86. Giới thiệu tấm bia của Tiến sĩ Trần Thế Vinh ở Văn Chỉ xã Thổ Hoàng, tỉnh Hưng Yên (TBHN 2008)
GIỚI THIỆU TẤM BIA
CỦA TIẾN SĨ TRẦN THẾ VINH Ở VĂN CHỈ
XÃ THỔ HOÀNG, TỈNH HƯNG YÊN
LÊ THỊ THÔNG
Trung tâm lưu trữ Quốc gia 1
Trần Thế Vinh người làng Đào Xuyên, huyện Tiên Phong, nay thuộc tỉnh Hà Nội. Không rõ năm sinh, năm mất. Năm 1670 ông đỗ Tiến sĩ. Đến năm 1684 ông được cử sang sứ Trung Quốc. Làm quan đến chức Công bộ Hữu Thị lang.
Tác phẩm còn lại có 2 bài thơ (văn) chép trong Toàn Việt thi lục.
Ngoài ra ông còn soạn nhiều văn bia được đặt ở các địa phương. Trong bài thông báo này chúng tôi xin giới thiệu tấm bia do ông soạn ở Văn chỉ xã Thổ Hoàng huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên.
Mô tả văn bia: Bia gồm 4 mặt, kích thước 100 x 70 cm. Gồm 70 dòng, toàn văn khoảng 3000 chữ. Bia không có hoa văn. Bia N04702-4705 ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Chúng tôi xin phiên âm dịch nghĩa toàn văn văn bia.
Phiên âm:
TRUY TỰ TIÊN SƯ TIÊN HIỀN BI KÍ
Thiết văn: Ngô đạo tại thiên địa gian, vị thí nhất nhật bất tồn nhi năng, kính nhi tôn chi, truy nhi tự chi. Tự phi đạo đức chân nho, hạt túc dĩ ngữ, thử thẩn tư thiên thi Thổ Hoàng nãi Sơn Nam chi nhất danh khu sĩ đăng khoa đệ thế xuất hiền lương cổ hình gia thư hữu thị kí hĩ. Nẵng giả phụng sự.
Tiên sư tiên hiền vu thử, đảo cầu thí cử ứng đáp như hưởng lại phong tục nhật bạ hương hỏa tiệm sơ.
Tiền văn trưởng tặng Kinh Bắc xứ, Thừa ti Tham chính, Văn Phong nam Hoàng công, húy Sĩ Khoa, tự xuất gia điền phụ nhập cựu thổ. Suất bản hội tài chủng trúc mộc cấu tác thảo đường, tuế thời phụng sự thả thản cơ vị vi cao sảng chế độ vị vi vĩ quan. Quyến tư Đương triều Quang tiến Thận lộc đại phu, Bồi tụng Lại bộ Tả Thị lang, Nhập thị Kinh diên, Thi Khánh nam, Hoàng công húy Công Trí dục quảng tiền phụ chí nãi xuất gia tài mãi chư nhân điền thổ cộng đắc tứ cao, hựu nguyên bản xã điền thổ dĩ điền dữ tha nhân tái xuất gia tiền thục thủ cộng đắc nhất mẫu tứ cao tịnh dữ cựu thổ cộng đắc nhất mẫu lục cao, cộng vi tiên sư tiên hiền từ chỉ. Nhân xướng suất bản huyện bản xã chủng lập, do nha tứ viên nội tài thực hoa mộc các phẩm dĩ vi phụng sự. Hệ đệ niên đinh tế hậu hứa bản huyện xã chính nhị các chức cập sĩ nhân đẳng tịnh tựu thử xứ cung trần lễ vậy tế tự như nghi dĩ trọng tư đạo chấn tư văn kính cẩn nhất niệm động văn cửu trùng, khâm mông.
