VI | EN
52.Giới thiệu hai văn bản Hán Nôm năm 1716 về việc xử kiện (TBHNH 2002)
TBHNH2002

GIỚI THIỆU HAI VĂN BẢN HÁN NÔM NĂM 1716
VỀ VIỆC XỬ KIỆN

(tại xã Bắc Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An)

NGUYỄN ĐỨC NHUỆ

NGUYỄN HỮU TÂM

Viện Sử học Việt Nam

       Nhân dịp vào công tác Nghệ An, được sự giúp đỡ của Sở văn hoá thông tin Nghệ An, Phòng văn hoá huyện Yên Thành cùng dòng họ Phan ở xã Bắc Thành, chúng tôi đã tiếp xúc với một số bản Hán Nôm hiện lưu giữ tại từ đường họ Phan. Các văn bản bao gồm: gia phả, sắc phong, chúc thư về ruộng đất v.v... có giá trị nghiên cứu trên một số lĩnh vực kinh tế, lịch sử, nhân vật(1), trong đó đáng chú ý có hai biên bản xử kiện về việc tranh chấp đất đai khe núi, cùng việc chặt cây làm ảnh hưởng đến mộ tổ dòng họ Phan giữa tộc họ với những người khác họ trong xã.

       Về văn bản: Đây là hai văn bản chép tay, không có tiêu đề (theo chúng tôi, văn bản được sao chép lại từ văn bản chính để lưu truyền trong dòng họ). Căn cứ vào nội dung và những chữ đầu tiên của văn bản, chúng tôi tạm đặt đầu đề như sau:

       Văn bản 1: Biên bản xử kiện về việc chặt cây làm ảnh hưởng đến mộ Tổ họ Phan. Văn bản gồm 4 tờ, mỗi tờ có 8 dòng, mỗi dòng 32 – 33 chữ Hán xen chữ Nôm, tất cả khoảng 840 chữ. Dòng lạc khoản đề ngày 8 tháng 2 năm Vĩnh Thịnh thứ 12 (1716).

       Văn bản 2: Biên bản xử kiện về việc tranh chấp đất đai, khe núi tại xã Hạ Thành. Văn bản gồm 2 tờ, mỗi tờ có 8 dòng, mỗi dòng 32 – 33 chữ Hán xen chữ Nôm, tất cả khoảng 450 chữ. Không có lạc khoản.

       Chữ viết trên hai văn bản chân phương, dễ đọc. Theo chúng tôi hai văn bản này đều do một người sao lại từ bản chính.

       Trong các văn bản xuất hiện một số chữ Nôm thường chỉ tên người, tên đất... như thằng Đô, thằng Đầu v.v... Cá biệt có chữ Nôm như : “ thư các bức”.

       Về chữ huý:

       Cả hai văn bản duy nhất có một chữ “Đề” viết theo kiểu chữ huý hai nháy tòng nhân trên đầu (nét lượn sóng nhỏ theo kiểu chữ viết thảo). Qua nghiên cứu chúng tôi cho rằng có thể đó là chữ huý thời Lê - Trịnh. Đề quận công là tước của Trịnh Nhuận, con thứ 3 chúa Trịnh Căn.

       Về niên đại:

       Qua dòng lạc khoản ở văn bản 1 cùng với chữ huý “Đề” và thông qua nội dung của hai văn bản đều chép trùng tên người trong dòng họ Phan Cảnh, sự kiện, thời điểm xảy ra sự việc.... chúng tôi khẳng định niên đại tuyệt đối của hai văn bản là năm 1716 (tức năm Vĩnh Thịnh thứ 12, triều vua Lê Dụ tông).

       Về nội dung:

       Cả hai văn bản xử kiện đều có liên quan đến dòng họ công thần Phan Cảnh tại xã Hạ Thành, huyện Đông Thành (nay là huyện Yên Thành), tỉnh Nghệ An. Trong biên bản 1, dòng họ Phan Cảnh là bên nguyên đơn kiện một số người dân trong xã cùng những người dân ở gần mộ tổ giả danh tên khác, mượn cớ vùng mộ tổ họ Phan vốn là khe núi nên đã xông bừa vào chặt cây, bẻ cành trên mộ. Việc này làm kinh động đến phần mộ tổ, do đó cả họ Phan làm đơn kiện. Các quan trong nha môn huyện Đông Thành sau khi thu thập hồ sơ của hai bên cùng những nhân chứng trong xã và dân cư quanh khu mộ tổ đã đi đến kết luận:

       Họ Phan Cảnh thuộc về lẽ phải; bọn chặt cây, bẻ cành là bên sai trái. Song các quan xử kiện huyện Đông Thành cũng xét xử có lý, có tình khi đưa ra quyết định: Việc chặt cây trên mộ tổ họ Phan là sai nhưng thiệt hại không lớn lắm, bọn sai phạm chỉ bị cảnh cáo, bị tịch thu số củi để làm răn. Nếu tái phạm sẽ bị xử nặng hơn theo luật.

       Trong biên bản thứ 2, dòng họ Phan Cảnh lại bị bọn Giám sinh Nguyễn Công Vinh đại diện một số người trong bản xã khiếu kiện là giả mạo dòng họ công thần giành bừa địa phận bản xã, viết chúc thư gian trá, chiếm khe ngòi làm của riêng cho dòng họ.

       Các quan ở huyện Đông Thành cũng đã thu nhập đầy đủ hồ sơ chứng lý của cả hai bên và đưa ra kết luận: Họ Phan Cảnh là dòng họ công thần được quyền sở hữu vùng khe rú Ây và thuộc về lẽ phải, còn bọn phát đơn kiện là sai trái. Quan xử kiện cũng đưa ra kết luận: Tuy vùng khe rú Ây thuộc họ Phan Cảnh nhưng khi đến vụ cấy hái họ Phan không được ỷ vào quyền sở hữu mà đắp ngăn nước không cho chảy các ruộng của dân trong xã.

       Thông qua việc giới thiệu hai văn bản xử kiện cách ngày nay gần 300 năm, chúng ta có thể tìm hiểu thêm được tình hình xã hội, luật pháp, sở hữu ruộng đất, quan hệ làng xã... dưới thời Lê - Trịnh ở một vùng quê thuộc tỉnh Nghệ An, cũng như nghiên cứu thêm về chữ Nôm, văn phòng hành chính, pháp thời luật thời Lê - Trịnh.

       Dưới đây là toàn bộ nội dung hai văn bản trên.

BIÊN BẢN XỬ KIỆN VỀ VIỆC CHẶT CÂY LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỘ TỔ

Phiên âm:

       Đông Thành huyện nha môn đẳng vi lý đoán trảm mộc điều động phần mộ tụng sự: Tư cứ Hạ Thành xã công thần tộc Chánh đội Giai lộc hầu Phan Cảnh Dụ, Phan Cảnh Tượng, Phan Cảnh Quản, Phan Cảnh Kỳ toàn tộc đẳng hữu trạng cáo: Vị bị bản xã cập tiếp cận nhân thiện nhập Tổ mộ trảm y? mộc điều kinh động tổ mộ sự. Do nhưng cấu bị cáo Hạ Thành xã danh chá Phó tức Đào Văn Đài, danh chá Viện tức Nguyễn Sĩ Tạo, danh chá Tần tức Ngô Tần, danh chá Chiến tức Đào Văn Trường, danh thằng Tấu tức Nguyễn Tấu, danh thằng Bốn tức Đào Văn Sơn, danh chá Sách tức Nguyễn Văn Kỳ, danh thằng (?) tức Đào Văn Xuyên, danh thằng Đô tức Đào Văn Đô, danh thằng Đầu tức Nguyễn Đầu, danh chá Thân tức Nguyễn Hương đẳng diệc hữu trạng giao khám vị hữu bản xã địa bạ thượng Y Sơn khê hác nhất đới bản xã thượng hạ đẳng cựu bảo Giám sinh Nguyễn Công Vinh khán thủ địa mạch, Nguyễn Công Vinh cát sứ danh chá Phó đẳng tiền trảm sài tân nhi Phan Cảnh Dụ đẳng vọng tranh sơn khê xưng vi tư kỷ thác vị phần mộ đẳng từ. Tái kiến Giám sinh Nguyễn Công Vinh cập Hạ Thành xã xưng chí Nguyễn Văn Công toàn xã đẳng diệc hữu trần do đối đáp kỳ Phan Cảnh Tượng toàn tộc đẳng tái hữu giao trần do vị nguyên bản tộc hữu tổ mộ (tờ 2) cựu phần mộ tại Thổ Y xứ, thượng tự Cao Cao chi tổ lịch chí Cao tổ Dũng Nghị hầu tặng phong Thái bảo cập Tằng tổ Minh Nghĩa Kiệt tiết tuyên lực công thần Thiếu bảo Sùng quận công đồng phụ táng tại Thổ Y xứ. Nguyên bản tộc tư thổ nhậm vi tổ mộ đại đại lưu truyền tử tôn tái khê nhất đới thượng tự Đạp Đá hạ chí Quan Triều xã yển bối, nhất nhậm công thần tộc sở hữu. Hựu hữu Hạ Thành xã thượng tự Làng Đạp hạ chí Hậu Làng bắc xứ tam giả dĩ hữu kỳ cận lưu truyền tử tôn vĩnh vi kỷ vật, niên dĩ kinh cửu khả dĩ bách kế bất khả dĩ thập kế. Vãng giả hà nhi bản xã tiên nhân biệt vô tha ngữ. Lai giả hà nhi bản xã bỉ đẳng vọng tự ngôn tranh mạo nhận vọng tranh tổ mộ sơn khê thậm mong muội pháp đẳng từ. Giá thượng trạng từ trần do trình từ cập bỉ tộc giao thư các bức tịnh thu tại án. Giá tụng tra kiến Thổ Y sơn xứ bỉ tộc mộ đại thường giám thủ cập thượng hạng khê đới bỉ tộc nguyên thường nhất nhậm thủ như thả tra cập bàng cận tịnh xưng bỉ tộc sở hữu. Nguyên lai Đồng Y thổ tịnh khê nãi bỉ tộc vi tư nhất tắc giám thủ Tổ mộ, nhất tắc võng thủ hoa ngư, tư Hạ Thành xã toàn đẳng vu vị (tờ 3) địa phận hữu tu tri bạ dục quy bản xã công cộng nhi danh chá Phó tức Đào Văn Đài chí danh chá Thân tức Nguyễn Hương đẳng kiến đắc thử tình toại lại? dĩ Giám sinh Nguyễn Công Vinh sở sử thiện nhập bỉ tộc mộ trảm mộc thủ điều sài tân. Giá bỉ đẳng sở hành thiệp ư phi lý cứ thử ưng đoán Chánh đội trưởng Giai Lộc hầu Phan Cảnh Dụ, Phan Cảnh Tượng, Phan Cảnh Quản, Phan Cảnh Kỳ toàn tộc đẳng vi trực, Đào Văn Đài chí Nguyễn Hương đẳng vi khúc. Hệ Thổ Y sơn xứ nãi bỉ tộc nguyên giám thủ cựu tích tổ mộ, nhi danh chá Phó đẳng thiện nhập trảm mộc lý ưng luận cập đãn khám kiến kỳ tích nãi thị thái thủ tùng tạp tiểu điều mai vị vi thậm hại, ưng chước kỳ sài tân điều đắc cửu đảm ưng hoàn trực bạn lĩnh thủ. Thượng hạng tổ mộ tịnh khê ưng hoàn trực bạn y như nguyên cựu cập giao thư nội kỳ khúc bạn vô đắc phục thiện tiện nhập bỉ tổ mộ trảm y ? mộc điều. Vi giả án luận luận tội hựu như bỉ xã vị hữu địa phận dục thủ bỉ tộc chi tư vi bản xã chi vật ưng diệc luận vi phi, tha như Hạ Thành xã nhân danh thằng Hiển, danh thằng Đầu, danh thằng Hân, danh Chú Châu cập Phúc Tụ thôn danh Tri Phương, danh chá Lãnh, danh thằng Liễu, tịnh Cây Thị xứ chá danh Oánh đẳng nguyên (tờ 4) cáo hữu đơn vị bỉ đẳng tự khất tạ tổ mộ khất chước xá ưng y sở khất. Tư đoán.

       Vĩnh Thịnh (ấn tín) thập nhị niên nhị nguyệt sơ bát nhật.

       Đề lại Trần Quỳnh

        Thừa huyện Huyện thừa Lương tích, Tri huyện Nguyễn tích

Dịch nghĩa:

       Các quan trong Nha môn huyện Đông Thành phán xử Đơn khiếu kiện về việc chặt cành cây làm kinh động tới mộ tổ:

       Nay theo Đơn tố cáo của toàn họ tộc công thần gồm Chánh đội Giai Lộc hầu Phan Cảnh Dụ, Phan Cảnh Tượng, Phan Cảnh Quản, Phan Cảnh Kỳ v.v... về việc dân bản xã cùng những người kề cận tự tiện vào khu mộ tổ chặt cành cây làm kinh động tới phần mộ. Nhưng theo bị cáo ở xã Hạ Thành gồm các tên giả danh Phó tức Đào Văn Đài, giả danh Viện tức Nguyễn Sĩ Tạo, giả danh Tần tức Ngô Tần, giả danh Chiến tức Đào Văn Trường, tên thằng Tấu tức Nguyễn Tấu, tên thằng Bốn tức Đào Văn Sơn, giả danh Oánh tức Nguyễn Văn Kỳ, tên thằng (mất chữ) tức Đào Văn Xuyên, tên thằng Đô tức Đào Văn Đô, tên thằng Đầu tức Nguyễn Đầu, giả danh Thân tức Nguyễn Hương v.v... cũng có Đơn trình xin tra xét cho rằng địa phận bản xã trên từ vùng khe rú Ây, trên dưới của bản xã do cựu bảo Giám sinh Nguyễn Công Vinh làm Giám thủ địa mạch cắt sai bon tên giả danh Phó đến trước lấy củi đốt mà bọn Phan Cảnh Dụ lại giành bừa khe núi làm của riêng nói thác là phần đất mộ tổ. Lại xét thấy Giám sinh Nguyễn Công Vinh cùng Phan Thời Xứng đến Nguyễn Văn Công toàn xã Hạ Thành cũng đều có trình bầy nguyên do. Toàn họ Phan Cảnh Tượng lại giao (chúc) thư cho biết: Vốn bản tộc có mộ tổ cũ ở xứ Thổ Ây, trên từ Cao Cao chi tổ trải đến Cao tổ là Dũng Nghị hầu được tặng phong chức Thái bảo cho tới Tằng tổ là Minh Nghĩa Kiệt tiết tuyên lực công thần chức Thiếu bảo Sùng Quận công đều được phụ táng tại xứ Thổ Ây, nguyên là đất riêng của bản tộc lấy làm mộ tổ đời đời lưu truyền cho con cháu. Về dải khe trên từ Đạp Đá xuống đến đê bối xã Quan Triều tất cả đều giao cho tộc họ công thần sở hữu. Lại có vùng đất xã Hạ Thành trên từ Làng Đạp xuống đến xứ Bắc Làng Hậu. Cả ba vùng trên đều được lưu truyền con cháu vĩnh viễn làm của riêng. Thời gian kinh qua đã lâu rồi, phải tính tới hàng trăm năm mà không phải là hàng chục năm. Những người trước đã từng ở xã này chẳng ai nói khác cả. Hà cớ gì bọn người mới đến của bản xã nói liều rằng (tộc ta) mạo nhận tranh bừa khe núi làm mộ tổ, thật là cách làm mê muội quá chừng!

