VI | EN
68. Giao tiếp văn hóa qua hai truyện Nôm xưa cùng một kiểu cấu trúc (TBHNH 1997)
TBHNH 1997

GIAO TIẾP VĂN HÓA QUA HAI TRUYỆN NÔM XƯA

CÙNG MỘT KIẾU CẤU TRÚC

CHU QUANG TRỨ

Viện Mĩ thuật

Với vị trí ở góc Đông Nam của Châu Á, điều kiện địa lý tự nhiên đã khiến Việt Nam sớm có sự hội nhập với 2 nền văn hóa láng giềng đồ sộ là Ấn Độ ở phía Tây và Trung Hoa ở phía Bắc. Sự hội nhập ấy là cuộc giao tiếp văn hóa song phương hoặc đa phương giữa Việt Nam với Ấn hoặc với Ấn – Hoa, dưới góc độ văn hóa tôn giáo - Phật giáo đã dẫn đến hai câu chuyện ở thế kỷ thứ 2 và thế kỷ thứ X cũng chung kết cấu và sự diễn biến. Đó là việc hoài thai của 2 người người con gái Việt Nam là Man Nương và Phạm Thị. Truyện kể lưu truyền trong dân gian có từ rất sớm, song được văn bản hóa thành truyện thơ Nôm ổn định và dễ phổ cập tuy có muộn hơn, song cũng đã tồn tại nhiều thế kỷ rồi. Ở đây chúng tôi dựa trên 2 tập thơ Nôm là Cổ Châu Phật bản hạnh (khoảng thế kỷ XVII) và Thiên Nam ngữ lục để từ truyện kể tìm hiểu mối giao tiếp văn hóa xưa.

Chuyện thứ nhất: Có thể tóm tắt: Vào thời Sĩ Nhiếp (187-226), sư Khâu Đà La từ Ấn Độ sang tu ỏ chùa Linh Quang, đồi Mả Mang, ông có phép hóa vân giáng vũ, vâng lệnh đức Phật sang Nam Việt để qua họ Man truyền phép cứu dân độ thế.

Thuở ấy ở hương Mãn Xá có nàng Man Nương “dung nghi tư chất khác thường” được cha mẹ cho học đạo với thày Đà La. Năm 12 tuổi, một tối nằm ngủ ở hiên, khi thày Đà La về phòng bước qua, đã “Tự nhiên cảm động hoài thai tâm trường”. Nàng thưa lại chuyện với bố mẹ, thày Đà La cũng nói cho gia đình nàng biết đó là “Nhân thiên hợp khí giao hoan dữ đồng”. Sau 14 tháng vào ngày 8 tháng Tư nàng sinh được bé gái, ẵm đến chùa Linh Quang trả thày.

Sư đọc thần chú, cây dung thụ mở lòng ra thu nhận hài nhi rồi khép lại. Trước khi ra về, Man Nương được thầy Đà La cho cây gậy tích trượng để khi đại hạn thì cắm xuống đất sẽ có nước. Và sau đó nàng đã làm theo lời thày. Thế rồi đầu năm Giáp Tý, tự nhiên mưa gió đùng đùng, cây dung thọ đổ và trôi về trước thành của Sĩ Vương, bao quân sĩ không vớt được, nhưng khi Man Nương ra đã kéo vào nhẹ nhàng. Theo mộng báo, Sĩ Vương cho mời thợ khéo cắt cây làm 4 khúc tạc các tượng Phật Pháp Vân – Pháp Vũ – Pháp Lôi – Pháp Điện để thờ ở các chùa Dân - Đậu - Tướng – Dàn. Khi tạc tượng Pháp Vân, thợ thấy trong cây có hòn đá bèn vứt xuống sông, nên tượng này không rước được. Mọi người mò tìm song không vớt được. Khi Man Nương đi thuyền ra thì hòn đá nổi lên, tự trôi vào lòng nàng và tỏa sáng nên gọi là Thạch Quang.

Khi tượng đã yên vị, dân mở hội khánh thành Tứ Pháp, từ đấy thành lệ hàng năm vào ngày Phật đản mồng 8 tháng Tư các chùa Từ Pháp lại mở hội. Man Nương được tôn làm Phật Mẫu. Các triều đại từ Lý đến Lê đã nhiều lần rước tượng Phật Vân về kinh đô làm lễ cầu mưa và đều ứng nghiệm.

Trong kháng chiến chống Tống, nhân dân còn rước tượng ra trận và đã cản phá được giặc.

Còn chuyện thứ hai: Vào thời Đinh Lê, ở vùng Cổ Pháp có nàng Phạm Thị “Khó khăn góa bụa tổi vừa đôi mươi” phải đi làm thuê, thậm chí phải đi ăn mày. Nghe đồn chùa Ứng Đại Thiên Tâm có một thiền sư “Tu thân luyện tính chuyển thần hoàn nguyên”, nàng tìm đến giúp “quét chùa, gánh nước, tước cây, giữ vườn”. Thế rồi mồng 8 tháng Tư, ban đêm nàng thổi xôi xong ngủ quên ở cửa bếp, khi thày tụng kinh xong trở về phòng đã bước qua người. Thế là “Mây trời cơ nhiệm ai hay, thác lấy khí thày cho nàng chịu thai”. Nàng thưa lại với thày, nhưng thày không nhận, còn cho đây là “những sự giết người bỏ họa cho dân”. Để giữ tiếng cho thày, nàng ra đi “một bị, một gậy” ăn xin, “song bề nhan sắc kém ai chút nào”. Nhiều người muốn hỏi nàng để nhận con, song nàng từ chối, sợ “lỗi đạo cùng trời, mất đạo cùng con”. Được mười tháng, “đi xa lo nữa xảy chân, lần quất đến gần chùa kẻ Gia Châu” thì nửa đêm mưa gió, nàng đã sinh ra một bé trai khôi ngô sáng sủa. Nuôi con được 7 ngày nàng ẵm đến chùa Cổ Pháp cho làm con nuôi thiền sư Lý Khánh Văn, sau đó lại đi hành khất, một hôm đến đồi Mả Báng thì bị bạn bệnh mất, mối đùn thành mộ. Nơi đây Cao Biền đã từng xác định có mạch đế vương. Khánh Văn nuôi bé được 1 năm thì đặt tên là Lý Công Uẩn, lên 7-9 tuổi thì đưa sang chùa Lục Tổ theo học thiền sư Vạn Hạnh. Vạn Hạnh đã gửi thân lâm tuyền “Song còn mến đạo thánh hiền thi thư” mở lớp đạy học trò. Công Uẩn thông minh đức độ, song oản dâng cúng Phật thường khoét ăn trước, và nhờ đó Vạn Hạnh được Bụt báo mộng Công Uẩn sẽ làm vua.

Công Uẩn lớn lên “khôn khéo có tài, chữ nghĩa hơn người, thao lược khác nhau”, được tiến cử vào triều đình và làm đại tướng. Khi Lê Ngọa Triều mất, Công Uẩn “công cả quốc gia” được Thái hậu trao cho long bào lên làm vua lập ra nhà Lý.

Chuyện Lý Công Uẩn chép trong Thiên Nam ngữ lục còn được chính sử và dã sử làm sáng tỏ nhiều tình tiết, song ở đây chúng tôi chỉ bàn về việc giao tiếp văn hóa nên không đi sâu vào lịch sử.

Qua 2 chuyện trên, chúng ta thấy mẫu số chung là cô tiểu Việt Nam hồn nhiên xinh đẹp đêm nằm ngủ, do nhà sư vô tình bước qua mà mang thai và đã sinh ra nhân tài cho dân tộc. Như vậy nàng Man Nương hay Phạm Thị chính là biểu trưng của văn hóa dân gian thơ mộng nhưng hồn nhiên, rất hay nhưng còn ở trình độ thấp, khi nó mang yếu tố âm.

Trong khi đó văn hóa Phật giáo được biểu trưng bằng các thiền sư Khâu Đà La, sư chùa Ứng Đại Thiên Tâm, Lý Khánh Văn và Lý Vạn Hạnh đều là những người có nhiều phép màu với những kiến thức sâu sắc, nó ở trình độ bác học, mang yếu tố dương. Khi nền văn hóa dân gian bản địa gặp được văn hóa Phật giáo bác học thì yếu tố âm được dương kết hợp đã thăng hoa ra một nền văn hóa mới thần kỳ với sức mạnh của thần quyền hay vương quyền.

Có nhà nghiên cứu đã chứng minh Khâu Đà La (hay thày Đà La) không phải tên người mà là danh từ chung chỉ cao tăng Ấn Độ. Và sư chùa Ứng Đại Thiên tâm cũng không rõ tên. Như vậy yếu tố dương trong việc giao hoan là sự khái quát, nó làm tăng sự thần bí thiêng liêng của việc thai nghén và của đứa trẻ khi chào đời. Đứa trẻ chỉ có mẹ cụ thể và do đó không có họ và quê.

Con của Man Nương lấy danh từ chung “thạch quang” làm tên gọi. Con của Phạm Thị phải một năm sau mới được cha nuôi đặt tên là Lý Công Uẩn (với hàm ý người còn của dòng họ Lý ở hương Diên Uẩn (Cũng có mang tính chất danh từ chung).

Ở đây, với văn hóa dân gian, trong thời Bắc thuộc, dân tộc ta còn tàn dư gia đình mẫu hệ, coi trọng yếu tố mẹ hơn yếu tố cha. Và thời gian ấy, có lẽ người bình dân nghèo khó mới chỉ có tên mà chưa có họ. Man Nương hay A Man chỉ có nghĩa là cô gái quê của xứ Giao Châu. Và Phạm Thị dường như có ý chỉ người con gái Phật tử mang đậm Phật tính. Man Nương còn được tôn làm Phật Mẫu, cả Thạch Quang và Lý Công Uẩn đều gắn với ngày Phật đản (theo quan niệm truyền thống là mồng 8 tháng Tư), có điều với Thạch Quang thì đó là ngày chào đời, còn với Lý Công Uẩn thì đó là ngày tụ khí đầu tiên để hình thành. Những tên đất Mả mang nơi cây đa (dung thụ) đón nhận đứa bé của Man Nương, và Mả Báng nơi Phạm Thị yên nghỉ, dường như cũng có cái chung gợi những đồi cây. Dung thụ là cây dâu, mang dương khí có thể trừ tà ma các ông thày cúng vẫn dùng đánh ma. Cây báng từng cho chất bột làm thực phẩm, và từ đó trở thành tên Nôm của nhiều làng. Từ thế kỷ II đến thế kỷ X, trung tâm Phật giáo cũng chuyển từ Luy Lâu (Thuận Thành) về Cổ Châu (Tiên Sơn).

Văn hóa Phật giáo sang đến Việt Nam đã ở trình độ bác học, song phải hội nhập – dung nạp văn hóa dân gian bản địa mới phát huy được để đi vào dân mà trở nên huyền diệu. Có điều văn hóa Phật giáo ở hai thời cách nhau chừng 800 năm có sự khác biệt nhất định. Với Khâu Đà La thì rõ ràng là chất Ấn Độ, đậm lối tu thần bí với tài hô phong, hoán vũ, đằng vân và thần chú, phù phép mà cư dân làm ruộng nước luôn mong đợi. Từ đó khi gắn với tín ngưỡng bản địa đã nảy sinh các Phật Mây - Phật Mưa - Phật Sấm - Phật Chớp được thờ trong các chùa Dâu - Đậu - Tướng – Dàn như gợi ra sản phẩm hoa màu kết hợp với lúa nước. Và cái phép màu chính của Phật giáo ở đây là cầu đảo biểu hiện bằng cây gậy tích trượng của thày Đà La cho Man Nương và các lễ rước Pháp Vân của Nhà nước sau đấy.

Như vậy ở chuyện Man Nương là sự giao tiếp văn hóa song phương Việt - Ấn khá thuần.

Với nhà sư chùa Ứng Đại Thiên Tâm thì tên chùa đã ảnh hưởng Nho học gợi sự ứng báo ứng lớn lòng trời. Và nhà sư ấy luôn quan tâm đến tu thân luyện tính không gắn với kinh tế nông nghiệp, thì rõ ràng còn là một trí thức Nho học. Ở đấy yếu tố Phật có chất yếu tố Nho. Và do đó nhà sư khi biết cô tiểu có thai thì không dám nhận trách nhiệm, lại sợ mang tiếng với dư luận, nên đã đuổi nàng đi.

Phạm Thị đi hành khất cũng là một lối tu khất thực, và khi sinh nở lại trở về chùa. Với Lý Công Uẩn, khi đến chùa Cổ Pháp và khi ở chùa Lục Tổ với các giai thoại về con chó lông in 2 chữ “Thiên tử”, về chuyện ăn oản và đầy bụt đi xa đều đã nhuốm màu Nho giáo. Các thiền sư Lý Khánh Văn “đức trọng phục hết quỷ thần” và Vạn Hạn “mến đạo thánh hiền thi thư” thì rõ ràng còn là những Nho sĩ cao cấp của thời đaịi. Ở đây, Phạm Thị là văn hóa dân gian đã thấm chất Phật giáo nguyên thủy, khi giao tiếp với văn hóa Phật giáo chính thống có pha chất Nho giáo, thì kết quả được đẩy đến phải là bậc thiên tử theo mô hình Nho giáo. Như vậy ở chuyện Phạm Thị là giao tiếp văn bản hóa địa với cả Phật giáo và Nho giáo, hay là sự giao tiếp đa phương Việt - Ấn – Hoa.

Dù thế nào, hai chuyện trên đã nêu rõ chủ đề về sự tiếp xúc và tiếp biến văn hóa, trong đó văn hóa bản địa luôn là nhân tố gốc, nó hấp thụ những tinh hoa văn hóa ở trình độ cao hơn từ bên ngoài truyền đến, kết hợp nhuần nhuyễn có chọn lọc, để rồi khi chín muồi thì nâng mình lên về chất, thành một nền văn hóa mới có sự huyền diệu của thần quyền và có sức mạnh kỷ cương của vương quyền. Bài học ấy từ nghìn năm Bắc thuộc dù hoàn cảnh thế nào, có éo le đến mấy thì qua gián tiếp văn hóa ta vẫn là ta, cái ta sau phải ở trình độ cao hơn cái ta trước. Điều này, trong điều kiện ngày nay đất nước mở cửa và hòa nhập với thế giới, thì nó không chỉ có tính lịch sử mà còn có cả tính thời sự nữa.

Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr.671-677)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hns@vass.gov.vn
Tel: 02438573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm