75. Câu đối Hán Nôm ở di tích lịch sử văn hóa Hà Nội - những vấn đề đặt ra (TBHNH 2003)
CÂU ĐỐI HÁN NÔM Ở DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA HÀ NỘI
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
LÊ ANH TUẤN
Trường ĐH KHXH và Nhân văn Hà Nội
1. Tiến tới kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long - Hà Nội (1010-2010), Hà Nội hôm nay đã khởi sắc, mang dáng dấp của một thành phố hiện đại, văn minh mà không làm mất đi vẻ đẹp truyền thống của thủ đô ngàn năm văn hiến, xứng đáng với danh hiệu “Thủ đô hòa bình”.
“Hà Nội nghìn năm văn hiến” như một ấn chỉ khẳng định sự tất yếu mang đặc trưng văn hóa Đại Việt. Di tích lịch sử - văn hóa Hà Nội là địa chỉ văn hóa đặc biệt của cả nước, hiện diện đầy đủ các loại hình di tích như: đình, chùa, đền, miếu, phủ, từ đường, lăng tẩm. Tính chất, màu sắc phong phú của các di tích Hà Nội thu hút sự chú ý của nhiều học giả, nhà nghiên cứu trong nước và thế giới. Các nhà nghiên cứu đã tiếp cận mảng đề tài di tích lịch sử - văn hóa ở nhiều hướng khác nhau, cung cấp cho người đọc nhiều tư liệu, hiểu biết về Hà Nội như: những đặc điểm về địa lý, phong tục, tín ngưỡng, lịch sử, tôn giáo, văn học kiến trúc và văn vật. Từ đó càng nhận thức đầy đủ về vị thế của kinh đô Thăng Long xưa - Hà Nội nay là trung tâm của bốn hướng Đông - Tây - Nam - Bắc, trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của cả nước trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Trên địa bàn Hà Nội, di tích lịch sử - văn hóa có vị trí đặc biệt, không những nhiều về số lượng mà còn giàu về chất lượng và phong phú về loại hình. Với diện tích 921 ngàn km2, trên diện tích đó, có tới 2114 di tích lớn nhỏ trong đó di tích được xếp vào diện di tích lịch sử văn hóa từ 1962 đến 1994 có 246 di tích (khu vực nội thành có hơn 100 di tích). Trên tổng số diện tích trên được phân loại gồm: 676 chùa, 579 đình, 261 đền, 166 từ đường, 52 miếu, 32 am, nghè quán, 19 văn chỉ và 319 di tích cách mạng kháng chiến. Các di tích lịch sử - văn hóa cổ có: 8474 văn bia, 7210 câu đối, 4638 hoành phi, 4299 văn chuống (chuông), 322 thần phả, sắc phong, 186 khánh và 680 bài thơ ca ngợi di tích(1). Nếu dựa vào con số thống kê trên, có thể khẳng định rằng Hà Nội là một địa bàn tập trung nhiều di tích, phong phú về di vật lịch sử - văn hóa, điều đó càng minh chứng cho một Hà Nội truyền thống và cổ kính.
Hơn hết, thông qua các loại hình di tích lịch sử - văn hóa để tìm hiểu về quá khứ, biết được nội dung tín ngưỡng, tài hoa về nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc, của ông cha ta; quá trình phát triển của ngôn ngữ, văn tự; truyền thống làng nghề Việt Nam. Di tích lịch sử - văn hóa Hà Nội nằm rải rác khắp địa bàn các quận, huyện. Niên đại các di tích trải dài theo tiến trình lịch sử, từ thời có tên thành Đại La trước khi Lý Công Uẩn định đô (1010) đổi thành Thăng Long, với quốc hiệu Đại Việt. Mỗi di tích hiện hữu, bản thân nó mang đậm tính lịch sử và văn hóa của mỗi triều đại, mỗi thời kỳ khác nhau.
Di tích lịch sử - văn hóa Hà Nội có giá trị đặc biệt, tiêu biểu cho truyền thống văn hóa Việt Nam, là cứ liệu quý báu, chân thực xứng với miền đất “địa linh nhân kiệt” có truyền thống văn hiến, “thật là chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”(2).
Các di tích như bóng dáng của lịch sử, được giữ lại trên đất kinh đô: Thời Lý Nam Đế với chùa Trấn Quốc; Thời Lý - Trần với di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám, chùa Diên Hựu, chùa Kim Cổ, chùa Bút Tháp, chùa Quán Sứ, đền Quan Thánh, đình Thanh Hà; Thời Lê với chùa Bà Đá, đền Khánh Thụy, đình Nam Hương; Thời Nguyễn với chùa Liên Phái, chùa Trung Tự, đình Tân Khai, v.v...
Di tích lịch sử - văn hóa Hà Nội đang ngày càng phát huy vai trò, vị trí to lớn của nó. Mỗi di tích không chỉ là nơi thờ tự, vãng cảnh, trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội dân gian, mà còn là điểm tựa tinh thần mang tính giáo dục cao về truyền thống yêu nước, tu dưỡng đạo lý, lòng nhân ái của dân tộc cho các thế hệ.
Có thể nói cội nguồn văn hóa dân tộc được hội tụ đậm nét trên các loại hình di tích ở địa bàn Hà Nội. Đặc trưng mỗi loại hình di tích Hà Nội thể hiện rõ nét hơn so với nhiều nơi khác, ngoài đặc điểm mật độ di tích tập trung ở một số địa danh phường, khu, quận, huyện. Tính trung bình ở địa bàn Hà Nội có 2 di tích trên 1 km2. Đặc biệt có khu vực tập trung khá cao mật độ di tích, tạo thành một quần thể di tích mang tính đa nguyên, chẳng hạn khu vực hồ Hoàn Kiếm, trong vòng bán kinh không xa, có tới hàng chục di tích; khu vực đình Cự Chính quận Thanh Xuân; khu di tích Phù Đổng huyện Gia Lâm, khu di tích Cổ Loa huyện Đông Anh. Tính chất tập trung thể hiện sự đa dạng các loại hình chùa, đền, đình, miếu, văn chỉ,...
Di tích cổ Hà Nội gắn liền mật thiết, không tách rời với một mảng thuộc lĩnh vực tinh thần, đó là di san Hán Nôm. Di sản Hán Nôm thuộc di tích cổ gồm: Văn bia, câu đối, hoành phi, đại tự, thần phả, ngọc phả, văn chuông, bảng thơ. Trong đó, thể loại chuyển tải nội dung phong phú nhất, nhưng súc tích và cô đọng là hệ thống câu đối chữ Hán và chữ Nôm.
Bảo tồn và phát huy Di tích lịch sử văn hóa đồng nghĩa với việc khai thác hiệu quả vốn quý, nguyên bảo của quốc gia, trí tuệ của bao đời chung đúc. Đó là hệ thống di sản Hán Nôm được thể hiện trên các chất liệu khác nhau, ngoài nội dung còn có tính nghệ thuật cao về điêu khắc, hội họa, chạm khảm.
2. Câu đối Hán Nôm trong các Di tích lịch sử văn hóa cổ là thể loại văn học đặc biệt, có vị trí hết sức quan trọng trong các di tích.
2.1. Với hơn bảy nghìn câu đối Hán Nôm hiện hữu trong các Di tích lịch sử - văn hóa cổ địa bàn Hà Nội, con số đó đã nói lên vị thế của mảng di sản Hán Nôm này trong tiến trình lịch sử tạo dựng, trùng tu, phát triển các di tích thuộc các tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau. Có thể còn nhiều hơn con số trên nếu sưu tầm đủ các câu đối nằm rải rác ở các nhà thờ, dòng họ, khu phố cổ. Mỗi loại thư tịch văn bản, thể loại Hán Nôm có giá trị riêng, bởi tính chất, đặc điểm của từng loại.
Trong các di tích, câu đối vừa mang ý nghĩa chuyển tải nội dung phản ánh, vừa mang ý nghĩa nghệ thuật trang trí. Bản thân mỗi câu đối có liên quan đến nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như lịch sử, văn học, triết học, ngôn ngữ và nghệ thuật. Câu đối trong mỗi Di tích lịch sử văn hóa không phải “nhất thành bất biến” mà nó không ngừng được bổ sung qua các thời kỳ khác nhau. Cho đến nay, hệ thống câu đối Hán Nôm trong các di tích tương đối ổn định, sự biến đổi là không tránh khỏi, nhưng không lớn lắm, có chăng càng làm cho phong phú, đa dạng hơn mà thôi. Câu đối trong các di tích tồn tại là nhu cầu tự thân mang tính khách quan. Nội dung được đề cập trong mỗi câu, hay toàn bộ câu đối của một di tích nói rõ đặc điểm, tính chất, điều kiện, mục đích thờ tự của di tích đó. Ngoài chức năng bài trí, câu đối còn hàm chứa nội dung vô cùng phong phú về nhiều mặt như: tôn giáo, đạo lý, phong cảnh thiên nhiên, triết lý về thế giới, con người, ca ngợi công đức giáo dục truyền thống,... Thay vì ngôn ngữ lời nói bằng văn tự câu đối Hán Nôm đảm nhận chức năng giao tiếp một cách hữu hiệu.
Câu đối Hán Nôm trong các di tích được thể hiện bằng 3 hình thức văn tự – chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ được khắc, đắp thêm mỗi lần trùng tu từ những thập kỷ thế kỷ XX. Gắn với các di tích cổ chủ yếu là câu đối chữ Hán. Câu đối chữ Nôm xuất hiện chậm hơn và số lượng không nhiều. Chính vì vậy khi tìm hiểu câu đối ở các di tích lịch sử – văn hóa, thực chất là tìm hiểu câu đối chữ Hán. Với con số trên bảy ngàn câu đối Hán Nôm trong di tích khắp địa bàn Hà Nội, trong đó, câu đối chữ Nôm chỉ chiếm tỷ lệ 2 – 3%. Từ đó cho thấy vai trò của câu đối chữ Hán với các di tích quan trọng đến mức nào. Thời phong kiến, chữ Hán được coi là thứ văn tự chính thông, thứ chữ của Thánh Hiền, rất được coi trọng. Hơn nữa, chữ Hán gắn với sự tôn thờ trong các di tích như tượng thờ, đồ tế lễ. Điều đó cho thấy chữ Hán, bản thân nó như những vật thể linh thiêng được khắc họa trên nền các vật liệu và bài trí ở những nơi tôn nghiêm nhất. Câu đối chữ Hán cùng với hoành phi, đại tự tạo nên sự hài hòa trong cấu trúc nhà gỗ có nhiều cột trụ của kiến trúc Đình, Chùa, Đền, Nghè... Câu đối chữ Hán xuất hiện hầu như ở tất cả các di tích bằng hữu trong tâm linh của mọi người, mỗi lần vãng cảnh, viếng thăm di tích.
Như vậy, trong thực tế, sự xuất hiện câu đối Hán Nôm trong các di tích cổ như một tất yếu, vừa có ý nghĩa nghệ thuật vừa hàm chứa nội dung phong phú. Câu đối như mô típ chứa đựng sự linh thiêng thuộc về các di tích mà không một hình thức thể loại nào có thể thay thế được.
Câu đối cũng như văn tế, văn bia, phú, thơ Đường đều có nguồn gốc từ Trung Quốc, du nhập vào Việt Nam vào những thời kỳ khác nhau. Trong đó, câu đối là thể loại xuất hiện khá sớm ở nước ta. Tìm hiểu số ít bài văn, sử cũ truyền lại thì bóng dáng của câu đối chỉ thấp thoáng qua những câu thơ, câu văn, chứ thực sự câu đối chưa định hình là một thể loại độc lập trước thời tiền Lê (TKX). Cho đến thời Lý, những bài thơ thiền ra đời, viết theo thể Đường luật, mới thấy rõ ảnh hưởng của thể loại câu đối một cách đậm nét. Song đến thời Trần, câu đối được sử dụng rộng rãi ở tất cả mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Từ thời Lê trở về sau, câu đối trở thành thể loại chiếm vị thế quan trọng, chi phối hoạt động tinh thần ở mọi tầng lớp xã hội. Điều đó chứng tỏ tính chất xã hội hóa cao của thể loại câu đối, phù hợp với ưu thế độc tôn của Nho giáo thời phong kiến. Quá trình định hình và phát triển của thể loại câu đối co quan hệ chặt chữ với toàn bộ hệ thống các di tích lịch sử văn hóa ở nước ta.
2.2. Câu đối theo truyền thống xưa gọi là đối liên là một loại hình văn học độc đáo. Trong những trường hợp với mục đích phản ánh cụ thể, câu đối có những tên gọi khác nhau: mừng xuân gọi là “xuân liên”; mừng thọ, mừng tuổi gọi là “linh liên”; phúng viếng gọi là “điếu liên”... Cũng như câu đối là tên gọi một thể loại văn học, mà tiền thân của thể loại này gọi là “doanh thiếp” hay doanh liên. “Doanh” nghĩa là cây cột, “thiếp” là mảnh giấy có chữ viết, “liên” là đối xứng nhau. Như vậy, cứ theo cách gọi tên trên, câu đối có nghĩa là những tờ giấy có chữ viết dán lên hai cột đối nhau. Hai vế đối: bên phải, ra đối bên trái - đối lại, còn gọi là “thượng liên” và “hạ liên”.
Từ giá trị thực tế, dần dà câu đối trở thành nghệ thuật đặc sắc, vừa mang ý nghĩa tâm linh, tôn thờ, vừa mang ý nghĩa cảm thụ văn chương và nghệ thuật. Xưa nay, câu đối được thể hiện bằng các hình thức khắc, đắp nổi, viết, chạm khảm. Các chất liệu sử dụng khá phong phú, đa dạng như trên chất liệu gỗ thì khắc sơn son thiếp vàng hoặc khảm trai, khảm xà cừ; trên nền đá, gạch đất thì khắc đá, đắp bằng chất liệu dính kết, thường đặt ở các vị trí lộ thiên, chất liệu bương, luồng, nứa có thể khắc viết hoặc câu đối viết trên giấy hồng hoàng, chỉ chu. Hình thù nền viết câu đối cũng hết sức đa dạng nhiều vẻ: hình chữ nhật, hình vuông, hình tròn, hình tàu lá chuối, hình đốt tre, hình quả bầu, hình quạt xòe, hình tán lá...
Về mặt luật đối, người xưa khi làm văn, làm thơ hay câu đối không có khái niệm về tứ loại như hiện nay, mà chỉ ý thức được giữa các cặp từ có sự đối lập về thuộc tính chức năng, phẩm chất ý nghĩa. Trên cơ sở nhận thức đó, phân loại từ theo tiêu chí nặng hay nhẹ. Loại nặng như danh từ, đại từ nhân xưng; loại hơi nặng như tính từ đơn âm tiết, động từ. Loại nhẹ như: hư từ, quan hệ từ, loại hơi nhẹ như từ láy, từ song âm tiết. Theo đó, khi đặt câu đối luôn coi tiêu chí nặng, hơi nặng, nhẹ, hơi nhẹ làm chuẩn mực cho việc xác định phép đối xứng.
2.3. Tìm hiểu câu đối các di tích lịch sử văn hóa thuộc thành phố Hà Nội, cho thấy có đầy đủ các dạng đối như nguyên lý vốn có. Đó là 3 hình thức biểu hiẹn của câu đối là tiểu đối, đối thơ và đối phú. Trong 3 hình thức trên, câu đối thơ (từ 5 đến 9 chữ) chiếm tỉ lệ trung bình so với hai dạng kia. Hình thức phổ biến, thường gặp câu đối thơ trong di tích là câu đối 7 chữ. Đọc một câu đối thơ 7 chữ, dường như đọc hai câu thơ trong bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú.
- Câu đối thuộc tiểu đối xuất hiện rất ít; dạng đối hai chữ và 4 chữ chỉ thấy ở đền Ngọc Sơn, quận Hoàn Kiếm;
Xuân Thu đại nghĩa (Nghĩa lớn hai mùa xuân thu)
Nhật nguyệt tinh trung (Lòng trung soi trong nhật nguyệt).
Trong các di tích lịch sử - văn hóa Hà Nội xuất hiện loại tiểu đối 2 chữ (ngắn nhất), thì ngược lại câu đối phú có câu dài tới 27 chữ mỗi vế, chẳng hạn:
- Lịch kiếp vi minh quân, vi lương tướng, vi hiếu tử, vi đạo sư, vận dụng chân như, kết vô lương thiện duyên, trong nghiêm phúc hải.
Hiện thế khí chân đảo, khí thê noa, khí quốc thành, khí vương vị, viên thành đại giác, thuyết hằng sa diệu pháp, bạt tế mê lưu.
(Kiếp xưa làm vua sáng, làm tướng tài, làm con hiếu, làm thầy dạy, vận dụng lẽ chân như, kết duyên thiện vô lượng trong nghiêm.
Đời nay bỏ của báu, bỏ vợ con, bỏ thành quách, bỏ ngôi vua, vẹn tròn đại giác, nơi phép màu không thể cứu độ bến mê.)(Chùa Quán Sứ - Quận Hoàn Kiếm).
Dạng câu đối phú từ hai mươi chữ trở lên trong các di tích không nhiều. Sở dĩ số lượng câu đối dài trên hai mươi chữ ít hơn so với dạng câu đối ngắn vì những lý do như: câu đối khắc gỗ, cột xây bị hạn chế bởi không gian về tầm cao và hình thức biểu hiện. Còn nữa, tính cô đọng, xúc tích của câu đối bị giảm thiểu do nội dung tản mạn, cảm nhận bị phân tán, không tập trung.
Như vậy, trường độ phổ biến của câu đối Hán Nôm trong các di tích lịch sử văn hóa Hà Nội, chủ yếu dưới dạng câu đối thơ và câu đối phú ngắn, nghĩa là câu đối phổ biến từ 5 đến 18 chữ.
Qua khảo sát 27 di tích lịch sử văn hóa quận Hoàn Kiếm cho thấy, trên tổng số 200 câu đối có 103 câu đối phú, 90 câu đối thơ và 7 câu tiểu đối. Trên cơ sở đó có thể sơ bộ nhận xét:
Một, nếu so sánh tỷ lệ dựa vào ba hình thức tiểu đối, đối thơ và đối phú thì đối phú chiếm tỉ lệ cao hơn, sau đó là đối thơ và cuối cùng là tiểu đối.
Hai, câu đối phú có số lượng nhiều hơn so với hai loại kia, song chỉ chủ yếu dùng câu có từ 10 chữ đến 18 chữ; còn 20 chữ trở lên thì ít dùng.
Ba, tuy câu đối thơ tỉ lệ chưa đến 50%, nhưng tập trung vào câu đối 5 chữ (theo thể ngụ ngôn0 và 7 chữ (theo kiểu thất ngôn). Nếu tính trong 90 câu đối thơ ở các di tích quận Hoàn Kiếm thì có tới 69 câu thuộc hai loại trên, trong đó có 11 câu đối ngũ ngôn. Vậy câu đối theo thể thất ngôn chiếm 29% trên tổng số các thể đối.
Bốn, 7 câu tiểu đối chỉ có ở trong hai di tích: đền Ngọc Sơn và Đình Thanh Hà quận Hoàn Kiếm.
Năm, thực hiện phép tính so sánh toàn bộ câu đối cả 3 thể đối từ 2 chữ đến 28 chữ, câu đối thơ viết theo thể thơ thất ngôn chiếm gần 1/3. Như vậy trong các di tích, chủ yếu dùng lối câu đối thơ thất ngôn.
Tình hình chung hệ thống câu đối di tích lịch sử văn hóa cả các quận nội thành và huyện ngoại thành Hà Nội đều như vậy.
3. Chủ đề phản ánh của câu đối di tích lịch sử văn hóa có nội dung phong phú, tập trung thể hiện tính chọn lọc cao.
3.1. Mỗi câu đối là một tác phẩm văn học có tính thuyết phục và hấp dẫn riêng. Chủ đề phản ánh trong câu đối chữ Hán và chữ Nôm bao quát, trùm lên mọi lĩnh vực đời sống tâm linh và tinh thần, nhân sinh quan, thế giới quan của các tầng lớp xã hội, qua các thời kỳ của cộng đồng người Việt.
Xuất phát từ đặc trưng các loại di tích khác nhau, dẫn đến tỷ lệ, số lượng câu đối theo từng chủ đề cũng không đồng đều giữa các di tích. Đặc điểm, tính chất phối thờ, biểu hiện rõ nét ở các Chùa cũng như các loại hình di tích khác hoàn toàn phù hợp với tập quán, tín ngưỡng của người Việt.
Hệ thống câu đối các di tích lịch sử văn hóa Hà Nội không chỉ vẽ lên bức tranh về cảnh vật, con người Hà Nội, mà qua đó, cho thấy một thực tế về vùng đất địa linh, nhân kiệt là nền tảng cho việc xây dựng kinh đô muôn đời của đất nước.
Nùng sơn Nhị thủy kỳ gian đa vượng khí
Á vũ Âu phong thử hội, biệt hữu thần quyền.
(Giữa khoảng ấy núi Nùng, sông Nhị còn nhiều khí tốt,
Hội cùng đây gió á, mưa Âu, riêng có thần quyền)(3).
Trong các di tích lịch sử văn hóa Hà Nội, hệ thống câu đối Hán Nôm có nhiệm vụ chủ đạo chuyển tải toàn bộ nội dung tinh thần của mỗi di tích. Các di tích chùa, đền, đình, văn miếu, quán, phủ, văn chỉ ở Hà Nội chủ yếu là câu đối chữ Hán. Riêng khu vực nội thành qua khảo sát 65 di tích được xếp hạng có 17 di tích xuất hiện câu đối chữ Nôm với tổng số 44 câu. So sánh giữa câu đối chữ Hán và câu đối chữ Nôm, số câu đối chữ Nôm xuất hiện không nhiều. Điều này có thể lý giải qua việc đề cao vị thế của chữ Hán (văn tự chính thống của các triều đại phong kiến) và chữ Nôm (văn tự gắn với toàn dân). Và tính chất linh thiêng tôn thờ chữ Hán gắn với các di tích, còn chữ Nôm mới được bổ sung muộn sau này.
Chủ đề của nội dung phản ánh của thể tài câu đối cả hai loại hình mang tính thống nhất; câu đối chữ Hán là chủ đạo nên phong phú hơn, đề cập sâu sắc hơn so với câu đối chữ Nôm.
3.2. Những chủ đề được phản ánh qua nội dung câu đối các di tích lịch sử văn hóa Hà Nội.
a. Câu đối mang tính chất đề dẫn. Loại câu đối đề dẫn thường có số lượng ít, mang tính khái quát cao, nêu rõ mục đích, đặc điểm, tính chất, không gian, thời gian, vị trí tọa lạc của từng di tích.
b. Câu đối miêu tả cảnh đẹp thiên nhiên. Trong các di tích, số lượng câu đối loại này khá phong phú mỗi câu đối như một bức tranh về di tích đó. Những hiện tượng tự nhiên trong câu đối được thần thánh hóa gắn với sự tính nhân thần, địa thần, thánh thần, thiên thần... Loại câu đối tả cảnh đẹp thiên nhiên ở chùa, đều nhiều hơn so với đình, miếu và các loại hình di tích khác.
c. Câu đối mang nội dung Tôn giáo. Nhìn chung nội dung câu đối ca ngợi đạo Phật, đạo Nho, đạo Lão mang yếu tố tích cực. Câu đối ca ngợi Phật gắn với chùa; câu đối ca ngợi đạo Nho gắn với văn miếu, văn chỉ, nhà thờ họ tộc, Quốc tử giám, câu đối ca ngợi đạo Lão gắn với Quán đạo.
d. Câu đối ngợi ca danh nhân, thánh mẫu. Mảng câu đối này xuất phát từ truyền thống thơ “đa thần”, “tiền phật, hầu thần”, tín ngưỡng dân gian thờ danh thần, thánh mẫu mang đậm mầu sắc văn hóa Việt Nam, thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần của cộngngười Việt.
e. Câu đối ca ngợi các anh hùng dân tộc, được tôn thần có công lao với dân, với nước. Cũng như câu đối ca ngợi danh nhân, thánh mẫu, câu đối loại này tập trung trong các di tích như đình, đền, nơi dành cho việc thờ tự các “nhân thần”, “thiên thần”. Ngoài đình, đền ở các chùa, phủ cũng xuất hiện dạng câu đối này, thể hiện tính chất đa thờ của người Việt từ xưa.
h. Câu đối đề truyền thống yêu nước, thương dân, thuần phong mỹ tục và lòng tự hào dân tộc. Bộ phận câu đối có nội dung trên chiếm tỷ lệ khá lớn, có vị trí xứng đáng, hiện diện trong tất cả các loại hình di tích. Ngoài giá trị trưng bày, dạng câu đối này còn có ý nghĩa sâu sắc về giáo dục truyền thống yêu nước của dân tộc, ảnh hưởng sâu rộng, mang tính tích cực trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
Có thể nói thể tài câu đối đóng vai trò không thể thiếu trong các loại hình di tích, phù hợp với đặc trưng kiến trúc cổ phương Đông, vừa có giá trị thẩm mĩ cao vừa chuyển tải những nội dung sâu sắc, phong phú qua những đường nét chạm, khắc trên nhiều chất liệu khác nhau.
4. Tình hình và thực trang của câu đối Hán Nôm di tích lịch sử văn hóa hiện nay và những giải pháp.
4.1. Hà Nội so với các địa phương khác trong cả nước là địa bàn hiện hữu nhiều di tích lịch sử văn hóa, có giá cao về lịch sử, nghệ thuật, điêu khắc, chứng minh hùng hồn về một vùng đất có truyền thống lịch sử lâu dài, chứng tích của nền văn minh nông nghiệp. Trải qua ngàn năm, với quá nhiều biến cố lịch sử, song dấu ấn di tích lịch sử - văn hóa trên đất Hà Nội vẫn còn dáng dấp nguyên sơ, cổ kính như nó vốn có. Sự tồn tại mang tính khách quan của các di tích như vật chứng cho truyền thống dân tộc, luôn hướng về cội nguồn, trân trọng, nâng niu giá trị tinh thần của ông cha, được vun đắp qua bao đời.
Không dễ gì bảo tồn được hơn 2000 di tích lịch sử văn hóa lớn, nhỏ trên địa bàn Hà Nọi nguyên vẹn như vốn có, cộng với 25.500 văn bản thuộc các thể loại Hán Nôm bao gồm chuông, câu đối, hoành phi, đại tự, văn bia, biển thơ, thần phả, ngọc phả,... và chưa kể hàng vạn hiện vật khác. Bảo tồn được như hiện nay, đó chính là công sức, tâm trí, ý thức của nhiều thế hệ người Hà Nội. Chỉ số trên cho thấy giá trị đích thực về bề dày văn hóa của kinh đô Thăng Long một ngàn năm tuổi.
Sự kết hợp yếu tố vật thể trong một di tích, tạo nên giá trị tổng thể di tích đó. Mỗi di tích lịch sử - văn hóa Hà Nội đều gắn với địa danh cụ thể nơi tọa lạc. Di tích là nơi thờ tự vãng cảnh vừa có ý nghĩa tâm linh, vừa có ý nghĩa vật thể. Ý nghĩa vật thể thể hiện về giá trị kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc, niên đại lịch sử, chất liệu vật thể.
Việc bảo tồn và khai thác giá trị của các di tích Hà Nội nói chung và di bản Hán Nôm nói riêng, từ trước đến nay, đạt được những thành tựu đáng kể. Hầu như mỗi di tích lịch sử văn hóa cổ, ít thì một lần được trùng tu, có di tích lâu đời đã qua vài lần trùng tu. So với các địa phương khác trên toàn quốc, thủ đô Hà Nội là nơi còn giữ được nhiều di tích cổ mang dáng dấp của buổi ban đầu như Văn Miếu - Quốc Tử Giám, chùa Một Cột, đền Quan Thánh, chùa Trấn Quốc, chùa Bạch Mã, đền Ngọc Sơn, cụm di tích Đình Cự (Nội thành). Chùa Sái, chùa Ninh Hiệp, chùa Thanh Nhàn, chùa Kiến Sơ (ngoại thành), v.v...
Vì lẽ đó, Hà Nội là địa phương có số lượng di tích lịch sử - văn hóa được công nhận xếp hạng, cấp bằng di tích lớn nhất cả nước.
Cùng với số lượng di tích cổ phong phú, đa dạng là kho tàng di sản Hán Nôm dồi dào. Trong đó câu đối Hán Nôm là thể tài hiện diện ở tất cả các loại hình di tích. Chính vì vậy bảo tồn, khai thác mảng di sản Hán Nôm này được đặt ra cũng hết sức cấp bách.
4.2. Thực trạng di tích lịch sử - văn hóa Hà Nội hiện nay có nhiều khởi sắc đáng mừng song song với đà phát triển mạnh về kinh tế của thủ đô những năm gần đây. Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta về việc bảo tồn, khai thác vốn cổ là động lực cho sự hồi sinh, phát huy tác dụng về mọi mặt của di tích lịch sử - văn hóa Hà Nội.
Bên cạnh những mặt tích cực thể hiện rõ nét qua thực tế bào tồn trùng tu, sửa chữa ở các di tích, không ít các di tích còn bộ lộ những bất cập về sự xuống cấp, mất mát, thu hẹp diện tích và ảnh hưởng môi trường. Hệ thống câu đối Hán Nôm trong các di tích cũng đang báo động về sự thất lạc, hư hại cũng như tính bất ổn về nội dung mỗi lần sửa sang, trùng tu, không ít những vấn đề cần phải khắc phục.
Trước hết phải kể đến những khiếm khuyết trong bảo quản và sử dụng câu đối.
Hệ thống câu đối - mà chủ yếu là câu đối chữ Hán chưa được quan tâm về chuyên môn một cách đầy đủ. Từ đó dẫn đến tình trạng dịch chuyển, sử dụng lẫn lộn, không phù hợp với vị trí đặt định của chúng. Nguyên nhân của tình trạng này là do mỗi lần tu sửa, người ta không chú ý nhiều đến đầu tư chuyên môn cho việc xác định tra cứu chữ nghĩa các câu đối.
Tình trạng câu đối trùng lặp, treo nhầm, lẫn lộn xảy ra không ít, bên trái đưa sang phải và ngược lại, hoặc dùng trái với luật đối bằng trắc. Câu đối ở đình chuyển sang treo ở chùa, như ở chùa Vũ Thạch có câu:
Thiên địa sinh cơ quan thảo mộc
Thánh hiền lạc thú tại đồ thư
(Trời đất sinh cỏ xem cây cỏ
Thánh hiền vui thú với văn chương).
Căn cứ vào nội dung câu đối trên rõ ràng là treo nhầm từ đình Vũ Thạch sang chùa Vũ Thạch, vì lý do hai di tích này gần nhau.
Hiện tượng câu đối mất chữ, thiếu chữ xảy ra khá phổ biến, nhất là câu đối đắp trên nền xây, cột đá; câu đối viết khắc ở các chất liệu có độ bền vững kém, do ảnh hưởng của khí hậu có độ ẩm cao.
Không ít những câu đối qua sửa chữa, bổ sung do hạn chế về chuyên môn nên khắc họa, tô lại, viết thêm sai với thực tế ban đầu.
Một số di tích do hạn hẹp về diện tích, không gian nên bị che khuất, mất tính thẩm mỹ, không phát huy được tác dụng.
Tuy không nhiều, trong một số di tích còn có hiện tượng câu đối thiếu vế này hoặc vế kia, mà chưa có biện pháp khắc phục hữu hiệu.
Để giải tỏa những hạn chế trên, trong công tác bảo tồn chung, hệ thống câu đối cần có sự quan tâm đúng mức, để khắc phục những hiện tượng bất cập đặt ra. Bên cạnh, trước yêu cầu chấn hưng văn hóa dân tộc, vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trở nên cấp thiết. Đối với từng di tích, nên chăng bổ sung thêm những câu đối mang nội dung phù hợp bằng thứ văn tự của dân tộc là chữ Nôm. Và dịch toàn bộ câu đối chữ Hán ra chữ Quốc ngữ đặt ở vị trí trung tâm di tích, nhằm cung cấp thông tin cho cộng đồng người Việt đến viếng thăm, vãng cảnh, lễ hội.
Tìm hiểu mảng câu đối Hán Nôm di tích lịch sử văn hóa Hà Nội, bảo tồn và phát huy giá trị của bộ phận di sản Hán Nôm quan trọng này, trở nên cấp thiết trước thềm kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long – Hà Nội.
Chú thích:
1. Theo Tổng kiểm kê của Ban quản lý di tích và danh thắng Hà Nội năm 1984.
2. Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn: Thơ văn Lý Trần, Tập I, Nxb. KHXH, 1977.
3. Câu đối đền Tương Thuận thờ Hưng Đạo Vương - Trần Quốc Tuấn, Ngõ đền Tương Thuận số 30 Khâm Thiên, quận Đống Đa, Hà Nội.
Thông báo Hán Nôm học 2003, tr...