      Tất cả những Tờ trình trên cùng (chúc) thư của họ tộc giao nộp đều đã được thu thập vào hồ sơ. Vụ kiện này điều tra xét thấy: Xứ núi Thổ Ây vốn thuộc mộ tổ của tộc (họ Phan) được các đời trông coi và dải khe kể trên nguyên tộc này thường giao để đánh bắt cá. Mặt khác xét hỏi (những người xung quanh) họ đều nói rằng tộc này (họ Phan) sở hữu, từ xưa đến nay Đồng Thổ Ây và khe núi là của riêng tộc Phan, trông coi phần mộ tổ, đánh bắt thu hoa lợi nguồn cá. Nay (bon người) toàn xã Hạ Thành lại nói bừa có Tu tri bạ (sổ tu tri) muốn quy về của công bản xã. Bọn giả danh tên Phó tức Đào Văn Đài cho đến giả danh Thân tức Nguyễn Hương v.v... thấy được tình hình bèn lấy cớ Giám sinh Nguyễn Công Vinh sai phái tự tiện vào khu mộ tổ họ (Phan) chặt cây lấy cành làm củi đốt. Việc làm của bọn chúng là phi lý. Nan căn cứ vào tình thực nên xử nhau sau: Toàn tộc họ Phan gồm: Chánh đội trưởng Phan Cảnh Dụ, Phan Cảnh Tượng, Phan Cảnh Quan, Phan Cảnh Kỳ v.v... thuộc về lẽ phải. Bọn Đào Văn Đài cho đến Nguyễn Hương.v.v... thuộc về phía sai trái. Còn về núi Thổ Ây vẫn là đất cũ mộ tổ do họ (Phan) trông coi từ trước. Bọn giả danh tên Phó v.v... tự tiện chặt cây, về lý đáng phải luận tội, nhưng xét thấy chúng chỉ lấy những cành cây nhỏ và bụi cây tạp cũng chưa thiệt hại lắm. Lại xét số củi cây chúng lấy được tổng cộng chín gánh phải giao lại toàn bộ cho bên thắng kiện (họ Phan). Khu mộ tổ và khe núi đã nói ở trên phải trả lại cho bên thắng như cũ và giao lại như trong (chúc) thư. Bên thua kiện không được tái phạm, tự tiện vào mộ Tổ họ Phan chặt cành cây. Nếu kẻ nào trái lệnh sẽ theo luật mà trị tội. Còn như việc bản xã nói rằng có địa phận, muốn lấy của riêng tộc họ làm của chung bản xã, xét thấy cũng là việc làm sai trái. Về phần bọn tên thằng Hiển, thằng Đầu, thằng Hân, tên Chú Châu người xã Hạ Thành và tên Tri Phương, giả danh tên Lãnh, thằng Liễu ở thôn Phúc Tụ cùng giả danh tên Oánh ở xứ Cây Thị bên nguyên cáo (họ Phan) có Đơn trình rằng bọn này đã tự xin làm lễ tạ mộ tổ và xin xá tội, nên y theo lời cầu xin của chúng.

       Nay phán xử.

       Ngày mồng 8 tháng 2 năm Vĩnh Thịnh thứ 12 (1716).

       (Ấn tín đã đóng).

       Đề lại Trần Quỳnh thừa lệnh ghi lại.

       Thay mặt Huyện quan: Huyện thừa họ Lương ký.

       Tri huyện họ Nguyễn ký.

BIÊN BẢN XỬ KIỆN VỀ VIỆC TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI, KHE NÚI TẠI XÃ HẠ THÀNH

       Đông Thành huyện Nha môn quan đẳng

       Kê:

       Nhất thừa tống đính luận Hạ Thành xã Giám sinh Nguyễn Công Vinh, Sinh đồ Phan Thời Xứng, Phan Quang Huân, Phan Duy Thạch, Phan Thế Hiền, Xã trưởng Đỗ Hữu Phúc, Phan Công Vĩ, Nguyễn Công Toàn đẳng minh vị bị bản xã mạo xưng công thần tộc thông dữ biệt xã nhân vọng tranh bản xã địa phận gian tả chúc thư bao chiếm Bắc biên khê thuỷ đoạt vi tư kỷ đẳng từ. Nhưng câu bị minh nhân Hạ Thành xã công thần tộc Phan Cảnh Dụ, Phan Cảnh Tượng, Phan Cảnh Quản, Phan Cảnh Kỳ toàn tộc đẳng trần do vị bị bản xã nhân vọng tranh tổ mộ sơn khê tổ nghiệp công thần tộc giả tác bảo bản xã nhân khán thủ thiện sai nhân đáo tổ mộ trảm mộc điều đẳng từ cập Yên Vinh xã Nguyễn Đăng Toàn, Hoàng Xã xã Phúc Tụ tộc Nguyễn Hữu Khiển đẳng tịnh hữu trình từ nãi tập thử lưỡng bạn tra vấn giá tích tra kiến bỉ xã dĩ tu tri bạ nhi minh bỉ thử đối thuyết trình biện bất dĩ giá khê đới thượng tự Đạp Đá hạ chí Hậu Làng Bắc xứ nguyên lai nhất nhậm bỉ tộc sở hữu thời thường võng bổ hoa ngư, bàng cận giai tri kỳ nhiên, viễn cận nhân nhân cộng thức hồ. Thị tự vị hữu tu tri bạ dĩ tiền bỉ tộc ký như thử. Kim nhi bỉ xã đẳng nhân tu tri bạ nhi dục nhận vi công cộng, toại phát vi minh cáo dĩ dị, kỳ hạnh nhi hữu đắc thẩm, thử tình lý ưng luận. Phan Cảnh Tượng, Phan Cảnh Dụ, Phan Cảnh Quản, Phan Cảnh Kỳ toàn tộc đẳng vi thị, Giám sinh Nguyễn Công Vinh, Sinh đồ Phan Thời Xứng, Xã trưởng Đỗ Hữu Phúc, Phan Công Vĩ, Nguyễn Văn Công toàn xã đẳng vi phi. Hệ thượng hạng khê đới nhưng hoàn bỉ tộc y như giao thư nội, nhất nhậm võng bổ hoa ngư như cựu. Nhược phù khê thuỷ chí nhân nông vụ thời nhi lưu hạ đồng điền canh chủng sinh nghiệp dĩ tiện dân cư, bỉ tộc diệc vô đắc sở hữu nhi cấm khê thuỷ. Kỳ như bỉ xã sở nại các tiết tịnh hưu luận, chí nhược bảo khán thủ Y sơn cập Y Thổ mộ tiết dĩ hữu biệt đoán, vô phục áo luận. Tư luận.

Dịch nghĩa:

       Các quan trong Nha môn huyện Đông Thành

       Khai:

       Thừa lệnh xin gửi kết luận xem xét Đơn kêu kiện của Giám sinh Nguyễn Công Vinh, Sinh đồ Phan Thời Xứng, Phan Quang Huân, Phan Duy Thạch, Phan Thế Hiền, Xã trưởng Đỗ Hữu Phúc, Phan Công Vĩ, Nguyễn Văn Công toàn xã Hà Thành trình bầy việc bị người trong xã mạo xưng là tộc họ công thần thông đồng với người xã khác tranh bừa địa phận bản xã, gian trá viết chúc thư, chiếm toàn bộ khe ngòi phía Bắc đoạt làm của riêng (tộc họ). Nhưng phía người bị kiện là toàn tộc họ công thần xã Hạ Thành gồm Phan Cảnh Dụ, Phan Cảnh Tượng, Phan Cảnh Quản, Phan Cảnh Kỳ v.v... cũng trình bày các việc: bị người bản xã tranh bừa mộ Tổ khe núi là sản nghiệp của tổ tiên tộc họ công thần, chúng giả vờ để bảo vệ cho việc trông coi của người bản xã, tự tiện sai người, vào mộ tổ chặt cây đốn cành v.v... đồng thời cũng có Đơn trình của Nguyễn Đăng Toàn xã Yên Vinh, Nguyễn Hữu Khiển tộc Phúc Tự xã Hoàng Xá. (Chúng tôi – chỉ các quan trong Nha môn của huyện Đông Thành) đã thu thập tất cả Đơn trình của hai bên để xem xét tìm hiểu. Xét thấy bọn người trong xã lấy cớ Tu tri bạ (sổ Tu tri) để khiếu kiện, còn phía tộc họ công thần cho rằng nguyên trước nay sản nghiệp của Tổ tiên lưu truyền đời đời được trông nom để trình bầy. Hai bên đối đáp lý lẽ mãi không ngừng. Vùng khe trên từ Đạp Đá cho xuống đến đê bối xã Hậu Quan Triều, lại ở bên trong xã Hà Thành trên từ làng Đạp cho xuống xứ Bắc Làng Hậu vốn từ xưa đã giao cho tộc họ công thần được sở hữu, thời thường thu bắt hoa lợi, nguồn cá, xung quang lân cận đều biết rõ điều này. Những kẻ xa người gần ai cũng đều hiểu cả. Việc này từ trước khi có Tu tri bạ tộc đó đã được hưởng như thế rồi. Nay bọn người trong xã lại dựa cớ Tu tri bạ để muốn nhận làm của công cộng rồi liền phát đơn kiện cho khác đi. May thay (chúng tôi) lại được thẩm xét, theo lý lẽ vụ việc này nên xử như sau: Toàn thể tộc họ gồm Phan Cảnh Tượng, Phan Cảnh Dụ, Phan Cảnh Quản, Phan Cảnh Kỳ.v.v... thuộc về lẽ phải. Bọn người trong toàn xã gồm Giám sinh Nguyễn Công Vinh, Sinh đồ Phan Thời Xứng, Xã trưởng Đỗ Hữu Phúc, Phan Công Vĩ, Nguyễn Văn Công v.v... thuộc phía sai trái. Toàn bộ vùng khe kể trên vẫn trả về cho tộc họ, y như trong chúc thư giao lại, cho phép được thu bắt hoa lợi nguồn cá như cũ. Nếu như đến thời vụ nhà nông mà nước trong khe chảy xuống đồng ruộng thuận tiện cho dân cư trồng cấy thì tộc họ cũng không được dựa vào quyển sở hữu để ngăn cấm. Còn những điều khác mà bọn người bản xã nêu ra (trong Đơn kiện) đều không được bàn đến nữa. Còn như việc bảo vệ trông coi ở rú Ây và mộ tổ ở xứ Thổ Ây đã có xét xử riêng, không được bàn luận lôi thôi nữa.

       Nay phán xử.

Chú thích:

(1) Về nhân vật Phan Cảnh Quang (? – 1597), tên tuổi và sự nghiệp được ghi rõ trong gia phả, sắc phong mà sử sách mới chỉ xác định được tước hầu, chưa biết rõ tên, chúng tôi đã có bài viết riêng công bố trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử 5 – 2002.

Thông báo Hán Nôm học 2002, tr.416-426

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hns@vass.gov.vn
Tel: 02438573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm