47. Bia chùa Tam Bảo (TBHNH 1996)
BIA CHÙA TAM BẢO
NGUYỄN QUANG TRUNG - NGUYỄN HỮU TÂM
Viện Sử học
Bia được tạo bằng đá xanh đặt trên lưng rùa, cao 1,25m, rộng 0,78m, trán bia cao 0,25m có trang trí hoa văn hình mặt trời, tia lửa, 2 rồng chầu hai bên, có mây xoắn, túm lửa, 4 chữ Tam bảo tự bi được lồng trong 4 khuôn lá đề cách điệu, lòng bia có kích thước 0,98m x 0,70m. Cả 2 mặt bia đều có chữ mỗi mặt 35 dòng, bình quân 55 chữ/dòng, chức khắc sâu, đẹp. Riềm bia trang trí cúc dây, riềm chân bia trang trí sóng nước cách điệu. Bia không ghi tên người soạn văn bia, nhưng qua nội dung có thể đoán được người soạn là một vị văn quan có đỗ đạt và am hiểu về lịch sử ở địa phương. Bia có niên đại năm thứ 3 niên hiệu Đức Long (1631)(1).
Nọi dung văn bia (mặt một) không những thể hiện sự quan tâm đặc biệt của nhà nước đối voíư việc trùng tu và bảo vệ chùa Tam Bảo, qui mô, vị thế của ngôi chùa mà còn cho thấy những quan điểm chính trị của nhà nước Lê Trịnh khẳng định: “cái gốc của chính sự quốc gia là ở ruộng đất”… Ruộng đất là điều thứ nhất của Tam Bảo…(1) làm rõ vị trí địa lý lịch sử của châu Tam Bảo (Tam Bảo, Vạn Bảo Bảo Xuyên) thuộc huyện Từ Liêm xứ Sơn Tây từ đời Hồng Đức thứ 18 (1487) đến Đức Long 3 (1631) và đặc biệt là những vấn đề về ruộng đất và việc miễn thuế đối với ruộng đất cho nhân dân ở châu Tam Bảo, để tu bổ gìn giữ ngôi chùa. Tấm bia đã cung cấp tư liệu lịch sử gốc quý hiếm cho việc nghiên cứu về thể chế nhà nước và pháp luật ở thế kỷ 16 và 17. Qua đó giúp ích cho việc nghiên cứu lịch sử Hà Nội và quy hoạch của thủ đô Hà Nội hiện nay.
Mặt hai, nội dung văn bia thể hiện danh sách 502 người đã được đưa vào “Đài hưng công” gồm có dân bản Châu (Tam Bảo, Vạn Bảo, Bảo Xuyên) các quan lại trong vương phủ thời Lê Trịnh, cùng vợ con và khách thập phương đã góp phần công đức tu bổ chùa Tam Bảo.
Để tiện tham khảo chúng tôi xin phép trình bày phần dịch nghĩa, phần chính nội dung tấm bia.
Dịch nghĩa:
BIA CHÙA TAM BẢO
Bài minh và tựa của tấm bia châu thổ chùa Tam BẢo.
Cẩn án: Cái gốc của chính sự quốc gia ở ruộng đất. Ruộng tế làm dầy dặn thêm chính sự của bậc quân tử. Ruộng đất là điều thứ nhất của Tam bảo(3), dùng để cung tiến nhà Phật. Trộm xem: chùa Tam Bảo thuộc ấp phía tây huyện Từ Liêm thực là nơi danh lam thắng địa, (nằm tròng vùng) có núi cao sông rộng. Về phía đông được nhiều nhánh của sông Đức Giang đổ về; phía tây của ấp (này) phù sa bồi đắp ngàn năm vững chãi. Phía sau (chùa) dòng Lô giang chảy cuồn cuộn, bãi rộng mà bằng phẳng đất cao mà thoáng đãng. (Trong chùa) có điện thờ Phật, có tòa thiêu hương, thượng điện nguy nga, hành lang uốn lượn. Sớm sớm đài cao tỏa ánh sáng đến tận trời; khuôn viên (chùa) đẹp đẽ, quy mô to lớn, sân chùa rộng rãi, của chùa luôn mở, muôn hoa đua nở tựa trời xanh. Ấy trông như vườn trúc, tĩnh tọa ngoài trần gian, trong rừng công đức lớn lao thầm nhuần niềm vui, cầu chúc cho quốc gia những điều phúc sẽ đến, trong nước luôn được mùa, thái bình thịnh trị, cầu chúc cho dân chúng điều phúc sẽ đến với mọi nhà, người người trung tín, dân đến cõi thọ vực. Dòng sông (chở nặng phù sa) bồi đắp thêm cho châu thổ. Trong vườn chùa hoa lá nở rộ. Thật là cõi Phật đệ nhất, là nơi phúc lành trong cõi trời Phật.
Xưa kia vào ngày 14 tháng hai năm Hồng Đưc thứ 18 (1487) triều Lê của nước Việt ta (các vị) Triều liệt đại phu Hộ khoa đô cấp sự Nguyễn Thanh Lương; Hiển cung đại phu Hộ khoa cấp sự trung là Nguyễn Úc đã sao ra một bản, Tư lễ giám Tổng thái giám tham tri Giám sự Phúc Dương Bá Nguyễn Tử Lan cũng truyền ra một bản (nay đã) mất, các châu Tam Bảo, Vạn Bảo, Bảo Xuyên thuộc huyện Từ Liêm của xứ Sơn Tây phía đông gần với phía dưới của Tây Kiều, phía tây gần với Phú Gia, phía nam gần với Yên Hoa, phía bắc gần với ruộng vườn. Dân sống ở giữa dòng sông cho nên không có ruộng lúa, lấy việc trồng dâu làm nghề chính. Nguyên đất bãi của Tam Bảo là để cúng Phật, sau này bị hủy đi và cấp cho mọi người, trên từ quan viên dưới đến dân làng cùng vợ con ba sào thổ trạch, chuẩn cấp cho chùa Tam Bảo, lấy ruộng đất của Tam Bảo để thờ Phật và không phải chịu thuế ngạch. Thôn trưởng của bản châu đó đã trình bầy đủ cho bản chức tại xứ. Sơn Tây tán trị Thừa tuyên xứ ty, Thừa tuyên xứ Trung Trinh đại phu Khuông Mỹ bá Thiếu doãn Quách Đình Bảo; Sơn Tây xứ Thanh hình Hiến sát sứ ty Dương Văn Dán giao cho Tri huyện Phạm Như Trung, Tri huyện Lại Kim Bảng với các quan cùng nhau sát khám, quả thật thấy Tam Bảo không phải chịu thuế ruộng đất nhưng vẫn phải (sửa sang) đo đạc ruộng vườn nạp vào các nha môn Nam quân Đô đốc phủ chưởng phủ sự kiêm Tôn nhân lệnh Thái bảo Bình Lạc bá Trịnh Duy Hiếu. Giả sử theo như trước, các hạng đất bãi cùng với số lượng sào, thước tấc của Tam Bảo, phải tâu lên đầy đủ và xin tự bảo tiền (lập một bản mới) để các quan trong triều bàn bạc theo đó mà phụng sự. Vua ban sắc chỉ. Trịnh Duy Hiếu bàn nghị (cho phép) cho phép cho châu Tam Bảo, Vạn Bảo, Bảo Xuyên của huyện Từ Liêm vốn là vùng đất bãi (nên) cứ chiếu theo như trước mà tự xử lý trong phạm vi xứ mình, tuân theo chỉ này mà thừa hành, theo lệ cũ của các triều trước mà dâng cúng. Đô nguyên soái Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An vương (Trịnh Tùng) vào năm Quý Mão đã xem xét tờ bẩm của các văn quan trong triều là Giám sát ngự sử đạo Hải Dương Nguyễn Chính, vào năm Đinh Mùi Thiếu bảo Đăng quận công, vào năm Đinh Mão vương phủ nội giám Nhuệ Long hầu; năm Canh Ngọ viên quan được mời đến là Phái quận công phụng sai nội giám Quảng Lương hầu; năm Tân Mùi nội giám Dương Nghĩa hầu cùng với các quan trong nha môn đã về bản châu sát khám thuế lệ về đời trước và đã đưa ra được bằng cứ nghĩa là vẫn dùng đất Tam Bảo để cúng Phật mà (đất ấy) không phải chịu lệ thuế. May gặp Đại nguyên soái Tổng quốc chính sư phụ Thanh Vương (Trịnh Tráng) với lòng nhân hậu đã lấy tiền của (riêng) ra trợ cấp, lại nhờ lòng thiện duyên rộng rãi (của Thanh Vương) (thấy) công đức này chẳng những làm đầy thêm điều thiện cho gia tư mà (điều thiện) còn được lưu hành trong nước, bèn xuất năm quan tiền trong kho nhà nước để cung tiến và đón Phật đến trai đàn tụng kinh, lại cúng vào bản chùa một chiếc rương Tam Bảo ghi lại công đức cẩn thận thờ Phật vậy. Điều đó để thân thể khỏe mạnh vận nước được bền lâu và làm tấm gương lớn cho đời sau. Hậu thế chẳng nhẽ không vì công đức này mà lưu truyền mãi ư? Nay các châu Tam Bảo, Vạn Bảo, Bảo Xuyên vẫn theo các ãi bồi cũ như trước, chuẩn làm đất Tam bảo của bản chùa để tiện việc trùng tu cúng Phật khói hưoơg, kính chúc Hoàng thượng muôn muôn tuổi. Quan viên thôn trưởng của bản châu tai nghe không bừng mắt thấy, chiếu lệnh chẳng hơn lệ làng, bèn khắc bia đá để lưu truyền hậu thế. Nhân duyên như thế, công đức như thế chẳng thể đo được, vì vậy (Thần Phật) âm phù cho cơ đồ nhà vua được củng cố, vận nước được vững bền. Mong muốn đời bản chùa được trường cửu, chẳng những ban phúc cho quân vương mà hơn nữa điều phúc (ấy) còn kịp đến với dân chúng; cho nên dân vui vẻ yên bình nhân tài nảy nở. Người theo nghề văn được nêu tên trên bảng rồng để truyền nối, hun đúc được nhân tài, văn chương rờ rỡ. Kẻ theo nghiệp võ thì rạng danh cửa hổ, giữ thế “can thành”; những người tâm phúc đời đời được ở ngôi khang tướng. Dân chúng yên vui nghề nghiệp si nông công cổ; nhà nhà chung vui sản nghiệp tích đầy; người người (theo lễ) được giáo hóa, nếp phú quý dồi dào, tình nhân hậu trong xóm làng trở thành mỹ tục, con người (được coi) là vốn quý. (Trong làng xóm) dê bò béo tốt, tằm tang nảy nở; (mọi người) cùng nhau đến bờ giác ngộ, đến cõi trường thọ. Nay nhân các quan viên của bản chân có lời nhờ ta làm bài minh và bài tựa. Ôi! Để truyền mãi, ta không dám vì cái vụng về của tuổi già mà từ chối việc thiện vốn là niềm vui của người quân tử, bèn soạn bài minh (khắc) vào đá để lưu truyền mãi mãi.
Bài minh rằng:
Từ Liêm thắng địa
Chùa quý linh thiêng
Ngọn nhân sừng sững
Dòng trí uốn quanh
Muôn phần may mắn
Rực rỡ cung thiền
Hành lang hai phía
Tường gạch quây bên.
Phù sa ôm “ấp”.
Bãi quý nằm trong
Triều đình bàn nghị
Thánh đức cao vời.
Cấp cho đất bồi.
Phụng thờ vương thất
Phúc để đời sau
Ơn tới muôn dân.
Miễn trừ tô thuế
Chia theo khẩu phần
Người người ơn huệ
Mỹ tục thuần phong
Dân yên vật thịnh
Thánh thọ vô cùng
Tạo lập bia đá
Muôn đời sáng trong
Phúc đẳng hà sa
Trời đất trường tồn
Ngày lành tháng 11 nhuận năm thứ 3 niên hiệu Đức Long (1631).
1. Tam Bảo: Tức Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo.
Thông báo Hán Nôm học 1996 ( tr.426-432 )