VI | EN
48.Vể các ông Nghè soạn văn bia Kinh Bắc thời Lê (TBHNH1995)
TBHN1995

VỀ CÁC ÔNG NGHÈ SOẠN VĂN BIA KINH BẮC THỜI LÊ

THÙY VINH

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Khi tiến hành nghiên cứu văn bia vùng Kinh Bắc thời Lê, chúng tôi gặp rất nhiều bia do các cây bút đại khoa soạn. Để tìm hiểu giá trị của nguồn tư liệu khắc trên đá này, thì việc nghiên cứu trên cơ sở thống kê, định lượng các tác giả tham gia soạn văn bia là điều rất cần thiết.Qua đó hiểu được hệ tư tưởng của tác giả qua tác phẩm của họ. Có nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội tham gia vào việc biên soạn văn bia cho Kinh Bắc: Từ các vị Tiến sĩ đến Cống sinh, Sinh đồ; Từ các quan Thượng thư đến các Thôn trưởng, Xã trưởng. Từ các ông Tham chính sứ, Hiến sát sứ, Tri phủ, Tri huyện phụng mệnh vua hành đạo, chăn dan đến các nhà sư đã lui về sống cảnh thanh tịnh ở các ngoi chùa làng...v.v. Tất cả các giai tầng xã hội khác nhau của thời Lê, mà chủ yếu là thời Lê - Trịnh, dù ít, dù nhiều, lúc đậm, lúc nhạt, đã để lại tên tuổi trên bia đá vùng Kinh Bắc xưa.

Trong bài viết này, chúng tôi chỉ xin trình bày về cá vị Tiến sĩ đã biên soạn văn bia thời Lê (từ Hồng Đức(1470 - 1479) đến Cảnh Hưng (1740 - 1787) trong vòng 300 năm).

Số văn bia mà chúng tôi khảo sát, chủ yếu dựa vào kho thác bản văn bia lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán - Nôm, ngoài ra có bổ sung thêm một số thác bản khác - do các đợ sưu tầm những năm gần đây của phòng Văn tịch, Viên Nghiên cứu Hán - Nôm. Tất cả số văn bia do chúng tôi khảo sát là 996 bản, trong đó, số có ghi người soạn là 439, chiếm tỷ lệ 44,1 %. Trong số 439 bản này, số bia do các Tiến sĩ soạn cũng chỉ gồm 191 văn bia, chiếm tỷ lệ 19 %.

Trong các soạn giả ở 191 bia này, gồm có:

3 Trạng nguyên (Lương Thế Vinh, Nguyễn Đăng Đạo, Trịnh Tuệ); 7 Thám hoa (Vũ Thạnh, Quách Giai, Phạm Khiêm Ích, Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Văn Thực, Nguyễn Thọ Xuân, Nguyễn Tinh Am); 6 Hoàng giáp (Ngô Thì Sĩ, Dương Cảo, Nguyễn Duy Thì, Vũ Diệm, Nguyễn Viết Thứ, Nguyễn Trác Luân) và 135 Đồng tiến sĩ.

Tổng cộng là 151 vị / 191 bia.

Đa số các Tiến sĩ chie soạn 1 bia, nhưng có một số người đã soạn 2 - 3 bia, thậm chí 7 bia. Đặc biệt như Thám hoa Phạm Khiêm Ích người xã Kim Sơn huyện Gia Lâm, đỗ khoa Canh Dần Vĩnh Thịnh 6 (1710) giữ chức Tả thị lang bộ Lại, Thượng thư bộ Hình tước Thuật quận công. Ông đã soạn 7 bia cho các làng, xã khác nhau của các huyện:

- Soạn cho xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn 2 bia vào năm Long Đức 3.

- Soạn cho xã Cự Linh huyện Gia Lâm 1 bia vào năm Vĩnh Hựu 4.

- Soạn cho xã Bảo Triện huyện Gia Định 1 bia vào năm Long Đức 3.

- Soạn cho xã Nhân Hữu huyện Hiệp Hòa và cho xã Đức Thắng huyện Hiệp Hòa, mỗi xã 1 bia vào các năm Vĩnh Thịnh 3, Vĩnh Khánh 1.

