52. Thổ Tang, một vùng quê văn hóa (TBHNH1996)
THỔ TANG, MỘT VÙNG QUÊ VĂN HÓA*
ĐINH CÔNG VĨ
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Một sự trùng hợp diệu kỳ: xã Thổ Tang vốn là một trong những tiêu điểm của văn hóa Phùng Nguyên ở huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phú, lại mang trong mình nó cái tên rất cổ: “Kẻ Giang”, trong thế tương quan gắn bó với các vùng đất cổ xung quanh như “Kẻ lầm” (xã Tam Hồng), Kẻ Lác (xã Tiền Lỗ).
Vốn trước đây các văn bản chữ Hán từ thời Chính Hòa (Lê trung hưng) đến đời Cảnh Thịnh, Bảo Hưng (Tây Sơn) đều gọi xã này là “Địa tang xã”. Bia đời Bảo Đại gần đây gọi là “Thổ Tang xã” nhằm chỉ đất dâu. Hàng loạt hoành phi câu đối treo ở chùa Tùng Vân thuộc khu Bắc xã Thổ Tang đều phản ánh cái không khí dâu tằm địa lợi đầy chất văn hóa ấy như: “Địa bão long tuyền, tùng ảnh phong thanh thổ đa bao nạp, Sơn triều thủy nhiễu, vân thùy vũ nhuận tang mậu thiêm sinh” (Đất bao bọc, nước dồn tới, uấn quanh, mây rủ mưa nhuần, dâu tốt thêm sức sống)..
Chùa Tùng Văn có “Ba chục thánh tượng tràn đầy phong quang” ở thế giao tiếp: “Bốn bề dân ở Thái Hòa Phú phong” đúng như truyền tụng dân gian. Các cụ cho biết: Chùa ở trên kiểu đất “trán voi”, thông sang văn chỉ thờ Khổng tử, Mạnh tử, Tứ phối, gần với phủ trị Vĩnh Tường, (nay là Ủy ban nhân dân xã). Phải chăng vì nó ma ứng với hàng loạt tên cổ mang dáng dấp văn hóa của các xóm khu Bắc Thổ Tang, một sự lạ mà có thật: Xóm Tự (theo cá cụ: vừa là nới có chùa, vừa là nơi có chữ), xóm phú học, xóm Học Cường (có nhiều con nhà giàu đi học và học rất khỏe). Theo lương y Nguyễn Thái Nỉ, em ruột nhà yêu nước Nguyễn Thái Học ở đây cho biết: “Xóm Tự còn gọi là xóm Phú Mỹ (giầu đẹp) xưa kia có từ đường với đầy đủ khám ngai, gia phả của dòng họ Nguyễn Thái Học. Những thứ ấy đã bị giặc Pháp phá sạch từ năm 1947. Xóm Tự là nơi một bà mẹ yêu nước đã sinh ra ba người con trung dũng, hi sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc: Nguyễn Thái Học, Nguyễn Thái Nho, Nguyễn Thái Lâm. Nguyễn Thái Học đã sống và học chữ Nho ở đây suốt thời thơ ấu. Từ đấy, ông đến với chùa Tùng Vân hay nhà ông Tư Khoa ở khu Đông để luyện võ mỗi buổi sớm. Trước khi chính thức đi hoạt động Cách mạng, ông đã làm lễ dâng hương ở chùa Tùng Vân và đình Thổ Tang. Chùa Tùng Vân là nơi tập trung đậm đặc nhất các tư liệu văn khắc Hán Nôm của xã Thổ Tang với 16 di vật. Để biết cụ thể hơn 16 di vật ấy, xin bạn đọc theo dõi bảng liệt kê dưới đây.
TT | Tên văn bản | Thể loại | Niên đại | Tác giả | Số mặt và khổ | Hoa văn | Nội dung tóm tắt |
1 | (Thiếu 1 chữ)… chú Thích Ca Phật tượng | Bia | Chính Hòa | Không rõ | 1 (120x80cm) | Trán bia: Lưỡng Long triều nguyệt. Đáy bia hoa cú | Quán chức và dân hưng công đúc mới lại Phật bằng đồng, tôn tạo tượng ghi thành ký kể ra những đóng góp. |
2 | Tùng Vân tự thiên đại kiến lập lưu tích | Bia | Chính Hòa | Tăng chùa Nguyễn Hữu Bảo phụng tả Giám sinh Nguyễn Duy Minh soạn | 4 (122x22cm) | Mờ, chỉ có đôi chỗ ở diềm nồi lên rồng cuốn hoa lá | Tên họ, tên tự, công lao các người hưng công lập Thiên đài. |
3 | Địa Tang xã tạo chú hồng chung Tùng Vân tự ký | Chuông | Cảnh Thịnh 7 (1799) | Triều liệt đại phu hành lâm thự biên tu Từ Đức tử giả uy Phan Huy… | 4 (101x48cm) | Vẩn mây ở góc mặt bia và đáy bia | Chức sắc và toàn dân xã Thổ Tang đóng góp xây dựng chùa, tên hiệu từng người cụ thể đã đóng góp, tên húy tác giả bị đục. |
4 | Tùng Vân tự ký | Khánh | Cảnh Thịnh 7 (1799) | Mở không rõ | 2 (180x120) | Vẩn mây ở cổ chuông, hoa ở mép chuông dây quấn quanh | Ghi địa danh và tên người đóng góp cho chùa Tùng Vân ở nhièu địa phương khác nhau. |
5 | Tùng Vân tự hậu Phật bi ký | Bia | Bảo Hưng 1 (1801) | Không rõ | 1 (87x56cm) | Trán lưỡng long chầu nguyệt diễm học lá, hoa tứ tô van đều nhau. | Chức sắc và toàn dân xuất tiền tệ độ, làm hậu Phật, khắc tên hiệu những người đóng vào chùa Tùng Vân |
6 | Hậu Phật bi ký | Bia | Gia Long 3 (1804) | Không rõ | 1 (66x41cm) | Trán lưỡng long chầu nguyệt, diềm mờ. | Kể lại việc năm Giáp Tí đời Gia Long, những đóng góp vào chùa Tùng Vân |
7 | Tùng Vân tự hậu Phật bi ký | Bia | Tự Đức 4 (1851) | Không rõ | 1(75x42cm) | Trán lưỡng long chầu nguyệt, diềm hoa tiết ô van | Trùng tu kiều lộ (đường cao) và một tòa bảo tháp ở Thổ Tang cần đóng góp làm bia, biểu dương công đức |
8 | Hật Phật bi ký | Bia | Tự Đức (mờ không rõ năm cụ thể) | Không rõ | 1 (67x30cm) | Mờ | Những đóng góp trong việc lập bia hậu Phật, góp công vào chùa (không cụ thể vì chữ rất mờ) |
9 | Hậu Phật bi ký | Bia | Bảo Đại 2 (1927) | Đỗ Nhược | 1 (194x64cm) | Trán lưỡng long chầu nguyệt, diềm mờ | Ghi việc tôn thường điện làm chùa thêm nguy nga những đóng góp tiền ruộng. |
10 | Hậu Phật bi ký | Bia | Bảo Đại 4 (1929) | Đỗ Nhược | 1 (60x50cm) | Mờ | Ghi việc làm đẹp, trùng tu Phật điện gạt, những đóng góp cụ thể. |
11 | Hậu Phật bi ký | Bia | Bảo Đại 13 (1938) | Không rõ | 1 (87x61cm) | Trán lưỡng long chầu nhật vầng mây quầng hỏa, diềm hoa cúc, lá | Tiền đường bị mưa gió hỏng, cần trùng tu, đóng góp của cải, người đóng góp cụ thể. |
12 | Hậu Phật bi ký | Bia | Bảo Đại 16 (1941) | Không rõ | 1 (86x56cm) | Trán lưỡng long chầu nhật vầng mây, quầng hỏa, 2 bên diềm hoa lá chữ triện | Thượng điện, tiền đường chùa Tùng Vân bị mưa gió hỏng nên xã cần trùng tu. Những đóng góp tiền ruộng vào đấy. |
13 | Tùng Vân tự hậu Phật bi ký | Bia | Bảo Đại 18 (1943) | Không rõ | 1 (64,5x36cm) | Trán lưỡng long chầu nguyệt, diềm lá cây leo | Tiền đường bị mưa gió hỏng cần trùng tu, liệt kê tên hiệu người với những đóng góp cụ thể. |
14 | Hậu Phật bi ký | Bia | Chỉ ghi: “tháng 1 năm Giáp Ngọ” | Không rõ | 1 (70x38,5cm) | Trán lưỡng long chầu nhật quầng hỏa vầng mây, diềm hoa lá. | Các chuông ở tòa bị mưa gió hỏng cần trùng tu, liệt kê cụ thể tính danh tên hiệu người đóng góp. |
15 | Hậu Phật bi ký | Bia | Chỉ ghi: “Ngày tốt năm Giáp Ngọ” | Không rõ | 1 (68x39cm) | Tán lưỡng long chầu nguyệt, đáy cây hoa. | Đóng góp hằng tâm hằng sản vào làm 1 tòa gác chuông chùa Tùng Lâm. Các tên người đóng góp. |
16 | Tùng Vân tự tạo bi ký | Bia | Chỉ ghi: “Ngày tốt tháng 5 năm Bính Tý” | Giám sinh Tạ Công Bật | 2 (119x80cm) 1 mặt mờ. | Trán lưỡng long chầu nguyệt, còn diềm mờ cả. | Khai trình theo thứ tự công đức tính danh những người đóng góp vào hưng công tạo bi ký. |
Đi sang bên đông chùa Tùng Vân, cách đường là “Đình thờ Thượng ngự” (nơi đình ngự của bậc Thượng đẳng thần). Văn khắc Hán Nôm của đình còn lại quá ít. Chỉ còn lại 1 khánh và 1 chuông đời Tây Sơn. Đáng tiếc khánh chữ mờ gần hết, không đọc được. Còn chuông với tên là “Địa Tang xã tạo chú hồng chung Bà Nghệ tự ký” đại ý nói về “ở đất Địa Tang, An Lạc Sơn Tây có chùa tên là Bà Nghệ tương truyền phải dựng tiền đường, Thạch đài đúc chuông cần thu hút tài khí… Trải qua các đời chùa cũ có chuông khánh nhưng vào khoảng năm Bính Ngọ có binh lửa không còn chi nữa, trải qua 13 năm rồi, nay Phật giáo phục hồi khắp thiên hạ nên cần đúc chuông”. Rõ ràng, quả chuông này tuy treo ở đình Thổ Tang nhưng không phải chuông chính của đình ấy. Ở tình trạng đó, tuy văn khắc không bằng chùa Tùng Vân, nhưng đình Thổ Tang về kiến trúc nghệ thuật lại có những đóng góp quan trọng hơn. Đình này cũng thuộc khu Bắc, được làm vào thế kỷ 16, có dáng dấp cổ nhất trong các đình hiện còn của Vĩnh Phúc. Đình làm theo kiểu chữ Đinh, chỉ còn lại 1 tòa gồm 5 gian 2 dĩ với 60 cột (cột cái đường kính 0,80m, cột nhỏ hơn đường kính 0,61m), nền dài 25,80m, rộng 14,20m, có đá xanh bao quanh, thượng lương làm theo kiểu tứ trụ, kết cấu vững chãi. Nổi bật hơn, làm vẻ vang cho đình là 21 bức chạm gỗ đậm đà bản tính dân tộc, có nhiều giá trị về nội dung và nghệ thuật, nay vẫn treo ở đình. Như bức “Ngày hội xuống đồng” chạm trên một kẻ nghé ở hè đình, ngay cửa ra vào dài 1,35m, rộng 0,70m, 25 nhân vật trong bức đó đều được chạm bồng phản ánh sinh hoạt ngày hội xuống đông đầu năm của dân ta thuở trước. Nổi bật nhất là người đang cầy “con trâu đi trước, cái cầy theo sau”, chăm chú điều khiển đường cầy đạt tiêu chuẩn trước đông đảo dân làng. Xung quanh có những người cầm cuốc, cầm đàn, thổi tù và, người vác bó nứa, bên trên là người đội mũ cánh chuồn đương ngồi, một tay cầm quạt, một tay cầm bút, bên cạnh có người đứng đầu, hai tay chắp lại cạnh một mâm. Quả là ngày hội xuống đồng của một đất nước nông nghiệp có tổ chức trên dưới, thể hiện nền văn minh xóm làng. Ngoài ra còn có các bức tả thân phận người phụ nữ, cảnh đánh ghen, cảnh gia đình, cảnh bắn hổ, đá cầu, múa hát, khiêng cá, cưỡi ngựa, cưỡi mây… với đường nét thực sống động, phản ánh nhiều mặt sinh hoạt văn hóa xã hội của làng xã nước ta thời xưa.
Tô điểm cho những bức chạm ấy, làm cảnh đình thêm phần tráng lệ là hàng loạt hoành phi, câu đối sơn son thiếp vàng treo lên với những dòngchữ có ý nghĩa như: “Hòa vi quý” “Thần nhân tư duyệt”, “trận phá Nguyễn binh vạn cổ anh uy lưu bất tử - Đỉnh phù Trần tộ, thiên thu chính khí lẫm anh hùng”, “phù Trần vĩ liệt lưu Nam sử - Sát Thát anh uy trấn Bắc phương”… cho thấy vị thần “Thượng ngự” ở đình này là vị anh hùng chống Nguyên Mông thời Trần. Cách đây 7 thế kỷ, trên vùng đất Thổ Tang này, ngài đã tung hoành vó ngựa, múa đôi thiết trùy để giết giặc cứu nước, làm kẻ ngoại bang cũng phải kinh hồn: “Thủ hạ thiết trùy mã đầu thiên trượng đáo kim ngoại khấu diệc tâm hàn” (Dưới tay quả trùy sắt, đầu ngựa cây gậy trời [tung hoành] đến nay giặc ngoại còn rợn lòng). Để hiểu hai chữ “Tây khiếu” @ @ trong một vế đối treo lẻ loi trên một cột đình, cụ Thiều, người trông coi đình cho chúng tôi xem văn bản bài “Văn tế” vị thần, có những câu như:
“Tố tự hồng vân chi thủy,
Triệu tường vu Đồng Bảng quý hương
Đãi kỳ cơ kỵ chi thu
Ảo hóa ư Dục Mỹ cát địa”
(Áng mây hồng sa xuống;
Điềm tốt lành nơi Đồng Báng giáng sinh.
Đoàn xe ngựa ra đi
Người quy hóa ở đất thiêng Dục Mỹ…)
Thì ra, ngài sinh ở thôn Đồng Bảng, xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, thuộc tỉnh Sơn Tây cũ (nay là Hà Tây). “Tây Khiếu” là ỏ phía đó. Từ đấy, ngài qua Thổ Tang đánh giặc và có một tại thôn Dục Mỹ, xã Cao Xá, huyện Phong Châu (Lâm Thao cũ). Tên tuổi của ngài rực rỡ trong “Ngọc điển” với “long chương phượng cáo” của các triều đại bao phong, “chính khí” muôn thuở còn rạng rỡ trời Nam, đúng như một vế đối: “Tây khiếu linh thần quang ngọc điển, lẫm lẫm Nam Thiên chính khí, vạn cổ chiêu như”. Mẹ ngài là Thánh mẫu Phùng Thị Dong, ngài được phong là “Lân Hổ hầu Đô thống đại vương” nên dân thổ Tang vẫn kiêng, gọi “lá dong” dùng gói bánh tết là “lá dung” gọi “Lân Hổ” là “Liên Hể” và kiêng không ăn cao hổ cốt. Đình Thổ Tang thờ cả hai mẹ con và hàng năm mở hội:
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày tiệc thánh mùng mười tháng giêng”
Ngày hội là ngày người Thổ Tang tỏ rõ mọi tài năng trước cửa đình qua các sinh hoạt văn hóa như: đánh vật, đánh cờ, chọi gà, hát ca trù… Có những kép chèo như kép Hậu đã một thời lững lẫy tiếng tăm, bằng điệu hát “tha thiết dễ say lòng người” trước cửa đình. “Vè Cô Giang” ca ngợi người vợ tiết liệt của Nguyễn Thái Học đã làm xúc động bao con tim trong lễ hội… Tinh thần thượng võ trong lễ hội đó đã thành nếp sống thường ngày. Chúng tôi đến Thổ Tang, sớm nào cũng được thấy các cụ thể dục, đánh bóng… Các phụ lão Thổ Tang đã thể hiện tinh thần gương mẫu trong thể dục thể thao.
Rời đình về khu Đông Thổ Tang, chúng tôi được tiếp xúc với hàng loạt địa danh cổ: Xóm Dái Dện, xóm Cả, xóm Lá… Xóm Lá có miếu thờ Thổ Kỳ xưa nay đều lợp lá cọ. Và xóm Hoa Sen: một gò nổi lên làm nhị sen, bốn ao lấp lánh vây quanh xanh biếc như những lá sen. Có xóm Cổng Ải làm áo giáp bảo vệ Thổ Tang, che chắn cho xóm Hoa Sen. Cũng mang cái tên của hoa lá là thôn “Phương Viên” (Vườn thơm), nơi cũng có đình thờ Lân Hổ hầu được sửa chữa từ năm 1993 tăng thêm vẻ đẹp của Thổ Tang.
Theo các cụ về khu Nam Thổ Tang, chúng tôi được tận mắt nhìn thấy các xóm mang tên “Lâm” (Lâm Trong, Lâm Trung [xóm giữa], Lâm Miếu [xóm ngoài] gần miếu Trúc) dấu vết của một thời kỳ rừng rậm thuở xưa với những anh hùng thảo dã chống giặc Bắc. Đó cũng là dấu vết của thời chùa Bà Nghệ chưa bị tàn phá, ba gian toàn bằng đá còn ẩn trong tán lá rừng xanh, hoặc dấu vết của thời kỳ sau khi Nhật vào với những buổi kỷ niệm Nguyễn Thái Học do Tuần phủ Nguyễn Trọng Tấn tổ chức trong rừng tại chùa. Ngày nay, chùa không còn nữa, chuông khánh đã chuyển về đình ở khu Bắc. Từ rừng, dân địa phương đã khai thác thành một vùng trù phú bán nông bán thị; được thể hiện ở đôi câu đối treo ở cổng xóm Lâm Miếu (nay đã bị dỡ đi) mà các cụ đọc cho nghe, nguyên văn bằng chữ Hán là: “Nam khả Bắc khả, xa cái kham dung - Tỉnh nhi điền nhi, đình tài tương vượng” (Đường Nam, đường Bắc xe cộ thênh thang, ruộng giếng tốt tươi, đỉnh tài đều thịnh vượng).
Theo tục truyền ở đây: Trường tiểu học Nguyễn Thái Học nằm trên đầu phượng hoàng ở khu Bắc, còn nổi bật lên ở khu Nam, xanh biếc, hiên ngang cùng tuế nguyệt, ở cái thể “thụ trùm lưng phượng” là “Cây đa bà hàng”. Theo cụ Thiều: “Cây đa khu Nam ứng với nền đình khu Bắc, một nền ở cái thế” phượng vĩ tung hoành” (đuôi phượng vẫy vùng). Các thầy địa lý cho là vì thế người Thổ Tang giỏi buôn, sát chợ”. Xóm Lâm Trong gần chợ Thổ Tang (còn gọi là Chợ Giang). Đây là một trong những chợ lớn nhất Vĩnh Yên và Phú Thọ, bán cả ngày lẫn đêm, đủ các mặt hàng. Ca dao có câu:
“Trước thời họp chợ rõ ràng
Dưới ao trên chợ phố hàng hẳn hoi”
“Cây đa bà hàng” gợi ta nhớ lại truyền thuyết đời Trần ghi trong thần tích: Lân Hổ hầu chống Nguyên Mông bị thương chạy về đây, hỏi “bà hàng” về sự sống chết, được bà cho ăn dưa thấy khỏe ra, lại có sức chống giặc. Từ đó, ở đây có tục trồng dưa. Những trái dưa đỏ thắm như tấm lòng son của người Thổ Tang tôn tính nhớ lại người anh hùng chống ngoại xâm cách đây 7 thế kỷ. Từ đó, vó ngựa của ngài vượt khỏi Thổ Tang và hóa. Theo dân gian: có một giọt máu của ngài rỏ ra ở xóm Lâm Miếu, mối đùn thành gò. Miếu Trúc xây trên gò ấy. Miếu “tọa quý sơn đinh hướng”, ở thế “tứ linh” (Long li qui phượng), đằng sau là nghiên, bên phải bên trái rợp bóng phi lao xà cừ, đằng trước xa xa thấy rõ dòng sông Phan lấp lánh từ Tam Đảo tràn về, đổ vào sông Cà Lồ. Bờ sông phía Thổ Tang nhấp nhô những mô đất hình con qui, con cá, có gò Đồng Tiếng làm án cho miếu với cánh đồng 7 xã trải thảm óng ánh, cò bay rợp rờn. Những chú mục đồng, cưỡi trâu ra ruộng, làm ta nhớ truyền thuyết: thuở nào chính nơi này, lãnh tụ Nguyễn Thái Học thả trâu ra đồng, gặp mẹ người anh hùng Trinh Văn Cấn; chí khí cách mạng được hun đúc từ đấy. Xa xa kia là đường quốc lộ 13, nơi bà Quỳnh mẹ ông thường đi bộ, vượt sông Hồng sang thị xã Sơn Tây, về chợ Gối (Lai Xá) buôn vải… Mỗi đoạn đường, mỗi con sông trước miếu đếu ghi lại những sự kiện muôn đời không quên. Mặt tường phía trước, sát cửa miếu Trúc đắp nổi đôi ngựa chiến và hai tướng canh cửa (theo các cụ: Lân Hổ hầu lấy hai ông cậu làm hai tướng ấy), đường nét thật sinh động. Nhưng quan trọng, đáng lưu ý hơn là: miếu Trúc tập hợp được đa số các văn bản Hán Nôm bằng giấy bằng gỗ của Thổ Tang. Vào miếu, chúng tôi được các cụ cho xem 8 đạo sắc phong còn nguyên gồm: 6 đạo sắc phong Thánh Cả (Lân Hổ hầu) ở các niên đại: 1, Gia Long 9 (1810); 2, Thiệu Trị 6 (1846); 3, Thiệu Trị 6 (1846); 4, Tự Đức 3 (1850); 5, Duy Tân 3 (1909); 6, Khải Định 9 (1924) * 2 đạo sắc phong Thánh Mẫu (mẹ Lân Hổ hầu) ở các niên đại 1, Khải Định 2 (1917); 2, Khải Định 9 (1924).
Trong miếu còn thờ 4 bài vị đặt trên 4 ngai sơn son thiếp vàng như1. Bài vị Đại vương Đại thần Ả Nàng Nàng Tần; 2, Nuôi Ná Đại thần vị; 2, Trần Triều Đô thống Đại vương Thượng đẳng thần vị; 4, Thánh từ Phùng thị Dong Tiên thiên vương Chí tôn Kim khuyết hạ thần vị.
Ở Trung tâm miếu còn nổi lên bức hoành phi “Quyết sơ sinh dân” (từ thuở mới sinh dân) do “Định An Tổng đốc Vũ cung đề” vào mùa đông năm Nhâm Ngọ đời Tự Đức. Chứng tỏ, dưới các triều đại phong kiến đời xưa, vai trò của miếu Trúc được mặc nhiên thừa nhận. Vậy câu thơ của người xưa được các già lão có uy tín của địa phương (như các cụ Lê Văn Đàn, Nguyễn Văn Học, Đỗ Văn Thiều) nhắc lại: “Trúc lĩnh vi danh thùy vũ trụ” hẳn là không quá lắm, còn có một ý nghĩa nhất định. Như thế, phải chăng miếu Trúc có những cơ sở đáng kể để nhà nước xem xét việc xếp hạng. Ở những đình, chùa đã được xếp hạng phải chăng nên có những đầu tư thích đáng để chửa lại phần mái dột, đao đình bị gẫy, để khôi phục phần hậu cung (đình Thổ Tang) hay gác (chùa Tùng Vân) đã bị mất? Phải chăng Thổ Tang nên khôi phục lại nghề dâu tằm. Khắc phục được thế, lại là vùng quê gắn với Lân Hổ hầu, với Nguyễn Thái Học lẫy lừng với một đội ngũ cán bộ lãnh đạo trẻ khỏe, đầy sức sống, vùng quê ở vị thế đặc biệt, có một quần thể di tích lịch sử, văn hóa, bao chứa nhưng tư liệu Hán Nôm quý, chắc chắn Thổ Tang sẽ trở nên một ngôi sao du lịch lấp lánh của Vĩnh Phúc, một vùng quê phồn vinh “Ngàn dâu xanh ngắt một mầu”.
Chú thích:
* Hoàn thành bài này, chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Đảng ủy, Ủy ban nhân dân, mặt trận Tổ quốc xã, đặc biệt là đồng chí phụ trách văn hóa, các cụ phụ lão xã Thổ Tang đã tạo mọi điều kiện, cung cấp mọi tư liệu cho việc nghiên cứu.
Thông báo Hán Nôm học 1996 ( tr.470-481 )