64. Tìm hiểu thực chất “Bản Tiên Điền” Truyện Kiều (TBHNH 1997)
TÌM HIỂU THỰC CHẤT “BẢN TIÊN ĐIỀN” TRUYỆN KIỀU
ĐÀO THÁI TÔN
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Giới nghiên cứu Truyện Kiều lâu nay vẫn nhắc tới “bản Tiên Điền” với hàm nghĩa một di cảo, một thứ “bản gốc” Truyện Kiều do các thế hệ cháu con của NguyễnDu đã truyền nhau lưu giữ - mà vào năm 1915, Phạm Kim Chi đã mượn được của ông Tiến sĩ Mai - người cháu họ xa đời của Nguyễn Du, cho phiên âm, dịch nghĩa ra tiếng Việt, mang tên Kim Túy tình từ(1). Bản dịch này thường được gọi tắt là “bản Phạm Kim Chi”. Vậy mà từ 80 năm qua, không một ai dùng “bản Phạm Kim Chi” như một tài liệu căn cốt trong việc khảo đính Truyện Kiều. Ngay đến như Nguyễn Thạch Giang, người đã – vào năm 1962 - mượn được “bản Tiên Điền”, cũng không dùng tới văn bản này như một văn bản quan trọng trong công trình biên khảo về Truyện Kiều(2) của ông. Sự hờ hững có phần như nghi ngại đối với “bản Tiên Điền” của Nguyễn Thạch Giang đã khiến chúng tôi phải lần lại ngọn nguồn xuất xứ để tìm hiểu kỹ về văn bản này.
Chúng tôi không có “bản Tiên Điền” trên tay. Nhưng theo Nguyễn Thạch Giang, bản Phạm Kim Chi đã “được phiên âm theo “bản gốc” của gia đình họ Nguyễn Tiên Điền” (sđd, tr.101), phần chú thích “đã phiên âm và dịch ra đầy đủ, không bỏ sót một chi tiết nào của “bản Tiên Điền” (sđd, tr.98); vì thế chúng tôi sẽ nghiên cứu “bản Tiên Điền” thông qua bản Phạm Kim Chi.
I. Theo dòng:
1. Lần đầu tiên, vào năm 1917, với “Lời báo dẫn” trong Kim Túy tình từ, Phạm Kim Chi cho biết:
“Tôi nhân vì việc quan, có ra ở ba năm tại Hà Tĩnh, là quê của ông Nguyễn Du Đức hầu. May gặp dịp được làm quen với cháu nhà ông ấy, là ông Tấn sĩ Mai, mượn đăng bổn chánh “Kim Túy tình từ” có chú dẫn điển tích rõ ràng”. “Tôi thấy chắc gốc như vậy, nên xin phép ông Nguyễn Mai dịch lại, in ra cho tài – nhơn tao – khách xem chung “(…)” Ông Nguyễn Mai bằng lòng, nên cho tôi một bài tựa có in ra sau đó”. Xem thêm lời nói đầu do Phạm Văn Tươi viết tại Vĩnh Long “le 1 er Novembre 1915” (ngày 1 tháng 11 năm 1915), ta có thể ước đoán rằng Phạm Kim Chi đã gặp ông Nghè Mai vào khoảng 1910 đến 1912. Ta không rõ ông Nghè mai có “bản Tiên Điền” từ bao giờ, cũng như năm nào thì Phạm Kim Chi hoàn lại bản ấy, chỉ biết rằng đến năm 1922, cụ Lê Thước đã không nhắc tới (hoặc không được thấy để mà nhắc tới) bản Tiên Điền này nữa.
2. Cụ Lê Thước cho biết:
“Tôi bắt đầu nghiên cứu tiểu sử Nguyễn Du từ năm 1922 khi tôi đang làm giáo sư ở trường Cao đẳng tiểu học Vinh”. (…) “Một nhóm nhà giáo ở Vinh, trong đó có tôi và các cụ Phan Sĩ Bàng, Nguyễn Hiệt Chi v.v… đã cùng nhau nghiên cứu lai lịch Truyện Kiều và tiểu sử tác giả của nó (…). Hồi ấy có khá nhiều điều kiện thuận tiện giúp chúng tôi làm tốt việc đó, nhất là người biết chữ Hán, chữ Nôm còn nhiều, trong đó có cụ Tời (tức Nguyễn Phụ) là cháu bốn đời của Nguyễn Du và cụ Nghè Mai, người đại diện trí thức rất tiêu biểu của toàn họ Nguyễn Tiên Điền. Nhà cụ Nghè Mai có một tủ sách chữ Hán từ mấy đời trước truyền lại. Trong tủ sách này có đầy đủ thư tịch các loại: ngoài những bộ sách quý về sử học, văn học, còn có những sách truyện, những tập thơ văn, của nhiều tác giả nước ta nhất là của Hồng – Sơn văn phái, trong đó có gần đủ những tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du.
“Mỗi lần tiếp xúc với cụ Nghè Mai, cũng như với các cụ tôn trưởng khác trong họ, chúng tôi có để ý dò hỏi xem trong họ có còn ai giữ được nguyên bản Truyện Kiều, do chính tay tác giả viết ra hoặc có tự tích tác giả sửa chữa, các cụ đều nói là không có bản nào”(3).
Có một băn khoăn nảy ra: Tại sao từ năm 1922 và sau đó, cụ Nghè Mai không nói gì với cụ Lê Thước về “bản Tiên Điền” mà cụ đã cho Phạm Kim Chi mượn? Câu hỏi này chỉ có thể được trả lời là: Vì “bản Tiên Điền” không phải là “nguyên bản” Truyện Kiều do chính tay tác giả viết ra hoặc có tự tích tác giả sửa chữa” như mục tiêu tìm hiểu của cụ Lê Thước.
3. Năm 1925, khi biên soạn Truyện Thúy Kiều(4), ta thấy Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim cũng chỉ nhắc tới bản Phường, bản Kinh chứ không hề nói tới “bản Tiên Điền”. Nhưng đến năm 1957, khi biên soạn lại Truyện Kiều đưa in tại Nxb Phổ Thông, cụ Bùi Kỷ lại viết: “Bản mà Nxb Phổ Thông in ra bây giờ là theo bản chữ Nôm của ông Nguyễn Mai là cháu cụ Nguyễn Du còn giữ lại. Trong bản này còn chép cả những lời phê của cụ Phạm Quý Thích (?) và cụ Nguyễn Lạng vào từng câu trong truyện, và còn có một số tiếng cũ như tiếng “nghỉ”, “đánh đường”, “nhận ngừng” v.v… là bằng chứng”. Về điều này, ngay từ nă 1965, ông Nguyễn Văn Hoàn đã cho biết: “Sự thực thì khi hiệu đính bản Kiều này cụ không còn giữ được bản Kiều chép tay đó để tra cứu mà chỉ dựa vào bản quốc ngữ do cụ hiệu đính từ trước và đã được nhà sách Tân Việt in lại rồi sửa chữa theo ý riêng”(5).
4. Năm 1965, cũng theo Nguyễn Văn Hoàn, ông Nguyễn Mai cho biết rằng: “Năm Tự Đức tổ chức lễ “tứ tuần đại khánh” (tức là năm Mậu Thìn, 1868), Triều Nguyễn có bắt họ Nguyễn Tiên - Điền nộp vào Kinh mấy bản Kiều. Họ Nguyễn đã sao ba bản: một bản nộp tỉnh đường địa phương; một bản nộp Quốc sử quán kinh đô; một bản đưa vào cung nội. Tự Đức đã dựa vào bản đó để sửa chữa lại lời văn Truyện Kiều rồi đem khắc ván. Đó là bản Kinh. Tự Đức đã làm việc đó trong thời gian làm vua, tức là trong khoảng thời gian 1847-1883” (sđd, tr.20). Như chúng tôi đã chứng minh: Không hề có bản Kinh với nghĩa là bản do vua Tự Đức đưa in. Nhưng nếu chúng ta vẫn tin vào trí nhớ của ông Nghè Mai thì một nhận xét sẽ được rút ra ở đây là: sau khi ông Nguyễn Tiên Điền sao ba bản và đã nộp hết đi như thế, thì tới năm 1868, gia tộc Nguyễn Du vẫn còn lại một bản Truyện Kiều. Bản Truyện Kiều đó có thể là di cảo của Nguyễn Du, được chép thời Nguyễn Du còn sống (vì tính đến năm 1868, Nguyễn Du mới mất 48 năm), nhưng quyết không thể là bản mà cụ Nghè Mai cho Phạm Kim Chi mượn vào đầu thế kỷ. Bởi vì khi viết Truyện Kiều, Nguyễn Du chỉ xem đó là “lời quê chắp nhặt rông dài, mua vui cũng được một vài trống canh”, tất nhiên ông không có nhu cầu phải làm công việc chú giải từng câu, từng chữ - như hình thức “bản Tiên Điền” ngày nay. Việc bình chú Truyện Kiều như thế, chỉ có thể xảy ra vào cuối thế kỷ XIX – khi mà Truyện Kiều đã được phổ biến rộng rãi từ Nam chí Bắc, khi mà Nguyễn Du mất đã khá lâu. Việc chú giải đó là do nhu cầu từ phía người thưởng thức, người giảng dạy sau này.
5. Năm 1972, lần đầu tiên “bản Tiên Điền” được Nguyễn Thạch Giang mô tả vắn tắt:
“Bản Tiên Điền”, khổ 14 x15, 3,256 câu, chữ nhỏ hàng 20, viết rất công phu. Tờ đầu gần như mất hẳn, không đọc được chữ nào. Tờ thứ hai chép Nguyễn Hầu liệt truyện, tiếp theo là bài thơ đề từ của Phạm Quý Thích. 41 tờ còn lại chép văn bản Truyện Kiều, chia làm ba tầng: tầng trên là phần chú thích, tầng giữa câu lục, tầng dưới câu bát (xem các phụ bản XV, X)”. Ở đoạn này, Nguyễn Thạch Giang chú thích: “Sau khi cụ Nghè Mai qua đời, ông Lê Liêu trước vốn ở cùng nhà với cụ giữ bản Kiều này. Trong dịp vào Tiên Điền tìm văn bản Truyện Kiều vào đầu tháng 10 – 1962, ông Lê Liêu đã cho chúng tôi mượn lại. Theo cụ Nguyễn Châu, cháu xa đời của Nguyễn Du cho biết thì chính bản Kiều này là bản Nôm được truyền lại từ trước, lúc sinh thời cụ Nghè Mai thường đem ra đọc” (sđd, tr.97).
Nhưng mà, năm 1962 cụ Nghè Mai đã qua đời rồi, nên ta không rõ khi nói rằng “bản Nôm được truyền lại từ trước đây là truyền lại từ bao giờ?
6. Vậy chúng ta hãy trở lại gia đình cụ Nghè Mai qua hồi ức của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn:
“Hồi ấy (năm 1942-1943) tôi nghỉ hè về quê được 3, 4 tuần, thành ra tôi vào Tiên Điền. Họ cụ Nguyễn Du, lúc ấy chỉ còn một người tai mắt là ông Nghè Mai, gọi là ông Nghè Mai, trước là bạn học với cha tôi, cho nên cha tôi vào thăm thì nhân dịp ấy tôi vào theo. Tôi nói chuyện lâu lắm, tôi hỏi thì biết rằng từ trước đến giờ, người ta vào đây tìm ông Nghè Mai nhiều, hoặc là tìm bạn cũ, hoặc nói là tìm bản cũ của cụ Nguyễn Du. Cái lối ngày xưa, người ta hỏi cái gì thì trả lời chóng vánh cho khỏi lôi thôi, thì cụ cứ ừ hết cả. Thành ra cụ có cho người này bản này, người kia bản kia, người nào cũng tưởng là bản của cụ Nguyễn Du cả. Mà sự thực không phải thế”.
“Hiện bây giờ, người ta xuất bản nhiều quyển Kiều bằng quốc ngữ. Có người đưa những bản, nói rằng lấy ở trong Tiên Điền ra. Mà trong Tiên Điền, con cháu cụ Nguyễn Du thì không có người nào xuất sắc, học hành gì cả. Trên tôi đã nói, trong họ có ông Nguyễn Mai, đậu Tiến sĩ đời Duy Tân(6) đầu thế kỷ XX, sau ông không làm quan, thì ở nhà. Ai đến Hà Tĩnh, vào Tiên Điền cũng tìm gặp ông Nghè Mai hỏi tin tức với sách vở về cụ Nguyễn Du. Lời các cụ hồi trước, mình chỉ tin được phần nào mà thôi, không có sự thực, vì các cụ không có óc thiết thực, không có óc khoa học, hai nữa cũng không thấy cái mục đích phải nói thực làm gì”(7).
Chúng ta không có quyền trách cụ Nghè Mai. Việc “cụ có cho người này bản này, người kia bản kia, người nào cũng tưởng là bản của cụ Nguyễn Du cả “thì lỗi là lỗi của cái người “tưởng” đó. Bởi vì có người đã cất công vào thăm cụ, thì cụ cho một bản Kiều chép tay như một kỷ niệm mà thôi; chứ còn với những ai có đầu óc thiết thực, “có óc khoa học” như nhóm của cụ Lê Thước khi vào thăm, hỏi về “nguyên bản Truyện Kiều” do chính tay tác giả viết ra hoặc có tự tích tác giả sửa chữa thì cụ Nghè Mai đã thẳng thắn trả lời “không có bản nào” ngay từ năm 1922 rồi.
Từ lẽ này mà suy ra, thì thấy Phạm Kim chi có lẽ cũng là người “không có óc thiết thực”, “không có óc khoa học”. Vốn làm nghề thông ngôn, khi mượn được bản viết tay loại này, ông đã yên chí “tưởng” rằng đó là “bổn chánh”. “Kim Túy tình từ” mà không hề lưu tâm tới chữ “bổn chánh”, “chắc gốc” mà ông dùng đã gây hiểu lầm – hay cũng gây ra sự thắc thỏm trông chờ của người đọc.
Thực ra thì, ngày nay, sau khi đã xét kỹ về cái gọi là “bản Kinh”, “bản Phường” và nhất là khi thấy sự bố cục của “bản Tiên Điền” cùng các chú thích của nó nhang nhác bản in Đoạn Trường tân thanh của Kiều Oánh Mậu, chúng tôi không sợ sai lầm để nghĩ rằng: “bản Tiên Điền” đã chịu ảnh hưởng một cách rất sâu sắc bản Kiều Oánh Mậu. Nó chỉ có thể ra đời vào những năm của thập niên đầu của thế kỷ này.
Sau đây là sự suy nghĩ của chúng tôi:
II. Thực chất “Bản Tiên Điền”
Xét trong dòng họ Nguyễn Du, ta thấy “con cháu cụ Nguyễn Du thì không có người nào xuất sắc, học hành gì cả” (Hoàng Xuân Hãn) chỉ có ông Nguyễn Mai là “người đại diện trí thức rất tiêu biểu của toàn họ Nguyễn Tiên Điền” (Lê Thước). Tuy nhiên, cũng theo Lê Thước, ông Nguyễn Mai lại “thuộc một chi họ khác, tức chỉ của Nguyễn Trọng, em Nguyễn Nghiễm. Vậy đối với Nguyễn Du, ông Nghè Mai là cùng một họ, song khác chi”. Ông sinh năm Bính Tý (1876), đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn niên hiệu Thành Thái 16 (1904). Như vậy là khi ông đỗ Tiến sĩ vào năm 28 tuổi thì Nguyễn Du đã qua đời 84 năm. Sau khi thi đỗ, ông Nguyễn Mai “không làm quan, thì ở nhà” (Hoàng Xuân Hãn). Như thế, việc ông Nguyễn Mai có nhiều bản Truyện Kiều chép tay mà Hoàng Xuân Hãn vào những năm 40 của thế kỷ này đã chứng kiến việc ông “có cho người này bản này, người kia bản kia” làm cho chúng tôi có cơ sở để đặt giả thiết rằng: ngay sau khi thi đỗ “không làm quan, thì ở nhà” ông mới có thời gian – vì không còn bận “dùi mài kinh sử” thi cử - để ngồi chép các bản Kiều chữ Nôm làm quà tặng khách.
Ta lại rất cần chú ý rằng, vào năm 1904, sau khi ông đỗ Tiến sĩ thì bản Đoạn Trường tân thanh đã được in, phát hành rộng rãi hai năm rồi. Tôi không dám nói chắc rằng “bản Tiên Điền” đã được sao chép bởi ông Nghè Mai. Nhưng tôi có thể nói chắc rằng vào năm Duy Tân thứ 9 (1915), khi ông Nguyễn Mai viết Bài Tựa cho cuốn Kim Túy tình từ của Phạm Kim Chi để chuyển “bản Tiên Điền” ra chữ quốc ngữ thì bản in của Kiều Oánh Mậu (1902) đã lưu hành 13 năm rồi. Bản này đã được ông đọc rất kỹ. Vả lại, đọc Bản Kiều Oánh Mậu cũng như “bản Tiên Điền” cùng những chú thích kỹ càng trong đó, ta thấy rằng để chép lại một văn bản như thế thì khỏi nói làm gì, còn như để biên soạn từ đầu thì sức một người không dễ gì làm trong một vài năm mà xong được. Cứ xem như Kiều Oánh Mậu (1854-1912) hơn ông Nguyễn Mai 22 tuổi, đỗ đại khoa (Phó bảng) trước ông 24 năm, vốn là người quen với công việc trước thuật, đã có nhiều công trình nghiên cứu biên dịch được lưu hành(8) và từng làm chủ bút báo Đồng văn nghĩa là người có vốn học vấn vững chắc; thế mà, để hiệu đính bản Truyện Kiều này ông đã phải “tham khảo đính chính và sưu tầm trải qua vài ba chục năm” (Mười điều lệ ngôn), phải đợi đến năm 1898, khi được Đào Nguyên Phổ tặng cho một bản Kiều chép tay có chú thích từ kinh đô Huế mang về, ông mới có tài liệu tốt mà gấp rút hoàn thành việc biên soạn, thì thấy rõ là phần chú giải Đoạn trường tân thanh thực chất đã có phần góp khá quan trọng của những Tiến sĩ những nhà Nho làm quan trong triều đình Huế mà bản Kiều Oánh Mậu chỉ là tập đại thành.
Tình hình đó cho phép ta nghĩ rằng: xét trong dòng họ Nguyễn Du, dù là ông Nghè Mai chăng nữa, cũng khó có thể tự mình biên soạn “bản Tiên Điền” với những chú thích bám sát Kiều Oánh Mậu kỹ càng như thế.
Ở trên, tôi đã nói rằng ông Nghè Mai đã đọc Đoạn trường tân thanh rất kỹ. Bằng cứ là khi viết Bài tựa cho Phạm Kim Chi vào năm 1915, ông đã dùng lại nhiều chữ, nhiều văn liệu, nhiều ý tứ mà Đào Nguyên Phổ đã viết trong Bài tựa cho bản Kiều Oánh Mậu (1998).
1. Ta hãy xem:
Đào Nguyên Phổ 1898 | Nguyễn Mai 1915 |
- “Ngã Việt tự Trần triều Hàn Thuyên thủy dụng quốc âm”… (Nước Việt ta từ Hàn Thuyên đời Trần bắt đầu dùng quốc âm thơ phú)… | - “Cái kế Hàn Thuyên Sĩ Cố chư giai tác nhi cú yêu dụng vận” (nối tiếp các bài hay của Hàn Thuyên, Sĩ Cố…) |
- “Phan Trần Hoa Tiên quân xưng kiệt xướng, vị miễn thuần tỳ hỗ bán nhã tục ứ văn” (Truyện Phan Trần, Hoa Tiên đều được xưng là kiệt xướng, song cũng chưa thoát khỏi còn có câu hay câu dở chỗ nhã chỗ tục)… | - “Nghĩ Phan Trần Hoa Tiên liệt danh biên nhi bút hạ hữu thần”. (Truyện Kiều sánh với Truyện Phan Trần, Hoa Tiên cũng thuộc loại thơ hay mà hạ bút có thần). |
- “Thế nhân cầu chiêm bốc vấn ứng dã như hưởng “(Người đời dùng để cầu xem bói toán thấy ứng nghiệm ngay). | - “Linh diệu khả tham bốc phệ” (sự linh diệu - của Truyện Kiều – có thể dùng để làm sách bói toán). |
- “Kỳ từ, lệ dĩ ba; kỳ diệu viên nhi hưởng”. (Lời lẽ xinh xắn mà văn hoa, âm điệu âm vang mà tròn trịa) | - “Từ, lệ dĩ ba; vận, viên nhi hưởng” (Lời lẽ xinh xắn mà văn hoa, âm điệu vang mà trong trịa). |
- “Tiết thái cổ nhân chi diệm khúc tình từ, bàng cập ngã quốc chi phương ngôn ngạn ngữ (Lượm lặt những diễm khúc tình từ của cố nhân; lại góp đến phương ngôn ngạn ngữ nước nhà) | - “Cổ nhân chi diễm khúc giai từ bị trần hào soạn, bản quốc chi phương ngôn ngạn ngữ kiêm thái sô nghiêu”. (những diễm khúc giai từ của cổ nhân được bày ra đầy đủ, lại kiêm thu lượm cả những lời phương ngôn ngạn ngữ của bản quốc). |
- “Đại trượng phu thưởng tụ tam bài, ẩm Chính Thái trà, độc Thúy Kiều truyện chân thị hợp thú” (Lời xưa có nói: “Làm trai biết đánh tổ tôm, uống trà Chính Thái xem Nôm Thúy Kiều” mới là hợp thú tao nhã). | - “Khởi cẩn tụ tam bài Chính Thái trà phong lưu cạnh thưởng”… (Há chi đánh tổ tôm, uống trà Chính Thái mới là đua nhau thưởng thú phong lưu). |
- “Kim nhật hàn mặc chi khách, thoa quần chi lưu dĩ cập cổ khách thôn hào mạc bất thủ thử nhất biên dĩ vi nhã thưởng” (Ngày nay nào khách văn chương, bạn thoa quần, cho đến kẻ buôn bán, người thôn hào, không ai là không có một quyển Kiều cầm tay để thưởng thức). | - “Hàn khách từ nhân tứ tứ lạc đạo, thôn đồng khuê nữ phún phún tranh đàm” (Cả từ nhân hàn khách đều vui lòng ngâm ngợi ran ran; đến khuê nữ, trẻ quê cũng ra sức tranh bàn không ngớt). |
2. Khi nghiên cứu bản Tiên Điền và bản Phạm Kim Chi, Nguyễn Thạch Giang có nhận xét: “Những câu của bản Kinh và những câu khác hẳn các bản Kiều khác chép ở trong bản Phạm Kim Chi, thì ở bản Tiên Điền cũng ghi đúng như thế” (Sđd, tr.97). Thoạt xem, ta tưởng nhận xét như thế này là thừa vì mọi người từ lâu đã biết rằng bản Phạm Kim Chi chỉ là bản phiên âm “theo” bản gốc của gia đình họ Nguyễn Tiên Điền tức là bản Tiên Điền. Nhưng vấn đề lại là ở chỗ sự viết như vậy đã khiến cho người đọc phải hiểu là: bản Tiên Điền (tức Phạm Kim Chi) khác hẳn các bản Kiều khác. Chúng ta sẽ thấy dưới đây rằng sự thực không phải như vậy: rằng bản Tiên Điền thực chất đã ảnh hưởng sâu sắc bản Kiều Oánh Mậu hay nói trắng ra là đã tham khảo khá kỹ Kiều Oánh Mậu. Điều này thể hiện như sau:
2.1. Nguyễn Thạch Giang đã dẫn ra “19 câu theo bản Kinh của Phạm Kim Chi là: 531; 536 = 6 câu và các câu 633, 863, 938, 1186, 1426, 1531, 1682, 1705, 1756, 2355, 2523, 2790, 3017” (Sđd, tr.97)” để cho ta biết rằng bản Tiên Điền “cũng ghi đúng như thế”.
Thế nhưng, mang 19 câu này so với bản Kiều Oánh Mậu, thì chúng tôi thấy hoàn toàn trùng khớp (Xem phụ lục I). Vì thế đây không phải là đặc điểm gì của “bản Tiên Điền”. (Duy có câu 1186, bản Phạm Kim Chi chép là “Ai ai cũng gớm mặt người vô lương” thì Kiều Oánh Mậu lại chép “Kẻ chê bất nghĩa người cười vô lương”, nhưng ông đã chú thích rõ: “Bản Kinh chép là: Ai ai cũng gớm mặt người vô lương”. Nghĩa là câu này ông không đề theo bản Kinh). Điều này chứng tỏ rằng Kiều Oánh Mậu làm việc nghiêm túc: Như trong bài Lệ ngôn ông đã nói, ở bản này, từng câu từng chữ ông để theo bản Kinh. Nhưng vì ở câu này, muốn để theo bản Phường, nên ông phải chú thích để tỏ rõ sự cân nhắc của ông – cũng như người chép laịi ông vẫn có quyền cân nhắc, để theo bản Kinh câu thơ này. Ta lại phải ngờ: Tại sao “bản Tiên Điền” lại giống bản Kinh mà Kiều Oánh Mậu dùng làm bản chính đến như vậy?
2.2. Còn như nói rằng “bản Phạm Kim Chi (tức bản Tiên Điền Đ.T.T) là bản đầu tiên có những câu khác hẳn các bản Kiều khác: 299 – 300, 357, 374, 414, 1057, 1129, 1153, 1880, 2008” (Sđd, Tr.98) thì chúng tôi thấy cũng không phải như vậy. Bởi vì trong 10 câu mà Nguyễn Thạch Giang dẫn ra trên đây thì 7 câu đã có trong bản Kiều Oánh Mậu; Còn 3 câu khác thì, qua chú thích của bùi Kỷ Trần Trọng Kim, ta thấy các ông cũng đã có những bản “Kiều khác”, đại đổng tiểu dị với “bản Tiên Điền” (Xem phụ lục II). Như thế sao có thể nói rằng “bản Phạm Kim Chi” có những câu khác hẳn các bản Kiều khác” được?
Tóm lại là: Qua 29 câu thơ mà Nguyễn Thạch Giang nêu ra để xem như đặc điểm của bản Tiên Điền thì 26 câu đã nằm gọn trên bản Kiều Oánh Mậu, chỉ có 3 câu là nằm ở các bản “Kiều khác” mà Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim cũng có.
3. Đến đây, chính việc chứng minh rằng không hề có “bản Kinh” của Truyện Kiều được vua Tự Đức cho in vào năm 1871, rằng bản Kinh thực chất chỉ là các bản Kiều chép tay có chú thích khảo dị bởi các nhà Nho trong Kinh, đã giúp chúng ta đi đến kết luận không sợ sai lầm là: “Bản Tiên Điền” thực chất chỉ là bản sao lại có sửa chữa bản Kiều Oánh Mậu. Bởi lẽ:
3.1. Vì “bản Kinh” thực chất chỉ là bản chép tay có sự chú thích khảo dị của các ông quan trong triều đình Huế với mục đích chép làm bản sách của riêng mỗi người để thưởng thức, nên tùy theo thẩm mĩ và trình độ của từng người mà mỗi bản có thể đổi chữ này sửa chữ khác trong các bản Kiều đã có. Các “bản Kinh” này, sau đó lọt vào tay nhà biên khảo nào, thì nhà biên khảo ấy dùng làm tài liệu để so sánh với bản Phường - tức là các bản Nôm in bán ở phường Hàng Gai Hà Nội.
3.2. Vì thế, ta thấy cũng là “bản Kinh” cả, mà nhiều khi ở một vài câu thơ nào đó, “bản Kinh” trong chú thích của Kiều Oánh Mậu khác “bản Kinh” trong chú thích của Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim.
3.3. Đến đây, một vấn đề tế nhị cần lưu tâm làm cho rõ là:
Khi viết về “bản Kinh và bản Phường”, Nguyễn Thạch Giang cho rằng: “Cho đến nay chúng ta chỉ bằng vào các lời chú trên một số bản Kiều (chủ yếu là bản Kiều Oánh Mậu) mà biết được tổng số câu của bản Kinh khác bản Phường là 152 câu. Bản Kiều Oánh Mậu chỉ đế theo bản Kinh 21 câu” (Sđd. tr.95). Nếu bản Kiều Oánh Mậu “chỉ để theo bản Kinh 21 câu” thì sao lại cho là bản chủ yếu để nhờ đó mà biết được 152 câu bản Kinh khác bản Phường?.
Thực ra, phải quan niệm như Nguyễn Văn Hoàn mới đúng: Số là, do không có bản Kinh (mà ngày đó tưởng là bản in) trên tay, nên vào những năm 60, ông Nguyễn Văn Hoàn đã phải đếm các chú thích có hai chữ “bản Kinh” trong sách của Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim để lặt ra được 146 trường hợp bản Kinh khác bản Phường, để hình dung ra “bản Kinh”. Con số 146 này đã được Nguyễn Thạch Giang công nhận. Vì thế phải nói rằng: Căn cứ chủ yếu để tìm ra những câu bản Kinh khác bản Phường là bản Kiều của Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim, mới phải.
Tuy nhiên, do tưởng rằng có một “bản Kinh” được Tự Đức in vào năm 1871, nên khi thấy “bản Bùi Kỷ có cước chú tất cả 146 câu” mà “bản Kiều Oánh Mậu chỉ dựa theo bản Kinh có 23 câu”, ông Nguyễn Văn Hoàn bèn cho là bản Kiều Oánh Mậu khác xa bản Kinh mà lại rất gần với bản Phường” (sđ d, Tr.31, 32). Sự thực thì so sánh như vậy là không chính xác. Bởi vì, khi biên soạn Đoạn Trường tân thanh, Kiều Oánh Mậu chủ trương “về câu và chữ, thì dựa theo “bản Kinh” làm chính (Mười điều lệ ngôn); Ngược lại; đến năm 1925, khi biên soạn Truyện Thúy Kiều, Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim lại chủ trương “lấy bản Phường làm cốt” (lời tựa). Chính vì thế mà khi chọn những câu nào để theo bản Kinh, nghiễm nhiên là Kiều Oánh Mậu không phải chú thích nữa. Ông chỉ đưa xuống chú thích những câu “bản Kinh” mà ông không theo. Ngược lại, vì “lấy bản Phường làm cốt” nên Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim bỏ đi nhiều câu của “bản Kinh”, ghi xuống chú thích.
Như vậy, phải nói là bản Kiều Oánh Mậu rất gần với bản Kinh.
4. Như chúng tôi đã chứng minh trên Tạp chí Văn học số tháng 2 năm 1998, thuật ngữ “bản Kinh” mà giới nghiên cứu Truyện Kiều dùng từ năm 1925 thực ra chỉ là dịch từ hai chữ Kinh bản mà Kiều Oánh Mậu như vô tình dùng năm 1962 để chỉ bản chép tay do Đào Nguyên Phổ mang ở Kinh đô Huế về tặng ông, chứ không phải bản chép tay nào khác. Thế mà 26 trong 29 câu Nguyễn Thạch Giang lọc ra từ bản Tiên Điền không trùng với “bản Kinh” nào khác mà lại hoàn toàn trùng với những câu tương ứng của bản Kiều Oánh Mậu. Điều đó chứng tỏ rằng bản Tiên Điền đã chép theo Kiều Oánh Mậu.
Tôi chắc chắn rằng khi nói “bản Phạm Kim Chi” (tức Tiên Điền, Đ.T.T) có 19 câu để theo bản Kinh” là Nguyễn Thạch Giang đã phải so 146 câu mà Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim chú thích với những câu tương ứng của “bản Tiên Điền” mà có; chứ còn nếu như ông so cả 3256 câu Kiều của “bản Tiên Điền” với bản Kiều Oánh Mậu (nghĩa là so với những câu Kiều Oánh Mậu để theo bản Kinh mà nghiễm nhiên không phải chú thích) thì con số đó không phải chỉ là 19 mà sẽ cao hơn rất nhiều. Nghĩa là bản Tiên Điền gần với bản Kiều Oánh Mậu chứ không phải gần với bản Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim.
Đến đây, có trường hợp Nguyễn Thạch Giang dẫn ra mà tôi hơi ngợ. Đó là câu 2355 “Dưới cờ gươm tuốt nắp ra”. Câu này cả bản Kiều Oánh Mậu và Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim đều không chú. Vậy ta có thể hiểu câu này là của bản Phường (theo chủ trương biên soạn của Bùi Kỷ), cũng được và bảo rằng câu này là của bản Kinh (theo chủ trương biên soạn của Kiều Oánh Mậu), cũng được. Thế thì căn cứ vào đâu mà Nguyễn Thạch Giang lại xếp câu này của bản Tiên Điền vào loại câu bản Kinh?
Lại có trường hợp, tôi thấy cả bản Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim lẫn “bản Tiên Điền” đều ảnh hưởng Kiều Oánh Mậu. Chẳng hạn câu 631 “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”. Về câu này, Kiều Oánh Mậu chú thích là: “Sỗ sàng do bạo dạng. Ngôn vô tân lang tu quí trạng. Kinh, Phường sẵn phi”. (Sỗ sàng nghĩa là bộ dạng thô bạo. Ý nói không có vẻ bẽn lẽn cần có của chàng rẻ mới. Bản kinh, bản Phường đều chép là “sẵn”. Sai!). Rõ ràng là chữ “sỗ” này là chữ do Kiều Oánh Mậu sửa. Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim và “bản Tiên Điền” đều viết “sỗ sàng" mà không hề chú thích gì(9). Vậy phải chăng đây cũng là chứng cứ để ta nghĩ rằng các “bản Tiên Điền” và Bùi Kỷ đã chép theo Kiều Oánh Mậu? Về câu thơ này Nguyễn Thạch Giang cũng chép là “sỗ sàng” và cho biết bản Quan Văn đường viết là “sẵn sàng”. Thì cũng thế thôi. Vì bản Quan Văn đường in năm 1906, sau Kiều Oánh Mậu 4 năm. Thế thì bản này chỉ chép theo một bản Phường nào đó mà trước 1902 có thể là chưa có, nên Kiều Oánh Mậu chưa thể dùng để khảo dị mà thôi. Ta cũng có quyền ngờ bản Quan Văn đường (1906) này ảnh hưởng Kiều Oánh Mậu.
5. Mối ngờ của chúng tôi càng trở nên rõ ràng hơn nữa, khi, qua phụ bản số VII a chụp “Trang đầu bản Tiên Điền” (Nguyễn Thạch Giang, Sđd, tr.563), thấy tại câu 8 “Phong tình có lục còn truyền sử xanh” được chú thích: “Có, cổ dã” (chữ có nghĩa là cổ). Sự chú thích về chữ có chứng tỏ rằng văn bản này xuất hiện muộn. Bởi vì theo ông Nguyễn Văn Hoàn thì “bản Kiều quốc ngữ đầu tiên phiên âm thành Phong tình cổ lục là bản của Noóc-đờ-man, in năm 1879”, còn trong các bản Nôm sưu tầm, “chỉ thấy có bản Kim Vân Kiều truyện, Phúc An hiệu tàng bản, Hà Nội. Quí Dậu niên phục tân san (1933) khắc là cổ lục” (sđd, tr.69).
Chi tiết này khiến ta phải nghĩ rằng: Một khi mà tất cả các bản Nôm đều chép là có (固) lục mà có bản nào đó chép là cổ (古) lục thì chẳng qua người chép cũng nghe sao chép vậy thôi, chứ không có ý thức hoặc nhu cầu phải chú thích hoặc biện giải gì. Có lẽ người chú giải sớm về chữ này là Tản Đà. Nhưng trong Vương Thúy Kiều chú giải tân truyện(10) ông cũng chú giải một cách ang áng chứ không biện luận gì: “Phong tình có lục” nghĩa là có cái bản trong truyện phong tình. Chữ có nhiều bản đề là cổ, vì ở chữ Nôm ta xưa, trong chữ (固) có, có chữ (古) cổ”. Đến năm 1965, thì Nguyễn Văn Hoàn đã phải viết hàng trang để trình bày lịch sử văn bản xuất hiện chữ “cổ” và cả cách viết chữ thảo của chữ “có” (@) nhưng ông vẫn cho rằng “phiên âm là Phong tình có lục thì ổn về văn lý và giữ được tính nhất quán trong cả đoạn văn này hơn, mặc dù bốn chữ Phong tình cổ lục không phải là không có nghĩa và không có một giá trị nhất định về mặt âm hưởng câu thơ” (sđd. tr.68, 70). Trong khung cảnh ấy, nếu như “bản Tiên Điền” xuất hiện từ rất sớm – hay cho dù là bản ở đời Tự Đức (1848-1883) chăng nữa, mà đã có ý thức chú thích “Có cổ dã” (chữ có nghĩa là cổ) thì lạ quá! Lạ không phải vì chú như thế là quá đơn giản, chẳng thà đừng chú còn hơn (vì không có sự “tá tự” của hai chữ này, vì không thể dùng một chữ Nôm để “tá tự” một chữ Hán”, mà lạ là lạ ở chỗ việc chú thích đó đã phản ánh công việc của công tác chú giải văn bản Truyện Kiều từ phía người thưởng thức, từ ý thức khoa học của người biên soạn Truyện Kiều ở thời hiện đại. Điều lạ lùng nữa là không hiểu vì sao cái chú thích này không được phiên dịch sang bản Phạm Kim Chi – trong khi Phạm Kim Chi vẫn để câu thơ này là “Phong tình cổ lục”? Hay là “bản Tiên Điền” mà Nguyễn Thạch Giang mượn được năm 1962 không phải là bản mà ông Nghè Mai đã cho Phạm Kim Chi mượn vào năm 1915, mà chỉ là một trong loạt bản sao lại của bản đã sao lại mà sau năm 1941 ông Nghè Mai đã cho người này bản này, người kia bản kia” như Hoàng Xuân Hãn đã chứng kiến, thuật lại?
Sự tìm hiểu trên đây về “Bản Tiên Điền” đã cho phép chúng tôi chắc tin rằng đây không thể là bản thảo do Nguyễn Du để lại hoặc bản sách có một chút tự tích gì của Nguyễn Du. Đây là bản mà sau khi Nguyễn Du mất khá lâu, Truyện Kiều đã trở nên nổi tiếng trong cả nước, thậm chí đã có rất nhiều bản in rồi, những người trong dòng họ Nguyễn Du mới chép lại để lưu giữ một kỷ niệm; một áng văn chương “gia bảo” đã trở thành “quốc bảo” mà thôi. Bản sách này rõ ràng là đã ra đời sau bản Kiều Oánh Mậu. Về cả nội dung lần hình thức, nó đã bị bản Kiều Oánh Mậu trùm lên. Tuy vậy, có thể chỉ là do quan niệm thẩm mĩ mà người chép sách đã tự ý chép một số câu chữ và chú thích khác hẳn các bản Kinh lần bản Phường. Ngay cả tên sách, cũng bị sửa thành cái tên xa lạ: Kim Túy tình từ. Dù cho hiểu Túy đây là âm đọc địa phương của chữ Thúy (Thúy Kiều) chăng nữa (11) thì việc tên sách được đặt bằng cụm từ ấy cũng đã chứng tỏ được trình độ và thẩm mĩ của người chép.
Đó là lý do mà những người nghiên cứu Truyện Kiều – ngay cả Nguyễn Thạch Giang – cũng không mấy mặn mà với “bản Tiên Điền”, chỉ giới thiệu văn bản này theo dùng điểm lại lịch sử các văn bản.
Tuy nhiên sự điểm duyệt văn bản này một cách “khách quan”, xem văn bản này bình đẳng với các văn bản quan trọng khác mà không tìm hiểu xuất xứ thực chất của nó đã không khỏi làm cho người đọc bấy lâu nay hằng kỳ vọng, cứ thấp thỏm trông chờ vào một bản sách tưởng như bản “gia truyền”, tưởng như di cảo Nguyễn Du.
Chú thích:
1. Văn hóa tùng thư số 48. Nhà văn hóa. Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa tái bản. 1972. “Đúng y theo nguyên bản do Phạm Kim Chi phiên chú, Nguyễn Thành Điểm xuất bản tại Sài Gòn năm 1917”.
2. Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, H, 1972.
3. Kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du (1767-1965). Viện Văn học. Nxb KHXH, H, in lần thứ hai, 1971.
4. Nxb sách giáo khoa Tân Việt, Sài Gòn. In lần thứ ba, 1950
5. Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh). Nxb Văn học, H, 1966.
6, 7. Học giả Hoàng Xuân Hãn nói về Truyện Kiều. Tạp chí Văn học số 3-1997. Có thể người gỡ băng bài nói bị lầm: ông Nguyễn Mai đỗ Tiến sĩ vào năm Thành Thái 16 (1904).
8. Kiều Oánh Mậu còn có tên là Kiều Dực, hiện Giá Sơn, tự Tử Yến, người tỉnh Sơn Tây. Ngoài việc hiệu đính Truyện Kiều ông còn: là tác giả Bản triều bạn nghịch liệt truyện (A.197); đề tựa sách Tang thương ngẫu lục (A.218); Duyệt sách Bút toán chỉ nam (A.1031); Diễn Nôm Tỳ bà quốc âm tân truyện (AB.272); (theo Lược truyện các tác gia Việt Nam).
9. Ta càng thấy rõ rằng có nhiều cái gọi là “bản Kinh” khác nhau: Trong “bản Kinh” mà Nguyễn Doãn Cử mang về Thái Bình, câu này vẫn được chép là “sỗ sàng”.
10. Nxb Tân Dân, H, 1941. Dẫn theo bản Nxb Hương Sơn, H, tái bản 1952.
11. Có lẽ người đầu tiên đọc Thúy Kiều, thành Túy Kiều là P.J.B. Trương Vĩnh Ký trong bài tóm tắt Truyện Kiều tại bản in ở Sài Gòn năm 1875 (trang 7 đến trang 12). Tuy nhiên tên sách vẫn là tên quen thuộc: “Poème Kim-Vân-Kiều truyện”.
Phụ lục I:
19 CÂU ĐỀ THEO BẢN KINH CỦA BẢN PHẠM KIM CHI (PKC) SO VỚI KIỂU OÁNH MẬU (KOM)
- Câu 531 – 536 (bản PKC): | - Câu 531 – 536 (bản KOM): |
Mở xem thủ bút nghiên đường, Nhắn rằng “Thúc phụ xa đàng mệnh chung. Hãy còn ký táng Liêu Đông, “Cố hương khơi diễn ngàn trùng sơn khê. Rày đưa linh thẩn về quê, “Thế nào con cũng phải về hộ tang” | Bản KOM cũng chép đúng như PKC. Ngoài ra còn chú rõ “Tòng Kinh bản thiên cộng tam cú” (Theo bản Kinh thêm vào, cộng là ba câu). Ba câu là ba câu lục bát. Tức sáu dòng thơ. |
- Câu 633 (PKC): | - Câu 635 (KOM): |
Nỗi mình đương tức nỗi nhà | Nỗi mình đương tức nỗi nhà. |
- Câu 863 (PKC): | - Câu 863 (KOM): |
Đánh liều âu cũng giãn dần | Đánh liều âu cũng dạng dần |
- Câu 938 (PKC): | - Câu 938 (KOM): |
Bướm đi ong lại ầm ầm tứ vi | Bướm đi ong lại ầm ầm tứ vi |
- Câu 1186 (PKC): | - Câu 1188 (KOM): |
Ai ai cúng gớm mặt người vô lương. Có chú thích: “Có bản đổi câu này lại như vầy: “Kẻ chê bất nghĩa, người cười vô lương” | Kẻ chê bất nghĩa người cười vô lương. Có chú thích: “Kinh bản: Ai ai cũng gớm mắt người vô lương”. |
- Câu 1426 (PKC): | - Câu 1428 (KOM): |
Ba cây đóng chặt một cành mẫu đơn. | Ba cây đóng chặt một cành mẫu đơn. |
- Câu 1531 (PKC): | - Câu 1533 (KOM): |
Duyên đằng sớm thuận gió đưa. | Duyên đằng sớm thuận gió đưa. |
- Câu 1782 (PKC): | - Câu 1682 (KOM): |
Đoạn trường ai có qua cầu mới hay. | Đoạn trường ai có qua cầu mới hay. Có chú thích: “Phường bản: Thương càng nghĩ nghĩ càng đau. Dễ ai rấp thảm quạt sầu cho khuây”. |
- Câu 1705 (PKC): | - Câu 1707 (KOM): |
Đành rằng nàng đã cửu tuyền | Đành rằng nàng đã cửu nguyên. Có chú thích: “phường: Hoa trôi nước chảy đã yên”. |
- Câu 1756 (PKC): | - Câu 1758 (KOM): |
Thấy ai quen thuộc cũng đừng nhìn chi. | Thấy ai quen thuộc cũng đừng nhìn chi. |
- Câu 2355 (PKC): | - Câu 2357 (KOM): |
Dưới cờ gươm tuốt nắp ra. | Dưới cờ gươm tuốt nắp ra. |
- Câu 2523 (PKC): | - Câu 2525 (KOM): |
Quan quân thừa thế đuổi dài. | Quan quân thừa thế đuổi dài. |
- Câu 2790 (PKC): | - Câu 2792 (KOM): |
Ghi lòng để lại, cất mình ra đi. | Gửi lòng để lại, cất mình ra đi. |
- Câu 3017 (PKC): | - Câu 3019 (KOM): |
Gieo mình dưới cội huyên đình | Gieo mình dưới cội huyên đình |
Phụ lục II:
MƯỜI CÂU BẢN PHẠM KIM CHI ĐƯỢC XEM LÀ “KHÁC HẲN CÁC BẢN KHÁC” NHƯNG BẢN KIỀU OÁNH MẬU VÀ “CÁC BẢN KHÁC” CŨNG CÓ.
- Câu 299 – 300 (PKC): | - Câu 299 – 300 (KOM): |
Đêm khuya nương náu mừng thầm, Trời như xui khách trị cầm biết nơi! | Liền tay ngắm nghía biếng nằm, Hãy còn thoang thoảng hương trầm chưa phai. Bản Bùi Kỷ chép như KOM. Tuy nhiên có chú: “Có bản đổi hai câu này là: Đêm khuya dằn dọc mầng thầm - Trời như xui khách tri cầm biết nơi”. |
- Câu 357 (PKC): | - Câu 357 (KOM): |
Quạt vàng khăn gấm sẵn khi, | Sẵn tay khăn gấm quạt quì, Bản Bùi Kỷ chép như KOM. Tuy nhiên, lại chú: “Có bản viết là: Khăn tay gấm quạt hoa quì. Có bản lại viết là: Quạt vàng khăn gấm sẵn tay”. |
- Câu 374 (PKC): | - Câu 374 (KOM): |
Cần dâng một lễ, quì đem tấc thành. | Cần dâng một lễ xa đem tấc thành. Bản Bùi Kỷ chép: “Biện dâng một lễ…”. Và chú: “Có bản viết là: “Cần dâng một lễ, quì đem tấc thành”. |
- Câu 414 (PKC): | - Câu 414 (KOM): |
Cứ trông tướng pháp, lắm thầy chê bai. | Cứ trong tướng pháp, lắm thày chê bai. Chú: “Phường bản: Có người tướng sĩ đoán ngay một lời”. |
- Câu 1057 (PKC): | - Câu 1059 (KOM): |
Tần ngần đứng rủ rèm châu, | Tần ngần đứng rủ rèm châu, |
- Câu 1129 (PKC): | - Câu 1131 (KOM): |
Hóa nhi có thật rõ lòng, | Hóa nhi thiệt có nỡ lòng, |
- Câu 1153 (PKC): | - Câu 1155 (KOM): |
Mụ càng kể nhặt kể khoan, | Mụ càng kể nhặt kể khoan, |
- Câu 1880 (PKC): | - Câu 1882 (KOM): |
Gỡ cho ra nợ còn gì là duyên. | Gỡ cho ra nợ còn gì là duyên. |
- Câu 2008 (PKC): | - Câu 2010 (KOM): |
Thảo nào chảng Thúc ra người bó tay. | Mà chàng Thúc phải ra người bó tay. Tuy nhiên, có chú: “Nhất tác: Thảo nào chàng Thúc. Diệu” (Có bản viết là: “Thảo nào chàng Thúc…” Hay!). |
Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr.619-6643)