8. Một thi phẩm viết về Hà Nội của Nguyễn Văn Siêu (TBHNH 2010)
MỘT THI PHẨM VIẾT VỀ HÀ NỘI CỦA NGUYỄN VĂN SIÊU
NGUYỄN THỊ THANH CHUNG
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Nguyễn Văn Siêu 阮文超 (1799 - 1872), tên khác là Định 定, tự Tốn Ban 遜班, thụy Chí Đạo 志道, hiệu Phương Đình 方亭vàThọ Xương cư sĩ 壽昌居士. Ông sinh tại làng Lủ (Kim Lũ), Khương Đình, Thanh Trì, Hà Nội; sau định cư tại Dũng Thọ, Giang Nguyên, Thọ Xương, Hà Nội. Phương Đình là tác gia lớn về địa lí, lịch sử, tư tưởng, thơ văn… Riêng về thơ ca, ông sáng tác hơn một nghìn bài thơ chữ Hán(1), trong đó Phương Đình Vạn lí tập (方亭萬里集) đã thể hiện một phần tài thơ của người hay chữ bậc nhất nước ta ở thế kỉ XIX. Chí Hà Nội trực lôi vũ kế tác đồ gian hỉ thành (至河內值雷雨繼作途間喜成- Đến Hà Nội gặp mưa sấm, tiếp tục hành trình, vui mà làm thơ) là một bài thất ngôn bát cú tiêu biểu của thi tập
Về mặt văn bản, thi phẩm nằm trong bản khắc in Phương Đình Vạn lí tập và bản viết tay Bích viên tảo giám. Tập thơ sáng tác trên đường đi sứ của Nguyễn Văn Siêu còn một biệt tập viết tay, kí hiệu A.2769, tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nhưng văn bản đã bị rách một số tờ đầu và không có bài thơ này. Bài thơ trong bản khắc in Phương Đình Vạn lí tập và bản viết tay Bích viên tảo giám chỉ khác biệt một chữ tại câu thứ 7. Phương Đình Vạn lí tập ghi: 十年回首惟霜鬢(Thập niên hồi thủ duy sương mấn), Bích viên tảo giám viết: 十年回首徒霜鬢(Thập niên hồi thủ đồ sương mấn). Tuy nhiên, sự khác biệt giữa 惟(duy) và 徒(đồ) không làm thay đổi câu thơ vì hai từ này đều là phó từ mang nghĩa: độc nhất, duy nhất… Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu văn bản bài thơ trong bản khắc in và tìm hiểu nét đặc sắc của thi phẩm.
Chữ Hán:
青蕨江頭夜作解
蒞人山曉密雲驅
州人久歎春多暑
歸客休傷雨載途
萬頃深田芳草地
千村水竹輞川圖
十年回首惟霜鬢
羞見鄉翁立避衢
Phiên âm:
Thanh Quyết giang đầu dạ tác giải,
Lị Nhân sơn hiểu mật vân khu.
Châu nhân cửu thán xuân đa thử,
Quy khách hưu thương vũ tải đồ.
Vạn khoảnh thâm điền phương thảo địa,
Thiên thôn thuỷ trúc Võng Xuyên đồ.
Thập niên hồi thủ duy sương mấn,
Tu kiến hương ông lập tị cù.
Tạm dịch:
Thanh Quyết(2), đầu sông đêm rời thuyền,
Lị Nhân(3), sớm núi mây vần vũ.
Người dân than mãi xuân nóng hạn,
Khách về chớ phiền mưa ngập đường.
Vạn khoảnh thâm điền, đất phương thảo,
Nghìn thôn thủy trúc, bức Võng Xuyên (4).
Mười năm nhìn lại chỉ tóc bạc,
Thẹn trông bô lão đứng nhường đường.
Ngòi bút điêu luyện của thi nhân thể hiện rõ nét qua tứ thơ vận động từ thiên nhiên đến đời sống con người, tâm sự cá nhân, qua lối viết bình dị phác thực đến phong cách sang trọng, cổ điển. Không gian, thời gian được tái hiện theo hành trình trở thành đặc điểm dễ nhận ra trong thơ đi sứ. Câu thứ nhất cho biết nơi rời thuyền (作解 - tác giải) tại đầu sông Thanh Quyết (青蕨江頭 - Thanh Quyết giang đầu) trong đêm khuya (夜- dạ). Trên đường đến Lị Nhân, đêm chuyển sáng, bầu trời trở mây vần vũ (密雲驅 - mật vân khu). Cảnh không đẹp nhưng thi nhân không buồn. Niềm vui báo trước ở nhan đề được cắt nghĩa rõ hơn: “Người trong châu than mãi xuân nắng nóng, khách về chớ phiền lòng vì mưa ngập đường”. Cuộc sống đời thường hiển hiện tự nhiên với những con người bình dị, chuyện thời tiết nắng mưa. Cảnh sắc và cách phô bày vẻ đẹp trở nên trang nhã trong hai câu tiếp theo. Hai câu cuối đạt được hiệu quả nghệ thuật bất ngờ với cảm xúc đổi thay: “Mười năm nhìn lại chỉ tóc bạc, thẹn trông bô lão đứng nhường đường”. Sự linh họat, biến hóa là một trong những phẩm chất làm nên sức hấp dẫn của văn chương. Kinh Dịch đã viết: vằn trên da hổ vì thay đổi mà đẹp đẽ, vằn trên da báo vì đan xen mà rực rỡ(5). Khi viết lời đề tựa cho thi tập, Trương Đăng Quế đánh giá Phương Đình Vạn lí tập là sách mới (新篇 - tân thiên)(6). Dưới giác độ tổng quan lịch sử văn học, tập thơ Vạn lí của Phương Đình chưa thực sự tạo ra đột phá cho thơ ca Việt Nam nói chung và dòng thơ đi sứ nói riêng. Tuy nhiên, sự tinh tế trong từng tác phẩm đủ để thi nhân trở nên nổi tiếng bởi văn chương (以文學名 - dĩ văn học danh)(7).
Trong mạch thơ linh hoạt, vẻ đẹp của Hà Nội hiện lên nổi bật hơn cả. Trừ khoảng 10 năm (1838 - 1854) làm quan ở Huế và một số tỉnh lị, Phương Đình luôn gắn bó với Thăng Long - Hà Nội. Tình yêu ấy hiển hiện nơi di tích Đài Nghiên, Tháp Bút, cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn, đình Trấn Ba… Phương Đình còn dấu yêu một Hà Nội trong thơ văn với sông Tô, hồ Gươm, chùa Trấn Vũ, miếu Văn Xương… Có thể kể đến một số tác phẩm: 蘇江觀水 (Tô giang quan thủy - Xem dòng sông Tô), 珥河二首(Nhĩ Hà nhị thủ - Nhĩ Hà hai bài), 珥河對月(Nhĩ Hà đối nguyệt - Ngắm trăng ở Nhĩ Hà), 劍湖夜月歌舟中對酒作(Kiếm hồ dạ nguyệt ca chu trung đối tửu tác - Ngồi uống rượu trong thuyền trước đêm trăng hồ Hoàn Kiếm), 登鎮武觀鍾樓(Đăng Trấn Vũ quán chung lâu - Trèo lên gác chuông quán Trấn Vũ), 珥河記 (Nhĩ Hà ký - Bài ký sông Nhĩ), 重遊西湖記 (Trùng du Tây Hồ ký - Bài ký Lại chơi Hồ Tây), 重遊劍湖記(Trùng du Kiếm Hồ ký - Bài ký Lại chơi hồ Hoàn Kiếm), 擬文昌廟碑(Nghĩ Văn Xương miếu bi - Thay làm bài văn bia cho miếu Văn Xương), 筆塔誌(Bút Tháp chí - Bài chí Tháp bút)…
Hà Nội chỉ là một điểm đến trên hành trình đi sứ nhưng lại là nơi chôn nhau cắt rốn, gắn bó suốt thời niên thiếu đến khi trưởng thành của Phương Đình. Trong niềm xúc động, thi nhân không miêu tả một địa danh cụ thể mà vẽ lên một bức tranh thơ toàn cảnh về Hà Nội:
萬頃深田芳草地
千村水竹輞川圖
Vạn khoảnh thâm điền, phương thảo địa,
Thiên thôn thuỷ trúc, Võng Xuyên đồ.
(Vạn khoảnh thâm điền, đất phương thảo,
Nghìn thôn thủy trúc, bức Võng Xuyên).
Trong bức tranh thơ, Hà Nội là một vùng nông thôn trù phú. Không gian rông lớn với con số có thể định lượng nhưng mang tính ước lệ: 萬頃(vạn khoảnh - vạn khoảnh), 千村(thiên thôn - nghìn thôn). Những cánh đồng màu mỡ hiện lên trong hình ảnh 深田(thâm điền - ruộng sâu). Thủy trúc, còn gọi Yên trúc, loại cây cao, xanh đậm điểm hồng, cành nhỏ, lá có lông, có hoa, thường được dùng làm đồ vật. Loại cây này không phổ biến ở Bắc Bộ nên thủy trúc có thể hiểu là tre trúc in bóng dưới nước, một không gian đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc bộ. Nguyễn Văn Siêu từng ví chuyện viết văn làm thơ với việc trồng cây: “Một người dùng đất hàng trăm mẫu bón tưới bằng nước sông, định làm cho cây cao trăm trượng, gió sương dầu dãi, mưa móc thấm nhuần, lá lớn cành dài, tha hồ phát triển. Nhờ thế mà cây có nhiều vẻ đẹp, giống như văn chương của trời đất”(8). Đi sứ là quá trình trải nghiệm có giá trị đối với sáng tạo văn chương nghệ thuật. Hà Nội đã để lại dấu ấn trong thi ca của ông ở hoàn cảnh sáng tác đặc biệt như vậy.
Từ cảnh đồng quê và thôn làng, Hà Nội trở nên lung linh, huyền ảo, thanh tao, hư thực như tranh thủy mặc. Thi nhân thấy quê mình sánh cùng vùng Võng Xuyên, Lam Điền, Thiểm Tây, Trung Hoa. Cảnh đẹp Võng Xuyên trong thư họa Vương Duy đã thành biểu tượng cho non nước hữu tình. Khi tự hào về quê hương, Trịnh Sâm cũng viết: 福地古來多胜跡, 何芳点缀辋川图(Phúc địa cổ lai đa thắng tích, hà lao điểm xuyết Võng Xuyên đồ - Đất phúc từ xưa đến nay vẫn nhiều danh lam thắng cảnh, cần gì phải nhọc công tô vẽ bức Võng Xuyên)(9). Quả là, Phương Đình đã nắm bắt được thần thái, linh hồn Hà Nội. Cổ nhân từng khẳng định: tình là gốc của thi ca. Nguyễn Văn Siêu cũng viết: “Văn chương có thứ đáng chuộng có thứ không đáng chuộng, thứ không đáng chuộng thể hiện ở văn, thứ đáng chuộng thể hiện ở người” (10).
Không chỉ mang nét đặc trưng vùng đồng bằng Bắc Bộ và vẻ đẹp thủy mặc, Hà Nội còn hiển hiện với truyền thống văn hiến, địa linh nhân kiệt. Phương Đình gửi gắm niềm tự hào qua hình tượng biểu trưng - phương thảo địa. Tứ thơ gợi vẻ xanh tươi của vùng đất bên sông Trường Giang trong thơ Thôi Hiệu: 晴川歷歷漢陽樹,芳草萋萋嬰鵡洲(Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ, phương thảo thê thê Anh Vũ châu - Cây Hán Dương soi bóng sông tạnh, bãi Anh Vũ mơn mởm cỏ thơm). Nhưng phương thảo địa không chỉ là đất tốt cỏ thơm. Phương thảo từng tỉ dụ cho người hiền đức. Khuất Nguyên viết trong Li tao: 何昔日之芳草兮,今直為此蕭艾也(Hà tích nhật chi phương thảo hề, kim trực vi thử tiêu ngải dã - Tại sao cỏ thơm ngày trước, đến nay lại thành bụi rậm như này). Thời Tống, Lưu Ban giải thích trong Tầm Châu ngoạn Phương Đình kí: 自詩人比興皆以芳草嘉卉為君子美德(Tự thi nhân tỉ hứng, giai dĩ phương thảo gia hủy vi quân tử mĩ đức - Thi nhân khi sáng tác văn chương thường lấy cỏ thơm tươi tốt để ví với mĩ đức của quân tử). Đỗ Mục thời Đường đã viết: 山密夕陽多, 人稀芳草遠(Sơn mật tịch dương đa, nhân hi phương thảo viễn - Núi nhiều bóng chiều đặc, người vắng tri âm xa). Vậy nên, phương thảo địa trong thơ Nguyễn Văn Siêu ẩn dụ cho vùng đất quy tụ hiền tài. Chỉ với hai câu thơ mà thi nhân đã lưu giữ những vẻ đẹp có một không hai về kinh kì nghìn năm văn hiến.
Hòa cùng bức tranh thiên nhiên ấy là tâm sự nhẹ nhàng mà sâu lắng của nhân vật trữ tình, một người con Thăng Long - Hà Nội, một nhà Nho chính thống trong thế kỉ XIX:
十年回首惟霜鬢,
羞見鄉翁立避衢.
Thập niên hồi thủ duy sương mấn,
Tu kiến hương ông lập tị cù.
(Mười năm nhìn lại chỉ tóc bạc,
Thẹn trông bô lão đứng nhường đường).
Mái đầu bạc thường chất chứa bi kịch tinh thần. Lí Bạch làm say lòng người bằng hình ảnh “tóc trắng” trong Thu Phố ca: 白髮三千尺, 緣愁似個長.不知明鏡里,何處得秋霜(Bạch phát tam thiên xích, duyên sầu tự cá trường. Bất tri minh kính lí, hà xứ đắc thu sương - Tóc trắng ba nghìn thước, theo mối sầu mà dài đến như vậy. Không biết trong gương sáng, nơi nào được sương thu). Khi Đăng cao, Đỗ Phủ đau đớn trước cảnh “đầu bạc” mà vẫn “gian nan khổ hận”: 萬里悲秋常作客, 百年多病獨登臺.艱難苦恨繁霜鬢,潦倒新停濁酒杯 (Vạn lí bi thu thường tác khách, bách niên đa bệnh độc đăng đài. Gian nan khổ hận phồn sương mấn, lạo đảo tân đình trọc tửu bôi - Muôn dặm thu buồn thân đất khách, suốt đời đau ốm, một mình lên đài. Gian khổ khổ hận toàn tóc trắng, run rẩy vừa ngưng chén rượu đục). Thi hào Nguyễn Du thì nhớ người xưa mà thương cho tình cảnh của mình: 壯年我亦為才者, 白髮秋風空自嗟(Tráng niên ngã diệc vi tài giả, bạch phát thu phong không tự ta - Thanh xuân ta cũng người tài giỏi, nay bạc đầu chỉ biết than thở trước gió thu mà thôi)...
Ý thức về sự hữu hạn của đời người thường gợi niềm bi thương còn nỗi thẹn mỗi thời mỗi khác. Trước Phương Đình, Phạm Ngũ Lão từng khảng khái:橫槊江山恰幾秋, 三軍貔虎氣吞牛.男兒未了功名債,羞聽人間說武侯(Hoành sóc giang sơn cáp kỉ thu, tam quân tì hổ khí thôn Ngưu. Nam nhi vị liễu công danh trái, tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.- Nâng ngang giáo bảo vệ giang sơn vừa mấy thu, ba quân hùng mạnh thế nuốt sao Ngưu. Nam nhi chưa trả xong nợ công danh, thẹn nghe nhân gian nói chuyện Vũ Hầu). Sau Phương Đình, nỗi thẹn của bậc Tam Nguyên làm bâng khuâng bao người tài cao phận thấp: Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, nghĩ ra lại thẹn với ông Đào…
Thực ra, Nguyễn Văn Siêu cũng tự hào về bản thân. Khi cùng đoàn sứ qua quê hương, ông thấy mình là người mặc áo gấm Thành Đông (城東晝錦人 - Thành Đông trú cẩm nhân)(11).
旭日初風珥水津,
衣冠載道送征塵.
共傳斗北浮差客,
中有城東晝錦人.
(同使部發珥河)
Húc nhật sơ phong Nhĩ thuỷ tân,
Y quan tải đạo tống chinh trần.
Cộng truyền Đẩu Bắc phù sà khách,
Trung hữu Thành Đông trú cẩm nhân.
(Đồng sứ bộ phát Nhĩ Hà)
(Ban mai gió sớm bến Nhĩ Hà,
Mũ áo rợp đường đưa sứ bộ.
Sao Bắc Đẩu cũng theo thuyền khách,
Trong có người áo gấm Thành Đông).
(Cùng sứ bộ xuất phát ở Nhĩ Hà)
Nguyễn Văn Siêu từng được nuôi dạy bởi người cha chuộng đạo Nho, ao ước trở thành cao nhân(12) theo quan niệm Nho gia chính thống với sự nghiệp hiển vinh nhưng thi cử thì chỉ đỗ Phó bảng, phẩm hàm đạt được không cao mà nhiều phen thăng giáng(13), trí sĩ lại bị chính sử chép do có chuyện mà cáo quan(14). Con người mang tư tưởng Nho gia này còn sống vào thời kì nhà nước quân chủ mất dần vai trò lịch sử, nhà Nho mất dần chỗ đứng tối thượng trong xã hội. Ông buồn vì bi kịch cá nhân cùng bi kịch thời đại làm tan vỡ nhiều khát vọng cao đẹp. Ông thẹn với hương ông (bô lão trong làng) cũng chính là thẹn với quê hương, đất nước, dân tộc.
Bài thơ 至河內值雷雨繼作途間喜成(Chí Hà Nội trực lôi vũ kế tác đồ gian hỉ thành - Đến Hà Nội gặp mưa sấm, tiếp tục hành trình, vui mà làm thơ) biên hóa trong mạch thơ, ấn tượng với bức tranh toàn bích về Hà Nội, sâu sắc cùng tâm sự của thi nhân. Thi phẩm kí thác sự trải nghiệm cuộc sống và một tấm lòng thành thực, luôn hướng đến những áng “văn chương của trời đất” và “văn chương đáng chuộng” của con người tài hoa bậc nhất một thời.
Chú thích
1. Xem bài Sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Thị Thanh Chung, Tạp chí Hán Nôm, số 1/2009, tr.41-47.
2. Thanh Quyết: đoạn sông Đáy chảy qua làng Thanh Quyết, tổng Thanh Quyết, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, còn có tên là sông Thiên Phái, sông Bồ Cô.
3. Lị Nhân: tổng Đồng Thủy, huyện Nam Xang, phủ Lị Nhân, trấn Sơn Nam Thượng.
4. Võng Xuyên: tên vùng sông nước, tức Võng Cốc thủy, các dòng nước đổ về như mạng lưới đan xen cùng núi non, phong cảnh hữu tình nên có tên như vậy. Nay tại phía nam Lam Điềm, Thiểm Tây, Trung Hoa. Thời Đường, Vương Duy từng đến đây, ông tập hợp thơ điền viên của mình, lấy tên Võng Xuyên tập. Từ đó, võng xuyên được dùng để chỉ phong cảnh diễm lệ, tươi sáng.
5. Kinh Dịch trọn bộ, Ngô Tất Tố dịch và chú giải, Nxb. Văn học, H. 2008, tr.654-655. Lấy ý từ Quẻ Cách: 大人虎變, 其文炳也… 君子豹變, 其文也- Đại nhân hổ biến, kì văn bính dã… Quân tử báo biến, kì văn uất dã.
6. 方亭詩類, VHv.838/1-4, Thư viện VNCHN, tr.1a.
7. 國朝科榜錄, VHv. 646, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. (Phó bảng, Minh Mệnh thập cửu niên Mậu Tuất khoa).
8. Thư gửi Lục Luân Anh, Quan niệm văn học của một số nhà Nho Việt Nam, Nguyễn Đức Vân sưu tầm và dịch, Tạp chí Văn học, năm 1963, số 6, tr.115.
9. Thư gửi Ngô Hy Phan, Quan niệm văn học của một số nhà Nho Việt Nam, Nguyễn Đức Vân sưu tầm và dịch, Tạp chí Văn học, năm 1963, số 6, tr.115.
10. Xem bài Bài thơ chữ Hán của Nhật Nam nguyên chủ tại động Hồ Công, Hồng Phi - Hương Nao, Thông báo Hán Nôm học 2000.
11. 晝錦Trú cẩm chỉ việc quay về quê hương khi đã công thành danh toại. Chuyện kể, lúc Hạng Vũ vào Hàm Dương, có người khuyên ông ta ở lại Quan Trung. Vũ thấy cung điện nhà Tần đã bị tiêu diệt, muốn quay về Giang Đông, bèn trả lời: “Phú quý mà không quay về quê hương thì khác gì áo gấm đi đêm, ai biết được”.
12. Tạp chí Nam Phong (1928), Cụ Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, (134), tr. 228. Bài viết cho biết, năm 13 - 14 tuổi, khi được cha dạy học ở nhà, cậu bé Định tự đề hoành biển hai chữ 樂天 (Lạc thiên - Vui với mệnh trời) và treo ở phòng học câu đối 道在古今無曲徑, 天多蓬篳產高人 (Đạo tại cổ kim vô khúc kính, thiên đa bồng tất sản cao nhân - Đạo từ xưa đến nay không phải đường tắt, trời thường sinh bậc anh tài trong chốn nhà tranh lều cỏ).
13. Từ năm 1838 đến năm 1854, Nguyễn Văn Siêu nhậm các chức Hàn lâm viện Kiểm thảo (hàm Tòng thất phẩm), Nội các Thừa chỉ (hàm Tòng ngũ phẩm), Thị giảng học sĩ (hàm Tòng tứ phẩm), Án sát sứ (hàm Chính tứ phẩm)… Chính tứ phẩm là phẩm hàm cao nhất mà ông đạt được. Thời gian không dài, phẩm hàm không cao nhưng hoạn lộ của Phương Đình nhiều thăng trầm, nhất là sau những việc xảy ra năm 1841 và 1854.
14. Trong 大南寔錄, kí hiệu A.27/38 tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, trang 32 viết: 阮文超, 河內人, 原按察使, 以事坐降告假(Nguyễn Văn Siêu, Hà Nội nhân, nguyên Án sát sứ, dĩ sự tọa giáng cáo giá - Nguyễn Văn Siêu người Hà Nội, nguyên làm Án sát sứ, vì có chuyện nên bị giáng, phải xin về nghỉ hưu)
Tư liệu tham khảo chính
1. 璧垣藻鑑, A.2589, TVVNCHN.
2. 方亭詩類, VHv.838/1-4, TVVNCHN.
3. 方亭文類, VHv.839/1-4, TVVNCHN.
4. Lâm Giang, “Thơ Nguyễn Văn Siêu viết về Hà Nội”, Thông báo Hán Nôm học 2005, tr.240-247.
5. Nguyễn Vinh Phúc, “Bước đầu tìm hiểu Nguyễn Văn Siêu”, Tạp chí Văn học, năm 1986, số 11, tr.105-116.
6. Phương Đình Văn loại: Hà Nội - văn vật, Trần Lê Sáng dịch, Nxb. Văn học, H. 2000.
7. Trần Lê Sáng, “Thơ Nguyễn Văn Siêu”, Tạp chí Hán Nôm, năm 2006, số 5, tr.3-9.
8. Tạp chí Nam Phong, Cụ Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, năm 1928, số 134, tr.329-331.
9. Nguyễn Như Thiệp, Nét bút thần của Nguyễn Văn Siêu thi ca và lịch sử, Nxb. Tân Việt, 1944./.
(Thông báo Hán Nôm hoc, 2010, tr.45-55)