĂNTHÔN HƯƠNG MẠC, XÃ HƯƠNG MẠC HUYỆN TỪ SƠN,
TỈNH BẮC NINH
HOÀNG THỊ TỐ LOAN
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Hương Mạc trước đây vốn được gọi là Cổ Mặc phường, Cổ Mặc là vùng đất nổi tiếng của xứ Giang Bắc thuộc huyện Đông Ngàn. Theo lời tựa của Nguyễn Giản Cát viết trong sách Cổ Mặc danh công truyện kí diễn âm, hiện đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm mang ký hiệu AB.554 thì Cổ Mặc là một phường thuộc ngoại vi thành Cổ Loa thời An Dương Vương. Đến đời Trần, Cổ Mặc lại chia làm 2 xã, 6 thôn Ngô Trực, Ngô Tiền, Đông Tiến, Tây Ứng, Bảo Tháp, Thọ Triền hợp lại thành xã Hương Mặc. Theo sách Đại Việt sử kí toàn thư và sách Đại Nam nhất thống chí thì Hương Mạc nguyên trước đây nằm trong đất của châu Cổ Lãm, đến thời Lê Đại Hành đổi là châu Cổ Pháp, thời Lý Trần thuộc phủ Thiên Đức, lộ Bắc Giang, đến cuối thời Lê và thời Nguyễn thì Hương Mạc thuộc tổng Nghĩa Lập huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn trấn Kinh Bắc (trấn Kinh Bắc là một trong tứ trấn phên dậu của kinh thành Thăng Long gồm; Kinh Bắc, Sơn Nam, Xứ Đông và Xứ Đoài).
Trấn Kinh Bắc là một cái nôi văn hiến rực rỡ nhất của nền văn minh Đại Việt. Nét đặc sắc của nền văn hiến Kinh Bắc được thể hiện qua truyền thống hiếu học và khoa cử. Làng xã Hương Mạc nằm trong vùng Kinh Bắc ấy cũng mang đủ sắc thái truyền thống cao đẹp và quý báu đó.
Về truyền thống văn hiến của đất Kinh Bắc nói chung và làng xã Hương Mạc nói riêng. Theo văn bia ở Văn miếu Quốc tử giám, Văn miếu Bắc Ninh và theo sách Cổ Mặc danh công truyện kí của làng Hương Mạc soạn năm Chính Hòa thứ 2 (1861) cho biết: Bắc Ninh là nơi cung cấp hơn 600 vị đại khoa trong tổng số gần 3000 vị của cả nước, là nơi sản sinh ra những vị khoa thứ tài ba đầu tiên trong nước: đó là Trạng nguyên Lê Văn Thịnh ở Gia Lương tỉnh Hà Bắc (nay là Bắc Ninh) đỗ khoa thi đầu tiên của nước ta vào năm 1075. Vùng đất Cổ Mặc xưa (tức thôn xã Hương Mạc ngày nay) là nơi có truyền thống hiếu học tiêu biểu của tỉnh Bắc Ninh, có nhiều danh nhân khoa bảng nổi tiếng, có số người đỗ đạt cao đứng đầu huyện Đông Ngàn (nay là huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Theo cuốn Cổ Mặc danh công truyện kí thì Hương Mạc có 22 vị đỗ đại khoa(1). Như vậy Hương Mạc chiếm một phần không nhỏ trong số ấy. Đặc biệt trong số những vị đỗ đại khoa của vùng Kinh Bắc nói chung và xã Hương Mạc nói riêng có nhiều vị rất tài hoa như Trạng nguyên Nguyễn Giản Thanh, rồi còn có anh em, cha con cùng thi đỗ Tiến sĩ và làm quan một triều như anh em ông Đàm Thận Huy, Đàm Thận Giản; cha con Quách Đồng Dần, Quách Đồng Đức và nhiều người khác từng nắm giữ nhiều chức vụ cao trong các triều đại như: Thượng thư, Thị lang, Tham tụng... Chính vì vậy mà ta càng hiểu rõ thêm tại sao khi nhắc đến danh nhân xứ Kinh Bắc dân ta từ xưa đã có câu ca dao “Một giỏ ông Đồ, một bồ ông Cống, một đống ông Nghè, một bè Tiến sĩ, một bị Trạng nguyên, một thuyền Bảng nhãn” và câu “Dốt Đông Ngàn bằng ngoan thiên hạ”.
Là một làng xã có truyền thống hiếu học và khoa cử lâu đời nên hội Tư văn ở trong làng cũng ra đời từ rất sớm. Hội Tư văn này ra đời để lo mọi hoạt động về khuyến học, tế lễ thờ thần ở đình, soạn thảo hương ước của làng...
Để giúp bản đọc có tư liệu tìm hiểu thêm về hội Tư văn làng Hương Mạc danh tiếng này chúng tôi xin giới thiệu các điều lệ quy định của hội Tư văn trong làng. Những điều ước của văn hội được ghi ở tờ 30a - 33b trong cuốn Cổ Mặc danh công truyện kí hiện đang lưu giữ tại đền Tiết Nghĩa (tức đền thờ Đàm Thận Huy) thôn Hương Mạc xã Hương Mặc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh như sau:
Điều 1: Tế lễ trọng xuân (tế lễ vào tháng 2) thì lấy sau ngày Đinh một ngày làm kì hạn, phàm là những người ở trong hội Tư văn thì ăn mặc mũ áo chỉnh tề cùng nhau ứng tế, không được trì hoãn hay vắng mặt. Nếu (có) người nào vắng mặt thì người ấy phải nộp một phong trầu cau. Duy chỉ người nào đang làm việc ở nha môn và người nào có trọng tang trong vòng 3 năm thì đều được miễn.
Điều 2: Đầu của con vật ứng tế thì để đem biếu các quan trong triều, nếu có một quan thì biếu một suất, nếu 2, 3 thì phải biếu 2, 3 suất, nhiều hơn nữa thì cũng làm như vậy, còn nếu không có quan trong triều thì lúc ứng tế nhất loạt chia đều cho những người có mặt tại đó.
Điều 3: Thịt và nội tạng của con vật cúng tế thì chia đều. Mỗi người một phần. Duy chỉ quan trong triều mỗi người hai phần, ông Câu đương “chủ tế” thì được thêm một phần, tất cả đám phục dịch cộng lại được một phần.
Điều 4: Ông Câu đương lo việc tế tự nhận các thửa ruộng của văn hội để canh tác, đến kì xuân tế năm sau sửa soạn một mâm xôi đầy 12 đấu gạo, tế xong chia đều cho những người ở đó, mỗi người một phần. Duy chỉ triều quan mỗi người 2 phần, Câu đương đặc biệt được thêm một phần, tất cả đám phục dịch cộng lại được một phần.
Điều 5: Ruộng của văn hội phàm có mấy thửa, thì phải phân biệt thửa ruộng tốt, xấu mà định hạn thu nộp cho việc tế tự, hoặc giả gặp năm mất mùa, thì việc thu ấy cũng tùy thuộc vào thửa ruộng ấy mà định lượng giảm bớt cho chủ ruộng.
Điều 6: Quan triều nếu ai cúng ruộng cho văn hội thì đều nhận, nhưng không phải quan triều thì nếu có muốn cúng cũng không được.
Điều 7: Phàm trong hội có yến tiệc thì quan triều được đặc biệt ngồi một chiếu riêng, lấy khoa thứ mà ngồi sau trước, ngoài ra đều không được ép, người giầu sang cũng không ép làm trưởng. Đại khái xếp thứ tự theo tuổi tác. Duy chỉ những người đồng niên thì lấy khoa thứ xếp trước sau, đồng tuổi mà cùng khoa thì phải kể đến ngày tháng năm sinh làm trước sau, cùng tháng cùng ngày thì lấy độ cao thấp mà xếp trước sau.
Điều 8: Nếu không đỗ đạt thì không được tham dự vào hội Tư văn, người nào có quan chức nếu muốn xin vào hội Tư văn, thì những người ở trong hội Tư văn ấy cùng chấp thuận mà không có lời đàm tiếu (dị nghị) nào thì mới được.
Điều 9: Phàm những người dự thi đỗ Tiến sĩ và Đồng Tiến sĩ thì (đều) như nhau là đều phải yết tiên hiền 1 con bò, 1 bình rượu phỏng chừng khoảng 10 quan sử tiền, một mâm xôi 10 đấu. Đầu con bò ấy thì đem biếu triều quan, quan cũ quan mới đều nhất loạt như nhau. Còn nếu không có quan cũ thì biếu tất cho quan mới. Thịt, nội tạng của con bò đó và xôi thì chia làm ba phần. Một phần chia ra cho những người có mặt cùng ăn uống tại chỗ, hai phần còn lại thì chia hết mỗi người một phần, duy chỉ quan triều thì mỗi viên quan được hai phần, quan mới quan cũ đều như nhau, đám phục dịch cộng lại được một phần.
Điều 10: Vị nào thi Hương đỗ Tứ trường và vị nào một lần đỗ Giải nguyên thi Hương, thì phải nạp yết lễ sử tiền 1 quan, cùng trầu cau một phong...
Điều 11: Vị nào thi Hương trúng Tam trường thì phải nộp yết lễ tiền sử tiền 5 mạch, cúng trầu cau 1 phong... nhập vào hội Tư văn thì nộp sử tiền 2 quan, rượu thịt tùy hoàn cảnh gia đình mà định kiệm, cứ 4 người một bàn chỉ duy quan triều 2 người một bàn. Đặc biệt nếu có người nào yết lễ 1 mâm xôi, 1 con gà thì chia đều hết, mỗi người một phần duy quan triều mỗi người 2 phần. Những người trong văn hội mỗi người sử tiền 15 văn, một phong trầu cau để làm hạ lễ.
Điều 12: Trong hội Tư văn nếu có người nào chẳng may qua đời, thì những người còn lại mỗi người phải nộp sử tiền 15 văn và một phong trầu cau để làm phụ lễ. Còn việc tiếp đãi thì tùy thuộc điều kiện nhà đó giầu hay nghèo.
Điều 13: Quyển Danh công truyện kí và Văn hội tập kí thì viên luân phiên gìn giữ, phàm những người ở trong văn hội làm Câu đương năm nào thì giữ năm ấy, nếu không cẩn thận mà để thất lạc, nếu thất lạc mất quyển “truyện kí” thì phạt 1 con lợn, 1 bình rượu, 1 phong trầu cau, và cổ tiền 1 quan. Còn quyển “tập kí” thì phạt cổ tiền 3 mạch (như vậy) để tỏ ý không thể không cẩn thận được. Chỉ những điều mà phát sinh ngoài ý muốn như nước lửa trộm cắp thì tha miễn cho.
Điều 14: Quyển Truyện kí và quyển Tập kí đã trải qua nhiều năm, nên giấy đã bị rách nát (mối mọt) thì những ông ở trong văn hội nên mua những giấy tốt, chọn người viết chữ đẹp, chép sửa lại.
Điều 15: Quyển Truyện kí và quyển Tập kí nếu do một người giữ, thì chưa chắc đã đảm bảo là không mất, cho nên những cái gì có liên quan đến tư văn thì mỗi người nên chép ra một bản giữ làm của riêng, đề phòng nếu thất lạc hoặc bị mất thì người kia còn, như thế thì sẽ lưu truyền được mãi mãi mà không bao giờ mai một được.
Trên đây là một văn bản điều lệ của Hội Tư văn của một làng. Chúng tôi mong muốn giới thiệu để bạn đọc tham khảo.
Chú thích:
Thông báo Hán Nôm học 2005 (tr.401-406)