Hoàng thượng ban tứ thạch trụ hương nhất chu thạch, bình hương nhị khẩu, thạch sư tử nhị hình, cập thạch thế từ chỉ tứ biên, tỉ phụng sự hữu sở nhi chí kì kính thần minh hữu y nhi hâm kì tự, mặc phù quốc tộ ư linh trưởng, đại hưng văn vận ư khuê đẩu hĩ. Nhân trưng văn ư phủ dĩ kí kì sự. Duy phù hữu tư văn chi công tất đắc tư văn chi báo, tương kiến thánh đạo phù trì công dụng hoằng đại công chi tử tôn kế đăng kim bảng. Công chi tộc tính điệt trung thanh tiền nhi bản huyện bản xã chi văn nhân, tài tử bân bân bối xuất, khoa mục tiền hậu tương vọng sênh dung trị đạo, tế phất hoàng hiến quân dân vi Nghiêu Thuấn quân dân sự nghiệp, tức Cao Quỳ sự nghiệp y dư thịnh tai! toại thuyên vu thạch dĩ thọ kì truyền.
Thời
Hoàng triều Chính Hòa vạn vạn niên chi thập cửu quý xuân tiết cốc nhật lập.
Tứ Canh Tuất khoa Tiến sĩ hội nguyên, Quang tiến Thận lộc Đại phu, Bồi tụng Binh bộ Hữu Thị lang, Phong Lĩnh Nam, Sơn Tây Tam Đới, Tiên Phong Phong Châu Trần độn phủ soạn.
Công bộ Đô lại, Sơn Tây Quốc Oai, Từ Liêm La Khê Nguyễn Hữu Nhân thừa tả.
Thạch tượng cục, Thanh Hoa Thiệu Thiên, Đông Sơn An Hoạch Nguyễn Duy Nhân, Lê Công Yến thừa khắc.
Tiên sư tiên hiền tính thị
Tứ Giáp Thìn khoa, Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, Thổ Hoàng xã, Nguyễn công, húy Trung Ngạn.
Tứ Mậu Thìn khoa, Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, Vực Đường xã, Đặng công húy Tuyên.
Tứ Quý Mùi khoa, Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, Thổ Hoàng xã, Cái công húy Phùng.
Tứ Mậu Tuất khoa Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, Bình Lăng xã, Vũ công húy Lệ.
Tứ Đinh Mùi khoa Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, Trịnh Mạt xã, Nguyễn công húy Thuần Đoàn.
Tứ Đinh Mùi khoa Đệ tam giáp Tiến sĩ xuất thân, Thổ Hoàng xã, Nguyễn công húy Châu Mạt.
Tứ Đinh Mùi khoa Đệ tam giáp Tiến sĩ xuất thân, Thổ Hoàng xã, Nguyễn công húy Nho Tông.
Tứ Ất Sửu khoa Đệ tam giáp Tiến sĩ xuất thân, Thổ Hoàng xã, Nguyễn công húy Văn Bính.
Tứ Mậu Thìn khoa Đệ nhị giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, Thổ Hoàng xã, Nguyễn công húy Chấn Chí.
Tứ Bính Tuất khoa, Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, Thổ Hoàng xã, Vũ công húy [.].
Tứ Giáp Thìn khoa, Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, Nam Trì xã, Đinh công húy Tú.
Tứ Quý Sửu khoa, Đệ nhất giáp đệ nhị danh, Thổ Hoàng xã, Hoàng công húy Tuân.
Tứ Nhâm Tuất khoa, Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, Thổ Hoàng xã, Hoàng công húy Chân Nam.
Tiền văn trưởng tặng Kinh Bắc xứ Tham chính, Văn Phong nam, Thổ Hoàng xã, Hoàng công húy Sĩ Khoa, truyền đạo truyền giáo chư phụ vị.
Nhất phụng sự Tiên sư, Tiên hiền từ chỉ tịnh thổ viên cộng nhất mẫu lục cao.
Đông trường thất thập cửu ngũ hàng cận tư điền bạn đẳng giới, tây trường thất thập cửu ngũ cận thiên lý lộ, nam trường nhị thập ngũ cận tiểu lộ, bắc trường thập lục ngũ tam xích cận tư điền bạn đẳng giới.
Huệ san văn chỉ thạch chí tự
Sự hữu khai ư phục cổ điển, phù thế giáo chí yên khả dã, hà chí hồ bất vong dã. Ngã huyện văn chỉ chi thiết cổ hĩ, sở tại Thổ Hoàng xã tiền văn trưởng Hoàng Sĩ Khoa trùng tập chi. Chí Chính Hòa thập cửu niên Hoàng Công Trí tăng kì vũ khuếch nhi bi chi hách hách nhiên, dĩ hữu tiên chính tính danh tại xuân thu chí kính, lịch duyệt nhược vu Giáp Tí hĩ. Binh tiển hậu thế vãng phong trưng điển lễ giản quyết tàn bi dư, tiên bích cổ thụ bán khoa huy. Ngô nhân quá thử đãn đắc lâm phong nhất khái.
Hoàng triều đỉnh hưng cố lão thượng tại đạo cập thăng bình, cố điển hàm nguyện quyên sản dĩ phục chi. Dục tụng kì sự cụ bản văn quan thuộc Gia Long thập thất niên Mậu Dần, Diên Hà huyện, Diên Hà thôn Lê Quý hầu hiệp ngã Sơn Nam nguyên trấn chi, tuế sĩ dĩ nho khoa hội trụ cung tiến tiền nhất bách quan. Hoàn kỳ dịch thử quy điển nhã, quan văn phong phúng phúng nhiên, úy uất nhi tú phát hĩ. Hầu chi tiên tổ khảo đại khoa nhị vị diệc ngã huyện Thổ Hoàng vọng tộc xuất dã. Ngã huyện hợp từ tịnh tự. Cái diệc tố kì nguyên vu ngã huyện đạo phái chi, sở cập bất viết đạo tại lưỡng gian bất dĩ địa chi viễn nhĩ nhi hoặc hữu sở vực dư? Tuế Đinh Mùi thu chính quốc khải vận, vạn vạn niên chi tứ thập hựu thất. Ngã hoàng thượng ngự lịch chi sơ niên, hương khoa dĩ thập hựu ngũ, hội khoa dĩ thập hựu nhị phong hội chính nhật long hĩ. Ngã huyện tịnh thân hàm tại tương dĩ nghị viết: huyện nhi hữu văn chỉ sở dĩ tôn tiên chính nhi cổ văn phong, văn chỉ nhi hữu thạch chí diệc sở dĩ thọ tính danh vu bất hủ giả dã. Ngã huyện văn chỉ thạch chí Tân Mùi khoa dĩ tiền tiên tính danh lịch lịch khả chí. Dĩ Canh Tuất khoa dĩ hậu thượng tại quan như hữu năng tục nhi chí chi. Cái tất hữu hầu phù hậu chi nhân bất ninh. Duy thị tố lai lịch khoa hương cống danh tính tải tại truy lục bạ cử hĩ, nhi trinh mân tắc vị chi, cập hựu khải phi quyết điển giả dư?. Tư dục tăng tu thạch chí nhất tòa tục thuyên. Canh Tuất khoa dĩ hậu tiên chính tính tự đực đực nhiên dữ cựu bi tịnh lập vu văn chỉ chi chính trung, đông biên tác phối chi dĩ lịch khoa hương cống dĩ vãng giả chi bi. Kim nhân bồi hồi chiêm vọng cảnh ngưỡng diễm mộ, hữu sở chỉ lệ nhi hưng khởi chi khả hồ. Hàm phách án viết, khả toại cập liễn thạch trình công ủy sở tại đổng kì sự, dĩ thị niên nhị dương nguyệt thượng hoán tị công, hạ hoán công thuân sơ vị phục cổ điển phù thế giáo, kì tương bất tại tư hồ thị vi tự.
Tứ Canh Tuất khoa Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân Công bộ Thượng thư, Thổ Hoàng xã Hoàng công húy Công Trí.
Tứ Đinh Sửu khoa Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, Thổ Hoàng xã, Vũ công húy Công Thắng
Tứ Bính Thân khoa Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, lịch thụ Nghệ An, Tham chính Nam tước, Thái Nguyên hiến sứ, Thổ Hoàng xã, Vũ công húy Trác Quỳnh.
Tứ Tân Sửu khoa Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, Binh bộ Thượng thư, Quận công, Vân Mộ xã, Trịnh Ngô Công húy Dụng.
Tứ Canh Dần khoa Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, Hữu Thị lang, Thổ Hoàng xã, Hoàng công húy Bình Chính.
Phối tự Diên Hà huyện, Diên Hà xã nhị vị.
Tứ Giáp Thìn khoa, Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, Hình bộ Thượng thư, Thái bảo Hà Quận công, Lê công húy Phú Thứ.
Tứ Nhâm Thân khoa Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, Công bộ Thượng thư tặng Thái phó Dĩnh Quận công, Lê công húy Quý Đôn.
Dịch nghĩa:
BIA GHI VỀ VIỆC TẾ TỰ TIÊN SƯ TIÊN HIỀN
Thường nghe: Đạo ta ở trong trời đất, từ khởi nguồn chưa từng một ngày không tồn tại, mà vẫn tôn kính nó, thờ phụng nó. Chẳng phải đạo đức của chân nho thì sao đủ nói đến việc này? Huống hồ nay trời sắp đặt cho xã Thổ Hoàng là đệ nhất danh khoa, đời đời đều có người tài giỏi, sách nhà đều có ghi chép, từ xưa đã phụng thờ.
Tiên sư, tiên hiền ở đây, phù hộ cho thi cử, ứng đáp được vẻ vang, sao phong tục mỗi ngày một nhạt, hương hỏa lại thưa dần?
Tiền văn trưởng được tặng Thừa ti Tham chính xứ Kinh Bắc, tước Văn Phong nam là Hoàng công, húy Sĩ Khoa tự xuất ruộng riêng nhập vào đất cũ, bản hội dùng để trồng trúc, gỗ để xây từ đường năm tháng thờ cúng. Nhưng nền chưa cao sáng, quy mô chưa lớn. Nay Đương triều Quang tiến Thận lộc đại phu, Bồi tụng Bộ Lại, Tả Thị lang, Nhập thị Kinh diên, Thi Khánh nam là Hoàng công, húy Công Trí muốn nối tiếp chí cha bèn bỏ tiền của mua ruộng đất 4 sào, chuộc lại ruộng đất của bản xã đã cầm cố cho người khác. Bỏ tiền chuộc được 1 mẫu 4 sào cùng đất cũ là 1 mẫu 6 sào để làm từ chỉ tiên sư tiên hiền. Nhân đó xướng suất bản huyện bản xã bên ngoài trồng mầm cây 4 phía xung quanh, bên trong trồng cây, hoa các loại để dùng vào việc thờ cúng. Hàng năm sau khi tế Đinh xong, đồng ý cho các chức sắc cùng những người có học tập trung ở từ đường, cung kính bày lễ vật tế lễ đúng nghi thức để coi trọng đạo này, chấn chỉnh văn này, kính cẩn đọc, cửu trùng khâm mệnh.
Hoàng thượng ban cho 1 cây hương đá, 2 bình hương, 2 con sư tử đá cùng đá ở nền từ đường để phụng thờ, có chỗ để cúng thần minh, có chỗ mà tế tự, giúp vận nước được lâu dài, chấn hưng văn vận ở sao Khuê, sao Đẩu. Nhân đó vời tôi đến để viết bài kí, tôi nghĩ: Phàm có công lao ở tư văn, ắt sẽ được báo đáp ở tư văn. Cùng thấy thánh đạo được phù trì, công dụng rộng lớn, con cháu nối tiếp chiếm bảng vàng, dòng họ thay nhau giầu có. Văn nhân tài tử trong bản xã lũ lượt đỗ khoa bảng, trước sau cùng thấy ung dung trị đạo, quân dân trở thành quân dân thời Nghiêu Thuấn, sự nghiệp sánh ngang Cao Quỳ, thật hưng thịnh thay! liền khắc vào đá để truyền mãi.
Họ tên tiên sư tiên hiền
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn, người xã Thổ Hoàng là Nguyễn công, húy Trung Ngạn.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Thìn, người xã Vực Đường là Đặng công, húy Tuyên.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Quý Mùi, người xã Thổ Hoàng là Cái công, húy Phùng.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất, người xã Bình Lăng là Vũ công, húy Tín Biểu.
Đệ nhị giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Đinh Mùi, người xã Thổ Hoàng là Nguyễn công, húy Lệ.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Đinh Mùi, người xã Trịnh Mạt là Nguyễn công húy Châu Chu.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Đinh Mùi, người xã Thổ Hoàng là Nguyễn Công, húy Nho Tông.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Đinh Mùi, người xã Thổ Hoàng là Nguyễn công, húy Văn Bính.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Thìn, người xã Thổ Hoàng là Nguyễn công, húy Chấn Chi.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Tuất, người xã Thổ Hoàng là Vũ công, húy [.].
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn, người xã Nam Trì là Đinh công, húy Tú.
Đệ nhất giáp, đệ nhị danh khoa Quý Sửu, người xã Thổ Hoàng là Hoàng công húy Tuân.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Tuất, người xã Mai Xuyên là Nguyễn công, húy Đức Trân.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Mùi, người xã Thổ Hoàng là Hoàng công, húy Chân Nam.
Tiền văn trưởng được tặng Tham chính xứ Kinh Bắc, tước Văn Phong nam, người xã Thổ Hoàng là Hoàng công, húy Sĩ Khoa, truyền đạo truyền giáo
Đền thờ phụng sự tiên sư tiên hiền cùng đất vườn tổng cộng 1 mẫu 6 sào.
Phía đông dài 79 ngũ gần tư điền bạn, phía tây dài 79 ngũ gần đường thiên lý, phía nam dài 20 ngũ gần tiểu lộ, phía bắc dài 60 ngũ 3 thước gần tư điền bạn.
Bài tựa ghi về việc khắc văn chỉ
Việc bắt đầu ở việc phục cổ điển, giúp thế giáo, ghi chép ở đấy có thể được vậy. Ghi chép để răn dạy không quên vậy.
Văn chỉ huyện ta xây dựng ở xã Thổ Hoàng, Tiền văn trưởng là Hoàng Sĩ Khoa tu bổ lại. Đến năm Chính Hòa thứ 19 (1698) Hoàng Công Trí mở rộng thêm và dựng bia ở đó. Rạng rỡ thay đã có họ tên các bậc tiên hiền, xuân thu mọi người cùng đến cúng tế. Trải qua thời gian đến năm Giáp Tí loạn lạc, những kẻ hậu thế xem thường phong tục lễ nghĩa, phá hoại bia, rêu xanh phủ kín, cây cối um tùm, những người qua đó đều không khỏi bùi ngùi.
Hoàng triều hưng thịnh, các bậc phụ lão mộ đạo và đề cao cổ điển, bèn quyên góp tài sản để khôi phục lại để đẹp đẽ hơn. Vào năm Mậu Dần có Lê Quí hầu người xã Diên Hà, huyện Diên Hà hợp sức cùng trấn Sơn Nam ta lấy nho khoa hội trụ, cung tiến 100 quan tiền để hoàn thành công việc, theo đó qui định lại điển nhã, xem văn phong tươi sáng, rạng rỡ và đẹp lạ thường. Hai vị đại khoa tiên tổ cũng là bậc vọng tộc ở huyện Thổ Hoàng ta xuất thế, huyện ta hợp lời cùng thờ cúng. Có lẽ cũng lớn lên từ nguồn ở đạo phái huyện ta, chẳng nhẽ không nói rằng: Đạo ở hai gian chẳng dựa vào khoảng cách xa xôi mà có ranh giới chăng? Đến mùa thu năm Đinh Mùi chính quốc mở vận, năm thứ 47 Hoàng thượng ta đã trải qua kì thi hương đầu tiên, đã có 15 khoa thi hội và 12 phong hội hưng thịnh vậy. Huyện ta cùng các thân sĩ cùng bàn bạc rằng: Huyện mà có văn chỉ là để tôn các bậc tiên hiền và cổ vũ văn phong. Văn chỉ mà có bia ghi lại cũng là để cho tên họ muôn đời bất hủ. Văn chỉ huyện ta ghi chép từ khoa Tân Mùi, đem tên họ của người trước lần lượt khắc vào đá. Khoa Canh Tuất đem bổ sung lại những chỗ trống, ắt về sau sẽ có người đỗ đạt cao. Muốn thành đạt ở trong khoa cử, tên tuổi được ghi vào sử sách mãi mãi, vậy mà bia đá lại chưa khắc há chẳng phải là khiếm khuyết sao?. Nay muốn sửa chữa bia đá để ghi chép từ khoa thi Canh Tuất trở về sau, tên họ những người đỗ đạt được ghi chép cẩn thận, cùng với bia cũ để ở chính giữa văn chỉ, phía đông là để phối thờ để ghi khắc những khoa thi hương cống đã qua. Người nay bồi hồi ngóng trông, ngưỡng mộ, có bia đá mà có thể hưng khởi lên được. Vào tháng 2 năm đó công việc hoàn thành, có thể phục cổ điển, giúp đỡ thế giáo, do đó làm bài tựa.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Tuất, Thượng thư Bộ Công, người xã Thổ Hoàng là Hoàng công, húy Công Trí.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Đinh Sửu, người xã Thổ Hoàng là Vũ công, húy Công Thắng.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Thân, từng làm Tham chính ở Nghệ An, tước nam, làm Hiến sứ ở Thái Nguyên, người xã Thổ Hoàng là Vũ công húy Trác Quỳnh.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Sửu, Thượng thư Bộ Binh, tước Quận công, người xã Vân Mạc là Trịnh Ngô công, húy Dụng.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Dần, Hữu Thị lang, người xã Thổ Hoàng là Hoàng công, húy Công Bảo.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Ất Mùi, Đông các Đại học sĩ, người xã Thổ Hoàng là Hoàng công, húy Bình Chính.
Phối thờ 2 vị xã Diên Hà, huyện Diên Hà.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn, Thượng thư Bộ Hình, Thái bảo, Hà Quận công là Lê công, húy Phú Thứ.
Đệ nhất giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Thân, Thượng thư Bộ Công, Thái phó, tước Quận công là Lê công, húy Quý Đôn.
Ngày tốt, cuối xuân niên đại Chính Hòa thứ 19 (1698) lập bia.
Tiến sĩ khoa Canh Tuất, Hội nguyên, Quang tiến Thận lộc đại phu, Bồi tụng, Binh bộ Hữu thị lang, tước Phong Lĩnh nam, Sơn Tây Tam Đới, Tiên Phong, Phong Châu, Trần Độn Phủ (Trần Thế Vinh) soạn.
Đô lại Bộ Công, Sơn Tây, Quốc Oai, Từ Liêm Nguyễn Hữu Nhân viết.
Cục thạch tượng, Thanh Hoa, Thiệu Thiên, Đông Sơn, An Hoạch, Nguyễn Duy Nhân, Lê Công Yến khắc./.
Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.954-961