53. Tấm bia ghi việc lập hương học ở thôn Hạnh Đàn (TBHNH 2000)
TẤM BIA GHI VIỆC LẬP HƯƠNG HỌC Ở THÔN HẠNH ĐÀN
LƯU ĐÌNH TĂNG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Người Việt Nam vốn có truyền thống tôn sư trọng đạo. Dù trong hoàn cảnh khó khăn đến đâu, thiếu ăn thiếu mặc họ luôn luôn nhắc nhở nhau:
Muốn sang phải bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy.
Cái chân lý “muốn con hay chữ” ấy được mọi người dân Việt Nam từ nông thôn đến thành thị nâng niu gìn giữ. Chúng ta có thể tìm thấy minh chứng ở rất nhiều tư liệu văn hiến hiện còn. Gần đây trong chuyến đi công tác sưu tầm tư liệu Hán Nôm ở thôn Hạnh Đàn, xã Lại Thượng, huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây chúng tôi phát hiện thấy một tấm bia ghi việc lập hương học ở thôn. Bia có khuôn khổ lớn 120 x 190cm, hai mặt khắc đầy chữ Hán, nằm trơ trọi trên một khu đất trống trải, mặt bia đã bám đầy bụi đất. Cụ già trong ban di tích của thôn dẫn chúng tôi đến tận nơi đưa đôi bàn tay gầy guộc lau chùi lớp bụi đất trên mặt bia rồi trịnh trọng giới thiệu với chúng tôi: “Bia của Cụ Nghè Ngạc Đình đấy”. Đây là lời giao ước của dân thôn về việc lập trường học do cụ Nghè soạn giúp”. Chúng tôi vội thực hiện công việc của mình: Làm vệ sinh bia, xát chuối lên mặt bia, áp giấy đều đặn phẳng phiu và dùng con lăn thấm mực lăn trên mặt giấy. Nét chữ dần dần hiện lên mặt bia, từng hàng, từng hàng rõ ràng uyển chuyển. Nét mặt cụ gài ban di tích thôn Hạnh Đàn đi hướng dẫn cho chúng tôi trở nên rạng rỡ. Chợt cụ thốt lên: “Đây rồi, cụ Nghè đây rồi”. Giọng nói của cụ trở nên khoẻ khoắn, trong trẻo: “Tứ Giáp Thìn khoa Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân phụng nghị đại phu Ngạc Đình Nguyễn Thành Chi soạn”.
Khi quay lại đình, theo yêu cầu của các cụ địa phương chúng tôi đặt bia lên chiếc chiếu hoa đã trải sẵn ở gian giữa đình. Mọi người quây lại đọc và trầm trồ tán thưởng. Trán bia trạm hình rồng chầu mặt trời, diềm bia là hoa văn dây leo. Ở trán bia ghi là Hương học bi ký. Một mặt ghi lại bài ký do Tiến sĩ Nguyễn Thành Chi soạn, nội dung ca ngợi việc dân thôn Hạnh Đàn hiếu học trọng nghĩa. Phần dưới là bản điều ước gồm 12 điều, quy định đầy đủ việc dân thôn sử dụng số ruộng học điền vào việc cung dưỡng thầy giáo dạy học ở thôn. Mặt hai liệt lê các thửa ruộng học điền, có ghi rõ diện tích, xứ đồng. Phần cuối ghi niên đại năm Tự Đức 8 (1855). Chúng tôi thấy đây là tấm bia quí ghi lại truyền thống tôn sư trọng đạo của dân ta. Đặc biệt là bản điều ước sử dụng trong cuộc sống hiện tại, do vậy chúng tôi đã dịch ra tiếng Việt và trân trọng giới thiệu ở hội nghị thông báo Hán Nôm lần này.
BIA GHI VIỆC LẬP HƯƠNG HỌC
Bia ghi việc lập trường hương học ở thôn Hạnh Đàn, xã Lại Thượng, tổng Đại Đồn, huyện Thạch Thất, phủ Quốc Oai(1).
Vào thời Tự Đức (1848-1881) triều đình ta có bàn đến việc hương thôn lập ra học điền: phàm các trường học ở hương thôn có lập ra học điền thì nên coi là một tập tục tốt lành. Nhà nước ta theo thời thế mà tổ chức khuyến học, cốt sao mở rộng sĩ phong, chấn hưng việc học. Nay mọi người trong thôn ta quyên góp ruộng nương sung công cho người cấy rẽ, hàng năm thu lấy 8 phần hoa lợi lập thành kho của trường học. Do vậy khảo sát trường làng, tên họ người cúng ruộng, số ruộng để ở cánh đồng nào, diện tích bao nhiêu, chi dùng việc học hết bao nhiêu ghi chép lại tường tận khắc vào bia đá. Nay trong làng đã dựng bia, ghi lại đầu đuôi sự việc: Xưa kia tiên khảo tôi là cụ Tú tái năm khoa từng khảo xét các vị khoa bảng ở làng ta, thấy các vị thi Hội trúng cách có 4 người, thi Hương đỗ 19 người, còn thi ở phủ đỗ được hơn 20 người. Thế thì làng ta có danh tiếng ở huyện Thạch Thất vậy. Nay tôi kính cẩn ghi lại việc lập ruộng nương của trường làng để ghi nhớ, cũng là để khỏi phụ công ơn của tiền nhân vậy.
Giáp Thìn khoa Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân phụng nghị đại phu Sơn Tây Đốc học Ngạc Đình Nguyễn Thành Chi(2) soạn.
Điều ước như sau:
* Điều thứ 1:
Họ tên của các bậc tiền bối đã từng thi đại khoa, tiểu khoa xin nghênh rước vào văn chỉ.
* Điều thứ 2:
Sĩ nhân đến tuổi trưởng thành trở lên mà không có nghề nghiệp thì sung vào vệ binh.
* Điều thứ 3:
Nhân dân bốn xung quanh học đường không được nấu rượu, trêu ghẹo phụ nữ, làm ồn ào ầm ĩ.
* Điều thứ 4:
Hoa lợi của học điền không được tuỳ tiện sử dụng vào việc khác.
* Điều thứ 5:
Số ruộng học điền do 4 giáp trong thôn chia nhau canh tác. Hàng năm mỗi mẫu thu 450 đấu. Còn các khoản khác thì đều cho miễn đóng góp.
* Điều thứ 6:
Toàn bộ các chỗ sạt lở, bờ ruộng ở các thửa học điền đều giao cho người cấy ruộng trông nom bồi đắp.
* Điều thứ 7:
Tường đá bao vây quanh hai hương học cùng số ruộng nương nếu bị hư hỏng, khuyết sẽ hội họp toàn dân tu bổ, kinh phí xin thu góp ở dân.
* Điều thứ 8:
Hoa lợi của học điền dùng làm khoản trả thù lao cho thầy dạy ở trường làng. Những viên khoa mục trong thôn viên nào có thể tập họp được 50 con em trong thôn đến học trở lên đi học thì thưởng mỗi người 1 quan tiền.
* Điều thứ 9:
Các văn sĩ trong thôn được dự hàng khoa mục mà số sách vở dùng ở trường làng chưa đủ thì tuỳ theo điều kiện dân làng mua cho 1 bộ.
* Điều thứ 10:
Trẻ em trong thôn nếu cháu nào dùng giấy đã viết chữ ra làm diều, hoặc nút chai lọ thì sẽ xử phạt không tha.
* Điều thứ 11:
Các bộ kinh sử trong hòm sách công ở trường làng thì các vị chức dịch trong làng mỗi năm 2 lần đem phơi khô vào những ngày trời nắng, có giao nhận, ghi chép rõ ràng, không được cho mượn, làm trái ngược sẽ bị xử tội bồi thường. Hòm sách dầy: 1 bộ Thông giám tập lãm giá tiền là 43 quan.
* Điều thứ 12:
Các điều khoản khoán ước ghi trong bia, hàng năm các vị chức dịch phải sao ra, đến trung tuần tháng giêng mọi người tề tựu rồi phân tích rõ ràng từng khoản tại đình.
Ngày 25 tháng 11 năm Ất Mão niên hiệu Tự Đức thứ 8 (1855).
Chú thích:
1. Thôn Hạnh Đàn: Nay thuộc xã Lại Thượng, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây.
2. Nguyễn Thành Chi: Tức Nguyễn Hữu Tạo người làng Đông Ngạc huyện Từ Liêm thành phố Hà Nội. Ông có tên tự là Thành Chi, hiệu là Ngạc Đình đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn (1844) niên hiệu Thiệu Trị thứ 4 làm quan đến Đốc học Sơn Tây.
Thông báo Hán Nôm học 2000, tr.419-423