VI | EN
56. Nhìn lại cuộc chính biến lật đổ vua Lê Nhân Tông (TBHNH 2012)
56. Nhìn lại cuộc chính biến lật đổ vua Lê Nhân Tông (TBHNH 2012)

NHÌN LẠI CUỘC CHÍNH BIẾN LẬT ĐỔ VUA LÊ NHÂN TÔNG

NGÔ ĐĂNG LỢI - NGUYỄN QUỐC VÕ

Hội Khoa học Lịch sử Hải Phòng

Thời Lê sơ, đời vua Lê Nhân Tông trị quốc đã xảy ra 2 cuộc chính biến gây hậu quả nặng nề với nhiều cuộc thảm sát trong hoàng tộc, trong nội bộ triều đình. Chính sử chép rõ, sau khi tổ chức lãnh đạo nhân dân ta trải qua 10 năm gian lao nguy hiểm, Lê Lợi đã lật đổ ách thống trị tàn bạo của phong kiến nhà Minh Trung Quốc, giành độc lập dân tộc. Rất tiếc, ngài ở ngôi chỉ được 6 năm (1428-1433), miếu hiệu là Lê Thái Tổ. Nhân dân, Tổ quốc ghi nhận tự hào về sự nghiệp bình Ngô vĩ đại, xây dựng chính quyền, điển lễ, văn hoá, giáo dục. Sử gia nhận xét: “Có thể gọi là có mưu kế xa rộng mở mang cơ nghiệp. Song đa nghi, hiếu sát, đó là chỗ kém (Đại Việt sử ký toàn thư). Sau khi Thái Tổ băng hà, Thái tử quốc vương Tư Tề con trưởng nhà vua bị phế truất; Hoàng tử Nguyên Long, con thứ hai Thái Tổ được nối ngôi ngày 8/9 năm Quý Sửu (1433) lúc mới 11 tuổi. Toàn thư chép “Vua thiên tư sáng suốt, nối vận thái bình, bên trong ức chế quyền thần, bên ngoài đánh dẹp Di Địch, trọng đạo sùng nho, mở khoa thi chọn hiền sĩ, xử tù xét án phần nhiều tha thứ khoan hồng, cũng là bậc vua tài giỏi biết nối giữ cơ đồ. Song đam mê tửu sắc đến nỗi thình lình băng ở bên ngoài cũng là tự mình chuốc lấy tai vạ (Toàn thư, tr 20).

Sự kiện vua Lê Thái Tông “thình lình băng ở bên ngoài” là một sự kiện bi thảm: ngày 27 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442) nhà vua đi tuần miền Đông, duyệt quân ở thành Chí Linh, đại công thần khai quốc Nguyễn Trãi mời vua đến thăm chùa Tư Phúc, thường gọi là chùa Hun ở núi Chí Linh có thái ấp của Đại tư đồ Trần Nguyên Đán, ông ngoại Nguyễn Trãi. Ngày 4 tháng 8 xa giá nhà vua về đến Lệ Chi Viên, tục gọi là Vườn Vải thuộc làng Đại Lai huyện Gia Bình, sau đổi là Gia Lương (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh). Lễ nghi Học sĩ Nguyễn Thị Lộ, một người thiếp của Nguyễn Trãi, lúc ấy đã 40 tuổi theo hầu. Nửa đêm hôm đó, nhà vua bị cảm nặng, đến sáng thì băng hà. Các quan hộ giá giữ kín tin, đến ngày 6 tháng 8 mới rước linh cữu về kinh đô Thăng Long, rồi mới báo tin cho nhân dân cả nước biết. Nguyễn Thị Lộ bị bắt ngay, bị tra tấn cực kỳ tàn bạo. Khi thẩm vấn, hình quan chỉ hỏi có một câu: “Có phải mày đã tiến độc lên đức Đại hành Hoàng đế, cái mưu thí nghịch là do Nguyễn Trãi?”

Vì bị tra tấn dã man, Nguyễn Thị Lộ phải nhận lời mớm cung của bọn hình quan, theo một lệnh không rõ từ đâu.

Ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất, tức ngày 19 tháng 9 năm 1442, hoạ tru di tam tộc oan nghiệt đã rơi vào gia đình đại khai quốc, đại danh nhân văn hoá dân tộc. Đến năm Quang Thuận thứ 5 (1464), vua Lê Thánh Tông ban dụ tẩy oan cho Nguyễn Trãi. Dụ có đoạn: “Xét vị công thần khai quốc trước kia được phong Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu là Lê Trãi đem đạo học chân chính mà giúp việc nước nhà, vạch kế hoạch rộng lớn mà sửa nền chính trị. Trong buổi tổ phụ ta khởi nghĩa ở Lam Sơn để xây dựng lại cơ đồ nước Việt, ông đã vào Lỗi Giang Lam Sơn để theo quân, lập nhiều thành tích tốt trong việc Bình Ngô, danh vọng của ông vang lừng trong bốn bể, mưu lược của ông rõ rệt dưới hai triều. Dẫu rằng thời mệnh không đi đôi với nhau, khó biết được lẽ huyền bí; nhưng công lao của ông được ghi chép từ lâu, hiện còn thấy trong sổ sách. Trước kia ông đã được ban ơn rất hậu, ngày nay càng nên tặng thưởng thêm. Vì lẽ đó, nay đổi tước bá, thăng tước hầu… Vậy gia tặng Trụ quốc Tế Văn hầu, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu.”

Trước khi xử án, ngày 12 tháng 8 năm Nhâm Tuất (1442), đại thần là bọn Trịnh Khả, Nguyễn Xí, Lê Thụ nhận di mệnh cùng với bọn Lê Liệt, Lê Bôi tôn hoàng Thái tử Bang Cơ lên ngôi, lúc ấy mới 2 tuổi, lấy năm sau là Thái Hoà (Đại Hoà) năm thứ nhất(1). Ngài là con thứ ba của Lê Thái Tông và Thần phi Nguyễn Thị Anh. (Sau được phong là Tuyên Từ Hoàng thái hậu) quê ở làng Bố Vệ huyện Đông Sơn (Thanh Hoá). Lê Bang Cơ sinh ngày 9 tháng 6 năm Tân Dậu (1441), đến ngày 16 tháng 11 cùng năm được lập làm Thái tử.

Di mệnh chắc là của Nguyễn Thái hậu, chứ không phải của vua Lê Thái Tông, vì thời gian này, nhà vua đang ở tuổi 19, 20 còn rất cường tráng. “Năm Tân Dậu (Đại Bảo) thứ hai (1441) mùa hạ (nhà vua) ra lệnh chỉ tuyển con gái đẹp ở các huyện… tháng 8 chọn con gái đẹp ở sân điện”. Mùa đông cùng năm, Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao mang thai Hoàng tử Lê Tư Thành. Tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442) ngài đi duyệt quân ở Chí Linh, thăm mộ Bạch sư ở Cầu Bông xã Đại Toán huyện Quế Dương. Công việc xong xuôi, ngài còn có thời gian ghé thăm nhà công thần Nguyễn Trãi ở Côn Sơn huyện Chí Linh. Với sức khoẻ cường tráng, tinh thần phấn chấn làm sao Lê Thái Tông đã sớm nghĩ đến chuyện lo hậu sự mà để lại di mệnh. Chính sử không chép việc này. Thời gian nhiếp chính, Nguyễn Thái hậu tin dùng họ ngoại, hay nghe lời dèm pha, giết nhiều cựu thần như Lê Khả, Lê Khắc Phục, bỏ tù Lê Liệt, bãi chức Lê Xí nhưng Quốc cữu Nguyễn Phụ Lỗ bị Giám sát Ngự sử Cao Mô dâng sớ không để làm Tham tri từ tụng, trái ý Thái hậu nên Cao Mô bị mất chức. Triều đình biết rõ từ năm Giáp Tý đến năm Đinh Mão (1444-1447) đọng lại đến 125 án. Nhiều quan văn võ “không giữ phép nước, khi làm việc công thì mượn tiếng việc công để lo chạy việc tư, khi xét kiện tụng thì lo nhận hối lộ mà bẻ cong phép nước, khiến người đi đường ai cũng than oán”. Thậm chí bọn bói toán như Hanh Phát, Bạch Khuê làm đến chức Thiêm tri, An phủ sứ. Những người hiền tài lấy làm xấu hổ phải đứng ngang hàng họ. Vì thế, “có người đề chữ ở cầu Kênh ngoài cửa Đông rằng:

Trời đất tới vận bĩ, nảy nòi An phủ sứ,

Mặt trời mặt trăng khuyết, có đứa đạo Tham tri.

(Toàn thư, tr. 369).

Tệ xu phụ nịnh hót công khai, năm Thái Hoà thứ 6 (1448) gả chị gái của vua là Công chúa Vệ Quốc mới 10 tuổi lại bị câm cho Lê Quát, con trai Thái uý Lê Thụ. Lê Thụ sắm lễ cưới, những kẻ cầu cạnh ngoi lên khiến gấm thêu, lụa là, lĩnh vóc ở ngoài phố hết nhẵn. Lê Thụ lại bắt quan các trấn mua sắm trâu dê các thứ, nhưng quan các trấn lại bắt quân dân đóng góp…

Nhiều công tử con các quan lớn cũng ỷ thế làm xằng như Lê Nhân Lập con Thiếu uý Lê Lan cùng với người trong kinh là bọn Nguyễn Thọ Vực họp nhau đánh bạc, trộm cướp, sợ bọn ấy tiết lộ sai người đến nhà dụ đến mà giết. Lê Quán Chi, con trai Đại Đô đốc Lê Khuyển đang đêm tụ tập nhau đánh giết người ở giữa chợ. Việc bị phát giác, Quán Chi bị bắt giam, xưng khai hơn 10 người là con cái nội quan và nhiều quan chức khác. Án sắp xong, Thái hậu sợ mất lòng Lê Khuyển là đại thần, chỉ huy cấm binh, chỗ dựa của vua nên chỉ bắt lấy tiền bồi thường cho gia đình người chết. Giám quan Lê Lâm câm miệng không dám nói, để đến nỗi trẻ con ngoài phố, ngoài chợ nắm tay, nghiến răng: “Ta tiếc không được làm đài quan” (Toàn thư, tr.380).

Việc thi cử tuyển chọn nhân tài cũng bê bối: Trạng nguyên khoa Mậu Thìn Thái Hoà thứ 6, Nguyễn Nghiêu Tư bị dân gọi là Trư (lợn) vì thông dâm với mẹ vợ. Thói tư túi trong thi cử không kể xiết, quan tư khấu bắt khảo quan phải uống máu ăn thề không tư túi nhưng không kết quả. Có thí sinh làm bài chế văn có câu đối nhau đáng lẽ phải dùng chữ có vần trắc lại dùng chữ “hoành” là thanh bằng. Quan sơ khảo phê là văn thất luật không lấy, quan phúc khảo lại chọn lấy bảo là học trò hay chữ, phê cho đứng đầu cả trường thi, nói bậy là chữ “hoành” người xưa đọc theo thanh trắc, do đó bị người đương thời diễu là “khảo quan ngu”. (Toàn thư, tr. 370).

Bài dụ sửa lại quan chế đời Hồng Đức ban hành năm Hồng Đức thứ 2 (1471), vua Lê Thánh Tông nêu rõ: “Đức Thái tổ Cao Hoàng đế ta dựng nước, xét cổ đặt quan, nhận rõ cái hay, cái lầm của các đời trước, châm chước cho hợp thời rồi định ra phép tắc: giữ binh quyền thì chia 5 phủ và các vệ; giữ chính sự thì đặt 6 bộ, 6 khoa, mối lớn dựng lên, phép hay thấy rõ. Đức Thái Tông Văn Hoàng đế nối chí tiên hoàng, làm tròn công việc; đến Nhân Tông Tuyên Hoàng đế, khi lên nối ngôi, các bề tôi giúp vui nhận chính thể không rõ, đổi bỏ điểm cũ của triều trước, noi theo mối cũ của Lý, Trần dùng mưu quay quắt, cổ hoặc bề trên, cho rằng: chuyên dùng đại thần là việc hay của các vua, cấp lương bổng nhiều là việc chính trị cần phải có, rồi cho Tể tướng có trọng quyền coi giữ việc quân, việc nước cất nhắc những kẻ không có chân khoa mục, loại bỏ những người tài cao học rộng…”

Chính lệnh sai lầm dẫn đến xã hội suy thoái, nhân dân oán ghét bất bình thì cơ đồ nhà Lê chắc dẫn đến sụp đổ. Thái tử Lê Nghi Dân nếu không ra tay thì Hoàng Thái tử Lê Tư Thành cũng không thể ngồi yên nhìn cảnh họ ngoại cùng phe cánh của Tuyên Từ Thái hậu tiếm quyền làm mưa làm gió. Vậy Lê Nghi Dân có công cứu vãn cơ đồ tổ tông, chứ không phải bất mãn vì không được lập làm vua kế vị phụ hoàng Thái Tông mà ngầm chứa mưu gian nhòm ngó ngôi vua như các soạn giả Đại Việt sử ký toàn thư, Lê triều thông sử nhận định.

Ngài đã nín nhịn 17 năm, nhưng thời thế đòi hỏi, cơ hội đã đến mà bỏ lỡ, mà không dám hành động chắc phải đắc tội với tổ tông và khó tránh lời phê phán của các sử gia công minh, chính trực.

 

Chú thích:

(1). Niên hiệu Đại Hoà nhiều người phiên âm là Thái Hoà, xem bài: Bàn về niên hiệu Lê Nhân Tông - Đại Hoà hay Thái Hoà của Ngô Đăng Lợi, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử - Viện sử học số 2 (291) 1997.


Tài liệu tham khảo chính:

1. Đại Việt sử ký toàn thư, bản khắc in năm Chính Hoà thứ 18 (1697), tập II, Hoàng Văn Lâu dịch, hiệu đính Hà Văn Tấn. Nxb. KHXH, H.1985.

2. Lê triều thông sử, Lê Quý Đôn - Ngô Thế Long dịch, Văn Tân hiệu đính và giới thiệu. Nxb. KHXH, H.1978.

- Đông các Đại học sỹ Lê Nhân Quý - danh nhân lịch sử thời Lê sơ thế kỷ XV, Kỷ yếu hội thảo. UBND tỉnh Thanh Hoá - Hội KHLSVN - Hội họ Lê Việt Nam. Nxb. Thanh Hoá 2010.

(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.454-459)

Ngô Đăng Lợi - Nguyễn Quốc Võ
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hns@vass.gov.vn
Tel: 02438573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm