VI | EN
53. Bài ký ở tháp Thắng Quả, chùa Hưng Khánh.
tb2006

BÀI KÝ Ở THÁP THẮNG QUẢ CHÙA HƯNG KHÁNH

THÍCH MINH NGHIÊM

Chùa Thiên Phúc, Tp. Hà Nội

Chùa Hưng Khánh ở thôn Lạc Đạo xã An Lạc huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương là một ngôi chùa cổ kính trang nghiêm, nằm giữa khu vực dân cư trù phú. Các tư liệu Hán Nôm còn lưu giữ ở chùa như hoành phi câu đối, chuông đồng cho biết chùa được xây dựng từ đời Thành Thái (1889-1905) nhà Nguyễn. Hệ thống tượng Phật trong khu tam bảo cùng với kiến trúc của chùa cũng xác nhận niên đại xây dựng chùa vào khoảng cuối thế kỷ XIX. Do vậy nhiều nhà nghiên cứu ở Trung ương và Địa phương khi giới thiệu về chùa Hưng Khánh, chúng tôi tìm thấy trong ngôi tháp nhỏ đã bị đổ nát ở sau chùa, có một tấm bia đá nhỏ ghi tên là Thắng Quả tháp ký, kích cỡ 85x47cm, chữ Hán khắc chân phương dễ đọc. Tháp ký cho biết chùa Hưng Khánh được xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ XVII đời Lê. Người có công khai sáng già lam Hưng Khánh là Thiền sư Thích Đoàn Đoàn. Lúc chưa xuất gia Thiền sư là người họ Thái, tên là Minh Chương, sinh năm 1719 tại xã Đông Lâm huyện Thiên Lộc xứ Nghệ An, nay thuộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Xuất thân trong gia đình giàu truyền thống Nho học, thuở nhỏ Thiền sư được gia đình cho đi học chữ Hán. Vốn tính thông minh hiếu học, Thiền sư học rất giỏi và đặc biệt có sở trường về thiên văn địa lý. Lớn lên Thiền sư được thầy địa lý ở địa phương truyền bảo tâm ấn cho, nên chẳng mấy chốc nổi tiếng khắp vùng. Sau do hoàn cảnh gia đình có nhiều chướng ngại, tiên sinh liền bỏ nhà lưu lạc ra Bắc Hà, vừa là để học hỏi, vừa là để tìm kế sinh nhai. Khi đến đất Chí Linh, Thiền sư thấy vùng non nước Lạc Đạo phong cảnh hữu tình, dân cư trù phú. Bấy giờ vùng này là lị sở của trấn Hải Dương, dòng Nguyệt Giang hiền hòa quanh co lượn khúc, vừa mang nặng phù sa tưới mát cho đồng ruộng Lạc Đạo, vừa là nơi thuyền bè qua lại tấp nập. Thiền sư Thích Đoàn Đoàn đã chọn đất Hưng Khánh để dựng chùa thờ Phật. Ngài thuê thợ về xây chùa, tô tượng đúc chuông và cho trồng cây ở khắp vườn chùa. Chẳng mấy chốc chùa Hưng Khánh đã trở nên trang nghiêm lộng lẫy, nổi tiếng trong vùng, khách thập phương nô nức tìm đến chiêm bái, thỉnh mời Thiền sư về xem đất giúp địa phương hoặc gia đình mình. Đến năm 1774 Thiền sư viên tịch, dân làng cùng chư tăng tổ chức lễ an táng rất trang trọng. Năm 1775 liền dựng tháp, đặt tên là tháp Thắng Quả. Thiền sư Thích Ẩn Ẩn ở chùa Bảo Khánh đã soạn văn bia ghi lại sự tích của ngài. Thắng Quả tháp ký là tư liệu Hán Nôm rất đáng trân trọng, không chỉ giúp chúng ta tìm hiểu về văn hóa truyền thống ở vùng quê văn vật nổi tiếng ở Chí Linh, mà còn cung cấp nhiều tư liệu quý để chúng ta nghiên cứu về Phật giáo ở thế kỷ này. Trước đây chúng ta đã biết đến các hòa thượng có pháp hiệu bằng từ lấp láy nổi tiếng như Thiền sư Thích Trừng Trừng ở chùa Liên Phái, Thiền sư Thích Tại Tại ở chùa La Phù, Thiền sư Thích Điều Điều ở chùa Tử Trầm... thì nay Thắng Quả tháp ký lại cho chúng ta biết thêm các pháp hiệu Thích Đoàn Đoàn, Thích Ẩn Ẩn... Do vậy chúng tôi xin phiên âm dịch nghĩa giới thiệu toàn văn bia ở tháp Thắng Quả chùa Hưng Khánh trong Hội nghị Thông báo Hán Nôm kỳ này.

Phiên âm:

THẮNG QUẢ THÁP KÝ

Tháp giả ký kỳ sự tích dã. Sư bản quán Nghệ An xứ Đức Quang phủ Thiên Lộc huyện Đông Lâm xã Quần Ngọc thôn, tục tính Thái, húy Minh Chương, sinh vu Kỷ Sửu niên. Bản tòng quan sĩ dĩ báo quân thân, bán thế xuất gia hồi tâm hương đạo. Quy đầu bản sư Sa môn Tính Lãng Thích Đoàn Đoàn, trí pháp danh Sa di tự Băng Thu. Y sư giáo huấn, niệm Phật tụng kinh, vận thủy ban sài, bất từ lao khổ. Thường hành tướng địa, đáo xứ tùy duyên, Quyết chí trụ trì Hưng Khánh thiền tự, phần hương chúc thánh thọ kỳ quốc mạch, khai sáng già lam chủng thụ, trang hoàng tam thân tố hảo. Chí vu Giáp Ngọ tứ nguyệt sơ thập nhật mão thời viên tịch, xuân thu lục thập lục tuế. Hương dân ai mộ, tăng tục vân trăn, toại xà duy nhi đắc xá lị, nãi thụ tiểu thốt đổ ba dĩ di hậu vân nhĩ.

Kế đăng tông nhân Thái Liên Nê Sa di ni hiệu Diệu Thoát.

Hoàng triều Cảnh Hưng tam thập lục niên tam nguyệt cốc nhật, Bảo Khánh tự Sa môn Băng Băng Thích Ẩn Ẩn thuật.

Dịch nghĩa:

BÀI KÝ GHI VIỆC Ở THÁP THẮNG QUẢ

Ngôi tháp dựng lên là để ghi lại sự tích vậy. Quê hương của Thiền sư ở thôn Quần Ngọc xã Đông Lâm huyện Thiên Lộc phủ Đức Quang xứ Nghệ An (nay thuộc xã Đông Lâm huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh). Lúc chưa xuất gia Thiền sư họ Thái, tên húy là Minh Chương, sinh năm Kỷ Sửu (1719). Thuở nhỏ vốn theo nghiệp nho muốn báo đền ân nghĩa quân thân, sau thì bán thế xuất gia(1) hồi tâm hướng đạo, đến quy theo Bản sư Sa môn(2) Tính Lãng Thích Đoàn Đoàn, được đặt cho pháp danh là Sa di Băng Thu. Từ đó thuận theo sư phụ dạy bảo niệm phật tụng kinh, gánh nước bổ củi, chẳng nề gian lao khó nhọc. Thiền sư thường hay đi xem đất, chuyên đi khắp đó đây. Sau ngài quyết tâm trụ trì ở chùa Hưng Khánh sớm hôm đèn hương thờ Phật, cầu chúc cho mạch nước bền vững lâu dài. Thiền sư lại khai sáng già lam(3), trồng thêm nhiều cây, tô tượng tam bảo rất viên mãn.

Đến giờ Mão ngày mồng 10 tháng 3 năm Giáp Ngọ (1774) Thiền sư viên tịch, hưởng thọ 66 tuổi. Dân làng vô cùng thương tiếc, nhân dân địa phương cùng chư tăng tụ tập rất đông tổ chức lễ xà duy(4) thu lấy xá lị(5) dựng tháp để bảo cho người đời sau cùng biết.

Sư kế đăng là người trong họ Thái Liên Nê Sa di hiệu là Diệu Thoát.

Ngày tốt tháng 3 năm Cảnh Hưng thứ 36 (1775) Sa môn Băng Băng Thích Ẩn Ẩn ở chùa Bảo Khánh thuật lại.

Chú thích:

(1) Bán thế xuất gia: chỉ vào các nhà sư đã từng lập gia đình rồi, sau đó mới hồi tâm hướng đạo quy y cửa Phật.

(2) Sa môn (Thuật ngữ Phật học gốc tiếng Phạn) phiên âm là: Socmana, chỉ nhà sư chuyên tâm tu thành đạo Phật đã dứt bỏ mọi thứ phiền não.

(3) Già lam (Thuật ngữ Phật học gốc tiếng Phạn) phiên âm là Samghanama, chỉ vườn sinh hoạt của chư tăng, sau có nghĩa rộng chỉ chung là ngôi chùa.

(4) Xà duy (Thuật ngữ Phật học gốc tiếng Phạn) phiên âm là Jhàpita, còn gọi đó là Đồ tì, có nghĩa là hỏa táng. Theo nghi lễ Phật giáo thực hành từ thời Đức giáo chủ Thích Ca Mâu Ni bên Ấn Độ, sau này truyền bá sang Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam.

(5) Xá lị (Thuật ngữ Phật học gốc tiếng Phạn) phiên âm là Sàri, chỉ tro xương cốt của các nhà sư thu được sau lễ Xà duy./.

Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.509-512)

Thích Minh Nghiêm
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hns@vass.gov.vn
Tel: 02438573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm