65. Một bài văn mục lục chữ Nôm thời Tự Đức (TBHNH 1997)
MỘT BÀI VĂN MỤC LỤC CHỮ NÔM THỜI TỰ ĐỨC
NGUYỄN THỊ TRANG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Trong dịp đầu xuân, nhân dân các nơi khắp trong cả nước thường mở hội tế thánh để cầu mong cho đất nước thái bình, dân làng no đủ. Trong buổi tế lễ long trọng ấy, ngoài việc đọc chúc văn tế thần ra, người ta còn sử dụng loại văn mục lục gần giống như lối kể hạnh ở chùa để ca ngợi đời thái bình thịnh trị và gửi gắm ước vọng của mình vào đó. Nghi thức thường là sử dụng các bài văn có sẵn của năm trước hoặc mượn ở nơi khác đem về sửa sang lại cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của quê hương mình. Lời văn cầu kỳ, dùng nhiều điển tích, ý tứ sâu xa. Vào dịp tế thánh đầu đầu xuân đó, sau khi tiến hành đầy đủ các nghi thức dâng rượu, dâng trà, dâng lễ vật, đọc chúc văn… người ta chuyển sang nghi thức đọc văn mục lục. Dân làng lựa chọn một vị trong hội tư vấn, có đức hạnh lại khỏe mạnh, tháo vát lên đọc văn mục lục.
Thể loại văn mục lục này hiện nay còn lại không nhiều, do vậy chúng tôi chọn giới thiệu một bàn viết năm Tự Đức thứ 16 (1868) ở xã Tây Đằng huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây, chép trong sách Quốc âm thi sao ký hiệu AB 179, hiện đang lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Toàn văn như sau:
Từng rằng:
Càn(1) bốn đức lấy nguyên(2) làm trước.
Giữa dương minh(3) mừng tiết ba xuân.
Thành một lòng chịu phúc cùng chung,
Trong thắng hội nức miền hai phủ.
Tiếng nhạc ca lừng lẫy cung thương,
Lời chúc tụng phô trương thiều hộ.
Trên chín bệ vàng dương tỏ vẹn Nghiêu Thuấn áo xiêm;
Dưới trăm ngôi sao phú rạng đu Cao Quỳ(4) đai mũ.
Mưa hòa mây thụy(5), chính châu thỏa thú nhạn hồng;
Sấm lặng gió uy, bốn kể bặt tăm kình thú.
Thuở thái bình ế nghị(6) say sưa;
Đời thịnh trị phượng khoe nhảy múa.
Đất Việt đồn Quảng phủ châu kim(7);
Huyện Tiên(8) có chân hương thắng thổ.
Đình ta nay vững thấm khôn duy; biền xây Cấn trụ(9).
Tiền chu tước(10) đầm hồ thủy hội, nước cam hương tượng cấu phong vương;
Hậu huyền vũ(11) cốc trụ hoa khai, non tú lệ đĩnh sinh(12) phò mã.
Long cảng tập bình non phô vẻ ngọc, bút lăng vân(13) rạng ứng điềm văn;
Hổ nhiễu quanh đai nước dẫy doành châu, thế cự lãng,(14) rõ sinh tài võ.
Mạch lại Hợi cấn, trẻ phú cường quá nữa Thạch Sùng(15);
Sơn ứng đoài đinh, già thọ khảo sánh chưng Bành Tổ(16)
Dấu Kỳ Bân(17) xưa nối nền vương;
Đất Thuấn Vũ trải theo thói cổ.
Sĩ nay: Màn Đổng(18) gối Ôn(19); Soi kinh nấu sử.
Cơm ơn cha cầy cấy bước lên đội niếp sân Trình,
Áo nhờ mẹ vá may vượt khỏi hóa rồng của Vũ
Người người huynh đệ đồng bảng, Vương thị(20) hòe Tam;
Nhà nhà phụ tử đăng khoa, Đậu gia(21) quế ngữ.
Nông nay: Ca vũ khuyến nài; thơ Mân(22) nhắn nhủ.
Trong Nam mẫu điền liền thiên mạch, nhà nhà chở lúa Hán lẫm đầy;
Ngoài tang chân đất rộng vênh vang, người người tích tiền văn quán hũ.
Tàm Tây Lăng làu làu xanh tốt, nhà buồng bán mỗi lứa muôn quan;
Kén Tấn Dương chói chói vàng đều, huỳnh hiệp mua nghìn câu trăm giỏ.
Đất thịnh mãi tằm tốt lúa lên;
Người khen rằng ngoại châu nội vũ(23)
Công: trổ tạc rồng đầu phượng cánh, cục chính gia phong;
Thương: bán buôn vốn một lời mười, bạc tiền vô số.
Trước đã mong nông sĩ tứ dân;
Sau lại nhắn giáo phường mọi lũ.
Trăng vặc vặc cung hoa oanh sặc sỡ, khi thanh dạ hứng thừa;
Mây đùn đùn chợ yến xôn xao, thuở tà dương đắc thú.
Liêm vấn lưng tiếng đàn ngọt nghẽo, kép khả phan ngươi Sóc chàng Cao(24);
Mũ đọc đầu múa hát dịu dàng, đào khả Sách ả Man náng Tố(25).
Khuyên đấng trung quân ái quốc, Nam sử kể Tô Vũ Lưu Hầu(26).
Nhắn người liệt nữ tòng phu, nữ truyện dẫn Dương thăng, Phùng Cử(27).
Bát đoạn đã dẫn gái nhớ chồng quan dịch đường xa;
Tứ hỉ lại khong(28) trai yêu người khác quê bạn cũ.
Trước đã răn quản giáp các quần(29);
Sau lại nhử bàng quan mọi lũ.
Đứng có nơi, ngồi có chốn, chẳng nên dứt lác huyên hoa;
Ngồi nghe xem, lặng hòa nghe, chẳng được nói cười lỗ mỗ.
Trong sân đình vai chen áo mũ, ngôi kính nhường bàn dưới bàn trên;
Ngoài câu lan mặt hợp chi lan, rượu khuyên sửa chén anh chén chú.
Vậy phải đền thờ kính đại vương;
Vậy phải đám nghiêm trang chúc thọ.
Kể cả hằng thìn đức hạnh, dân chẳng lời than;
Người kẻ tua giữ nết na, nhà đều cửa ngõ.
Tây nam vầy khí vượng, chốn sinh những đấng hiền thần;
Đông bắc ứng điềm lành, thường noi theo tài thạc phụ.
Thôi tiệc này ngày ngày tống khứ chư tai;
Già tiệc này tháng tháng nghênh lai bách hỗ(30)
Phúc để cho đồng xã ta nay gồm được.
Chữ phú quí thọ khang ninh ơn bởi đức đại vương phù hộ.
Nay ước mừng.
Chú thích:
1. Càn: tên một quẻ trong Kinh Dịch.
2. Nguyên: to lớn, đầu tiên. Quái từ quẻ Càn, Kinh Dịch có câu “Càn nguyên hanh lợi trinh” Nghĩa là bốn đức của quẻ Càn là: Nguyên, hanh, lợi, trinh.
3. Dương minh: sáng sủa.
4. Cao Quỳ: tức cao Dao và Quỳ, hai vị hiền thần đời Nghiêu Thuấn.
5. Mây thụy: mây lành.
6. Ế nghị: chưa rõ nghĩa?
7. Châu kim: vàng ngọc. Ý nói ở phủ Quảng Oai có nhiều tiền của.
8. Huyện Tiên: tức huyện Tiên Phong phủ Quảng Oai.
9. Cấn trụ: cột ở phương Cấn.
10. Chu tước: phương Nam.
11. Huyền vũ: phương Bắc
12. Đĩnh Sinh: sản sinh nhiều.
13. Lăng vân: vượt lên trên mây.
14. Cự lãng: sóng lớn
15. Thạch Sùng: tên một phú thương đời Tấn.
16. Bành Tổ: nhân vật truyền thuyết, sống trên 800 tuổi
17. Kỳ Bân: đất phát nghiệp của nhà Chu
18. Đổng: tức Đổng Trọng Thư đời Hán - một người hiếu học, từng quây màn đọc sách không tiếp khác.
19. Ôn: tức Ôn Công Tư Mã Quang đời Tống từng làm gối cao kê đầu đọc sách.
20. Vương thị: họ Vượng, nhà có ba con làm đến Tam công.
21. Đậu gia: nhà họ Đậu, nhà có 5 con hiển đạt.
22. Thơ Mân: bài thơ trong Kinh Thi nói việc nhà nông lo cầy cấy.
23. Ngoại châu nội vũ: chỉ đồng đất của nhà vua.
24. Chàng Sóc: tức Đông Phương Sóc đời Hán, người có biệt tài khôi hài.
25. Ả Man nàng Tố: tên các người hát ả đào nổi tiếng của Trung Quốc.
26. Tô Vũ Lưu Hầu: hai vị hiền thần đời Tây Hán.
27. Dương Thăng Phùng Cử: các vị danh nhân thời cổ.
28. Khong: khen.
29. Các quần: các bọn
30. Bách hỗ: trăm phúc.
Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr.644-649)