Thám hoa Nguyễn Văn Thưc, người xã Đại Bái huyện Gia Định soạn 6 bia vào các năm Vạn Khánh (1662) Cảnh trị 1 (1663) Vĩnh Trị 5 (1674) Chính Hòa 7, 10, 13 (1686, 1689, 1692) cho các xã: Dũng Liệt huyện Yên Phong, xã Đại Bái huyện Gia Định, xã Phú Đồ huyện Gia Định, xã Đổng Lâm huyện Gia Định. Hoàng giáp Ngô Thì Sĩ cũng soạn 5 bia vào các năm Cảnh Hưng 28, 30, 34, 36, 40 (1767, 1769, 1773, 1775, 1779) cho các xã Yên Thường, Tiên Hội huyện Đông Ngàn, Thiểm Xuyên huyện Yên Phong, xã Đạo Tú huyện Siêu Loại... Còn có thể kể đến Thám hoa Vũ Thạnh soạn 5 bia, Tiến sĩ Hồ Sĩ Dương soạn 4 bia, Tiến sĩ Phạm Văn Đạt soạn 4 bia, Tiến sĩ Đặng Đình Tướng soạn 3 bia, Tiến sĩ Nhữ Đình Toản soạn 3 bia... Lại có thể gặp ở đây cả hai anh em cùng đỗ Tiến sĩ, cùng soạn văn bia như: Tiến sĩ Nguyễn Mậu Thịnh là em của Tiến sĩ Nguyễn Khiêm Ích (hoặc Phạm Khiêm Ích) soạn bia cho các xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn năm Vĩnh Thịnh 15.

Một số Tiến sĩ khác lại kết hợp với nhau thành một cặp: soạn giả và hiệu đính, như: bia đình xã Cẩm Xuyên huyện Hiệp Hòa tạo năm Vĩnh Thịnh 3 (1707) do một nhóm soạn giả: Tiến sĩ Phạm Quang Dung, Giám sát Ngự sử và Tiến sĩ Đặng Công Diễn soạn. Thám hoa Phạm Khiêm Ích nhuận sắc. Hoặc bia từ đường họ Giáp xã Xuyết Dương huyện Yên Dũng do họ Phạm hiệu Chuyết Phủ, tước Thuật Phương hầu, chức Bồi tụng (tức Thám hoa Phạm Khiêm Ích) soạn. Thám hoa họ Nguyễn hiệu Tịnh Hạng, đỗ khoa Canh Thìn Chính Hòa 21 (1700) chức Hộ bộ Thượng thư, tước Sóc Quận công và Tiến sĩ họ Lê, đỗ khoa Giáp Tuất Chính Hòa 15 (1694) chức Binh bộ Thượng thư, tước Điệp quận công nhuận sắc. Bia này được tạo năm Bảo Thái 5 (1724). Bia sinh từ họ Hoàng ở xã Phụng Công huyện Yên Dũng tạo năm Cảnh Hưng 23 do Tiến sĩ Nhữ Đình Toản đỗ khoa Bính Thìn (1736) giữ chức Đồng dự Chính vụ quyền phủ sự Hữu hiệu điểm soạn. Tiến sĩ Nguyễn Nghiễm đỗ khoa Tân Hợi (1731) giữ chức Nhập thị Tham tụng Công bộ Thượng thư kiêm Quốc tử giám Tế tửu, tước Xuân Linh hầu nhuận sắc.

Như vậy, có thể thấy nhóm soạn giả - hiệu đính văn bia thường phân cấp như sau: Người soạn văn bia là người đỗ sau gữ chức vụ cũng thấp hơn, tước nhỏ hơn so với người hiệu đính. Chẳng hạn, người soạn tước hầu, thì người hệu đính tước công - tước cao nhất. Bia từ đường họ giáp xã Xuyết Dương huyện Yên Dũng lại do hai Quận công, hai Thượng thư của hai bộ rất quan trọng là bộ Binh và bộ Hình cùng tham gia hiệu đính, đủ thấy văn bia được người đương thời coi trọng tới mức độ nào. Một chữ trên bia là để lại dấu tích của từng cá nhân, dấu ấn của một thời đại. Ý thức trách nhiệm về những điều họ viết ra càng cao thì càng cần có thêm người đọc duyệt, sửa chữa cẩn thận. Tất nhiên, không phải bia nào cũng có người soạn, người nhuận sắc. Chỉ có vài chục bia, chủ yếu là bia ở các từ đường, từ chỉ của những quan chức cao cấp, hoặc bia về sự đóng góp của các quan chức cao cấp cho các đình, chùa...

Việc mời các Tiến sĩ, Thám hoa, Trạng nguyên về soạn văn bia không phải là việc làng nào của xứ Kinh Bắc cũng làm được mà việc đó còn tùy thuộc vào mối quan hệ của từng làng với các quan chức nói chung, các nhà khoa bảng nói riêng. Trong số 322 làng xã có bia thời Lê của xứ Kinh Bắc mà chúng tôi đã khảo sát, thì chỉ cõấp xỉ 1/3 số làng xã có bia do các ông Nghè soạn. Xã Đại Bái huyện Gia Định có 6 bia, xã Phú Thị, xã Gia Thị huyện Gia Lâm, xã Trung Màu huyện Tiên Du đều có 5 bia, xã Thổ Hà huyện Yên Việt, xã Vân Cốc huyện Yên Dũng có 4 bia...v.v.

Vậy thời kỳ nào trong suốt khoảng thời gian 300 năm từ thời Hồng Đức - Lê Thánh Tông đến thời Cảnh Hưng - Lê Hiển Tông, văn bia Kinh Bắc được các ông nghè về soạn nhiều nhât? Phải chăng là thời Hồng Đức, khi mà Nho giáo ở Việt Nam đã phát triển đến độ cức thịnh? Khi đó, các nhà Nha, tiêu biểu là những người đã đỗ đạt qua các kù thi tuyển nhân tài của quốc gia, luôn ôm ấp một hoài bão lớn về cải cách xã hội theo quy phạm của Nho gia. Song thực tế theo điều tra, nghiên cứu của chúng tôi , thì thời Lê sơ nói chung Hồng Đức nói riêng ở Kinh Bắc rất ít bia, chỉ có thể đếm trên đàu ngon tay, số bia do tiến sĩ soạn lại càng ít ỏi. Chỉ có 2 bia. Một do Trạng nguyên Lương Thế Vinh soạn năm Hồng Đức 15 (1484) cho bia mộ họ Nguyễn thôn Kim Đôi xã Vũ Ninh (nay là xã Kim Chân huyện Quế Võ), một do Tiến sĩ Nguyễn Đình Tuấn, Hàn lâm viện Hiệu lý Đông các thị thư soạn năm Hồng Đức 18(1486)cho đền Trăn Tân xã Phúc Thọ huyện Lang Tài. Niên hiệu Quang Hưng Lê Thế Tông có 1 bia. Còn lại đều tập trung ở giai đoạn giữa Lê Trung Hưng (1533 - 1788) thế kỷ 17,18. Nhiều nhất là thời chính Hòa - Lê Hy Tông (1680 - 1705). Trong vòng 25 năm của niên hiệu này, có đến 49 Tiến sĩ ở khắp nơi về biên soạn bia cho Kinh Bắc ở cả 4 phủ. Có thể ói vào thời Chính Hòa là thời kỳ "bột phát" đột xuất của sự xuất hiện văn bia. Tiếp đến là thời Vĩnh Thịnh (1705 - 1719), 14 năm, có 17 bia do các Tiến sĩ soạn; thời Cảnh Hưng từ (1740 - 1786), 47 năm, chỉ có 33 bia... Số Tiến sĩ soạn bia vào giai đoạn chính Hòa chiếm tỷ lệ 25 % so với cả khoảng thời gian dài 300 văm của toàn bộ văn bia Kinh Bắc. Điều đó nói lên: ở giai đoạn này các cộng động làng xã với tiềm năng kinh tế cao và với yêu cầu phát triển văn hóa, thu hút được các vị đại khoa về làng, giúp các làng ghi tạc lại những nếp sống, nếp nghĩ của người đương thời trên bia đá để truyền lại cho đời sau.

Mặt khác cũng qua đây cho chúng ta thấy rằng: mối quan hệ giữa các quan chức cao cấp của Nhà nước phong kiến bấy giờ với các làng xã nông thon không phải là ngăn cách khó vượt qua, mà có phần gần gũi, chứ không phải cách biệt như chúng ta vẫn thường hiểu. Bởi, nếu có sự cách biệt thoát khỏi nông thôn, thì làm sao có tới 151 các nhà khoa bảng trong đó có: 13 Thượng thư, 19 Tả thị lang, Hữu thị lang ở các bộ, 9 Giám sát ngự sử, 5 Đô ngự sử, 3 Quốc tử giám Tư nghiệp, 3 Quốc tử giám Tế tửu, 11 người giữ các chức khác nhau trong Viện Hàn lâm, 9 người là Bồi tụng, Tham tụng ở các bộ, Ngự sử đài... lại về với các làng quê của xứ Kinh Bắc để soạn văn bia cho làng?

Nếu cho rằng do các ông nghè quê ở vùng Kinh Bắc nên có mối liên hệ ràng buộc với quê hương thì cũng chưa hoàn toàn đúng. Bởi theo điều tra của chúng tôi, chỉ 2/5 trong số các tiến sĩ quê ở Kinh Bắc. Số còn lại là ở các vùng khác nhau. Đó là Trạng nguyên Lương Thế Vinh của vùng Sơn Nam hạ, là Liến sĩ Phùng Khắc Khoan của xứ Đoài - Sơn Tây, là Hoàng giáp Ngô Thì Sĩ của vùng vên sông Nhuệ, là Tiến sĩ Lê Hy người Thanh Hóa đã gíp phần hoàn tất bộ quốc sử Đại việt sử ký toàn thư, là Thám hoa Nguyễn Huy Oánh, người của dòng họ Nguyễn Huy từng nổi tiếng một thời người Can Lộc (Hà Tĩnh), là Nguyễn Nghiễm - vị Tiến sĩ tất được chúa tin dùng, lại là cha của đại thi hào Nguyễn Du ở Nghi Xuân (hà Tĩnh). Không thể kể hết tên tuổi, sự nghiệp của các ông nghè thời Lê từ các vùng trong nước, đã về miền quê Kinh Bắc để viết nên những trang sử bằng đá cho từng làng quê, dòng họ. Nếu như trong chính sử, một vị khoa bảng nào đã tham gia bieen soạn văn bia cho Kinh Bắc, không được nhắc đến vì ít có những điểm nổi trọi, thì đây, họ có thể để lại tên trên bia đá của làng, lưu danh mãi mãi trong sự ngững mộ của những người dân quê. Mọi công danh, chức tước rồi sẽ qua đi, nhưng tên họ của các ông nghè từng biên soạn văn bia nói chung, bia Lê - Kinh Bắc nói roêng thì sẽ còn ở lại mãi. Đó cũng là nguồn sử liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu các Tiến sĩ về cuộc đời, sự nghiệp, trước tác về lịch sử địa phương, về dòng họ cụ thể. Có thể qua bia đá, sẽ bổ sung, đính chính lại một số nét trong cuộc đời của các nhà khoa bảng, vì có nhiều người chỉ có tên mà không ghi rõ chức tước hoặc năm đỗ. Hoặc có thể qua bia đá, hậu thế biết được từng thời kỳ học hành, ra làm quan của các vị Tiến sĩ.

Ví dụ: Tiến sĩ Cái Đắc Đạt quê ở Yên Việt, năm 1680 chưa đỗ Tiến sĩ, chỉ ghi là "Văn trưởng phủ sinh", năm 1705 đỗ, thì được ghi là Tiến sĩ... Hoặc Thám hoa Phạm Khiêm Ích trên bia năm Bảo Thái 5 tại từ đường họ Giáp xã Xuyết Dương huyện Yên Dũng ghi chức là: Bồi tụng Hộ bộ Thượng thư, tước Hầu. Song đến năm Vĩnh Khánh 2 lại ghi tước là Thuật quận công, chức Lại bộ Tả thị lang...

Tóm lại, còn có thể nói rất nhiều các khía cạnh khác nhau về các ông nghè soạn văn bia cho Kinh Bắc. Nhưng trong khuôn khổ của một báo cáo khoa học, chúng tôi xin phép được tạm dừng ở đây. Hy vọng sẽ được trở lại trình bày vấn đề này một cách toàn diên hơn vào một dịp khác. / .

Thông báo Hán Nôm học 1995 (tr.453-460)

Thùy Vinh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hns@vass.gov.vn
Tel: 02438573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm