VI | EN
23. Kinh thành Thăng Long-Hà Nội thời Lý-Trần (qua một số bộ chính sử) (TBHN 2008)
(TBHN 2008)

KINH THÀNH THĂNG LONG THỜI LÝ - TRẦN

(QUA TƯ LIỆU THƯ TỊCH CỔ)

NGUYỄN QUANG HÀ

Trung tâm Bảo tồn Khu di tích Cổ Loa - Thành cổ Hà Nội

I. Mục đích - Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu

Bài viết góp phần vào việc tìm hiểu Kinh thành Thăng Long thời Lý - Trần (1010 - 1400). Trong suốt chiều dài lịch sử giành được độc lập dân tộc, kể từ khi nước ta thoát khỏi ách đô hộ 1000 năm Bắc thuộc của chính quyền phong kiến phương Bắc, cho đến đầu thế kỷ XIX, cũng gần như đồng thời kinh đô Thăng Long - Hà Nội được chọn làm kinh đô của nước Đại Việt. Trong thời gian giành độc lập đó có sự trị vì của vương triều Lý - Trần - Lê. Dưới triều Lý - Trần, kinh đô Thăng Long có vị trí rất đặc biệt. Trong suốt 4 thế kỷ của các triều đại Lý - Trần đã diễn ra biết bao những đổi thay, lúc hưng thịnh, khi bị tàn phá bởi chiến tranh, thiên tai địch họa. Nhưng bằng quyết tâm, bằng sức lao động cần cù của người dân, của vương triều Lý - Trần, kinh đô Thăng Long lại được hồi phục nhiều lần. Qua các nguồn tư liệu cho biết, nhiều công trình đền đài, cung điện, lầu gác, chùa chiền, đình quán đã bị phá hủy mà cho đến nay không còn lưu giữ được hoặc chỉ còn phế tích (kết quả Khảo cổ học trong những năm gần đây đã chứng minh thêm điều đó).

Tác giả đã cố gắng thống kê các tên gọi, với hàng trăm công trình cung, điện, lầu, gác, chùa, quán, tháp, cầu, cửa, ao, hồ, vườn từng tồn tại dưới thời Lý - Trần. Từ đó cho chúng ta hình dung được phần nào về kinh thành Thăng Long cách ngày nay gần 1000 năm.

II. Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu mà tác giả khai thác chủ yếu là các bộ sử được coi là những tư liệu quan trọng tin cậy và là những tư liệu gốc như: Đại Việt sử ký toàn thư (viết tắt là TT), Việt sử lược (VSL), Đại Việt sử ký tiền biên (TB). Trong các bộ sử này, Việt sử lược được biên soạn vào thời Trần, Đại Việt sử ký toàn thư được biên soạn bởi Ngô Sỹ Liên và các sử thần triều Lê có sử dụng các nguồn tư liệu trước đó, Đại Việt sử ký tiền biên được biên soạn vào thế kỷ XVIII dưới thời Lê Trung hưng do nhà sử học Ngô Thì Sỹ biên soạn. Đây là những bộ sử được coi là những tư liệu quốc sử tin cậy bậc nhất mà cho đến nay chúng ta còn giữ được. Ngoài ra, tác giả còn tham khảo các tư liệu khác như: Thơ văn Lý - Trần, thư tịch Hán Nôm được lưu trữ tại thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Tuy nhiên do khuôn khổ của báo cáo nên tác giả chưa có điều kiện mở rộng đến các tư liệu Hán Nôm viết tay và thư tịch Hán Nôm khắc in khác, nhất là các tác phẩm thơ văn của các tác giả đương thời đề cập đến kinh thành Thăng Long thời Lý - Trần (công việc đó tác giả sẽ bổ sung trong một dịp khác).

Với các nguồn tư liệu chính sử, tác giả đã so sánh, bổ sung giữa tác phẩm này với tác phẩm kia. Bằng phương pháp so sánh, đối chiếu văn bản, theo dõi các sự kiện cho thấy nhìn chung các tư liệu trên phần nhiều là khớp nhau, ít có sự sai sót nhầm lẫn. Chỉ có điều: sự kiện, năm tháng của sách này được đề cập nhưng sự kiện ấy ở sách kia đôi khi không đề cập. Vì vậy trong phần phụ lục có chú thích phần tư liệu để dễ kiểm tra, đối chiếu.

III. Phương pháp nghiên cứu:

Tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê định lượng và phương pháp văn bản học để kiểm tra thông tin với các yếu tố chính được diễn ra suốt thời Lý - Trần gần 4 thế kỷ như: năm, sự kiện, các công trình lịch sử và nguồn tư liệu, từ đó góp phần vào việc theo dõi sự tồn tại của các di tích từ khi hình thành, trùng tu hoặc bị phá huỷ. Tuy nhiên, không phải lúc nào chúng ta cũng có được đầy đủ các thông tin về nó nhiều khi qua các thông tin gián tiếp cho chúng ta biết được tình hình của các di tích đó trong kinh thành Thăng Long. Với phương pháp viết sử theo kiểu biên niên, các sử thần thời phong kiến chỉ đề cập qua các sự kiện chứ ít khi dừng lại miêu tả đánh giá, nhận xét. Chính vì thế, ngày nay chúng ta không khỏi hạn chế khi tiếp cận đến nguồn tư liệu này.

Tác giả bài viết đã thống kê hàng ngàn phiếu tư liệu, sắp xếp theo trật tự thời gian sau đó lựa chọn các sự kiện chia theo các mục được thể hiện qua các bảng thống kê như: cung điện (bảng 1), lăng tẩm (bảng 2), lầu - gác (bảng 3), chùa (bảng 4), văn miếu, thái miếu Quốc tử giám (bảng 5), các đàn cúng (bảng 6), các cầu (bảng 7), ao, vườn (bảng 8), các hội (bảng 9), hành cung (bảng 10), đắp đê, thiên tai, lũ lụt, tu sửa kinh thành.

Bài tham luận đã cố gắng bao quát những diễn biến của các sự kiện văn hoá vật chất và các hoạt động văn hoá tinh thần trên mảnh đất kinh đô thời Lý - Trần. Đặc biệt với khoảng gần 200 tên các công trình kiến trúc (không kể các tên gọi được lặp lại trong các bảng thống kê) đã cho thấy qui mô và sự phong phú, đa dạng của kinh thành Thăng Long qua các thế kỷ XI- XIV.

IV. Nhận xét (Qua số liệu thống kê)

Khi sử dụng các bảng thống kê này, người đọc nhận thấy ngay rằng: các thông tin khá rời rạc nhưng qua đó đã cung cấp cho chúng ta nguồn thông tin khách quan về sự tồn tại của các công trình kiến trúc Thăng Long. Nhiều công trình đến nay chúng ta chưa biết chúng để làm gì, chức năng như thế nào?. Nhưng dù sao qua các thông tin ít ỏi cho chúng ta suy đoán được ít nhiều về vị trí cũng như chức năng của chúng. Chẳng hạn, năm 1011, vua ngự điện Hàm Quang xem đua thuyền, từ đó cho ta suy đoán được điện Hàm Quang phải ở gần sông Hồng hoặc gần hồ lớn. Hay sử chép: Năm 1053, vua băng ở điện Trường Xuân, năm 1072 vua băng ở điện Vĩnh Quang... từ đó cho ta thấy được điện này dành cho vua ở...

Theo thống kê của chúng tôi, từ thời Lý đến thời Trần đã tồn tại 58 Điện, trong đó chúng ta biết chắc chắn là đã có 2 Điện tồn tại từ Lý đến Trần: đó là Điện Thiên An, Điện Linh Quang được nhắc đến qua các năm như:

- Điện Thiên An: được nhắc đến trong các năm: 1012, 1214, 1237, 1256, 1263, 1289, 1293, 1351, 1371.

- Điện Linh Quang (còn có tên khác là điện Phong Thủy) được nhắc đến trong các năm: 1058, 1079, 1118, 1122, 1130, 1238 và 6 điện khác tồn tại muộn nhất cũng là vào thời Trần vào các năm: Điện Bát Giác (1238), điện Diên Hiền (1264), điện Tập Hiền (1281), điện Diên Hồng (1284), điện Thụy Chương (1337, 1391), điện Song Quốc (còn có tên gọi là Lạc Thanh: 1364); còn lại 50 điện được chép dưới triều Lý. Tuy nhiên không phải bất cứ di tích nào được ghi trong sử ở thời điểm đó là nó mới xuất hiện, mới được xây dựng khi đó, ngược lại, không phải nó không được ghi chép đề cập là do nó đã bị phá hủy hay biến mất vì các lý do đã nêu ở trên. Có những di tích, công trình tuy được đề cập đến nhiều qua nhiều năm, qua khoảng thời gian dài nhưng trong thực tế nhiều lần nó đã bị phá huỷ rồi lại được khôi phục lại hoặc thay đổi tên gọi như điện Thiên An, điện Song Quốc.

Về các cung: 72 lần nhắc đến các cung trong đó thống kê được 36 Cung khác nhau. Trong đó: có các cung dành cho các đối tượng khác nhau như: cung Thái Thanh dành cho Đạo sĩ (xây năm 1031), cung cho các cung nữ Chiêm Thành (xây dựng năm 1046), cung cho Hoàng Thái hậu như cung Quảng Từ (1043), ngoài ra còn có cung Nghênh Thiềm (1197) (để thưởng ngoạn ngắm trăng(?), cung để cho Thượng Hoàng ở (ví như cung Phụng Thiên), cung cho Hoàng đế ở (cung Vạn Thọ, cung Nhân Thọ...). Trong số 36 cung, có hai cung được nhắc đến qua 2 triều đại Lý - Trần như: cung Thượng Dương (1073, 1225), cung Cảnh Linh (1088, 1128, 1256), còn lại 22 cung chỉ được nhắc lại vào thời Lý, 12 cung chỉ thấy tên gọi vào thời Trần.

Lầu - gác: được đề cập đến vào các năm 1029 đến 1289 với 23 lầu, gác, trong đó dùng từ “các” (gác) là 7 gác và 16 lầu “lâu” (lầu) trong đó có 22 gác được nhắc đến trong niên đại thời Lý và một gác trong niên đại thời Trần (gác Triều Thiên đề cập năm 1289). Tuy nhiên khái niệm tên gọi “lầu”, “gác” là rất tương đối, khó phân biệt và thường gọi theo thói quen.

Chùa

- Dưới thời Lý - Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh, chùa chiền mọc lên ở khắp nơi. Chẳng hạn riêng năm 1017 sử ghi: xây dựng 350 ngôi chùa trong nước. Theo thống kê bước đầu thời Lý – Trần ở kinh thành Thăng Long có đến 42 ngôi chùa trong đó có 38 ngôi chùa xác định là có từ thời Lý và 2 chùa được nhắc lại vào cả hai triều đại Lý - Trần. Hai chùa đó là chùa Chân Giáo và chùa Diên Hựu. Chùa Chân Giáo đề cập vào các năm : (1024, 1058, 1169, 1206, 1214, 1224, 1226) và chùa Diên Hựu (1049, 1104, 1249). Có hai ngôi chùa chỉ được nhắc đến vào thời Trần (chùa Bảo Quang 1226) và chùa Chiêu Thánh (1356). Với số lượng 42 chùa trong hoàn cảnh một đất nước như sử đã ghi: quá nửa số dân là sư sãi, một năm xây hàng trăm ngôi chùa thì con số trên còn quá khiêm tốn và có lẽ trên thực tế còn nhiều hơn nhiều. Hiện nay những ngôi chùa có từ thời Lý - Trần còn lại trên đất Thăng Long mà chúng ta biết được thật hiếm hoi. Việc sử ghi chép những sự kiện xây dựng các ngôi chùa này có lẽ cũng là một sự kiện trọng đại có quy mô không nhỏ

Thể hiện các sự kiện xây dựng, trùng tu Thái miếu, Văn miếu Quốc tử giám. Thái miếu để thờ cúng các vị tiên đế, văn miếu để thờ Khổng Tử và các vị tiên triết, tiên hiền, Quốc tử giám là trường học lớn của quốc gia diễn ra các hoạt động học hành và thi cử. Việc xây dựng các công trình trên với các hoạt động gắn liền với nó diễn ra thường xuyên hơn và ngày một hoàn bị, cần thiết với một quốc gia chuyển dần từ chế độ nhà nước phong kiến quý tộc sang nhà nước quân chủ nho giáo quan liêu lấy học hành thi cử để tuyển chọn nhân tài (đặc biệt là từ cuối Trần đầu Lê trở đi)....

- Bên cạnh các cung, điện, lầu, gác, Văn miếu, Thái miếu, chùa chiền không thể không nói đến các cảnh quan khác như: Cửa thành, các kho, dịch trạm, cầu, ao, vườn thượng uyển... tạo cho kinh thành một kết cấu hoàn chỉnh, đầy đủ, hài hòa gắn với thiên nhiên, vừa đảm bảo cho việc cấp thoát nước và phục vụ đi lại trong điều kiện kinh đô nhiều ao hồ. Theo thống kê của chúng tôi, Thăng Long thời Lý - Trần có gần chục ngọn tháp ln (chủ yếu là tháp thời Lý) như: tháp Đại Thắng Tư Thiên (Chùa Sùng Khánh Báo Thiên), xây năm 1054, cao 12 tầng: tháp Thất Bảo, hai ngọn tháp ở chùa Diên Hựu, Tháp Báo Thiên...

- Ngày nay chúng ta chỉ biết được tên gọi các cửa thời Trần qua chính sử như: Dương Minh, Đại Hưng, Vĩnh Xương, Vĩnh An, Cửa Khuyết, Quảng Phúc, Tường Phù, Cảnh Dương... mà không thấy nhắc đến các cửa vào thời Lý. Có lẽ đến thời Trần về sau, quy mô kinh thành và việc kiến thiết, quy hoạch các cửa ô mới được tiến hành xây dựng mạnh mẽ ?.

- Vào thời Lý, việc lập đàn Xã tắc (để thờ thần đất và thần lúa), đàn Nam Giao (Đàn tế trời đất) được nhắc đến nhiều lần nhưng đến thời Trần hầu như ít được nhắc đến. Vào thời Lý có đề cập đến tên của 6 đàn như: đàn Chúng Tiên, Xã tắc, Tử Tiêu, Uất La, Kỳ Thọ, Vu Đàn, Viên Khâu ( Nam Giao).

- Về các con cầu ở Kinh thành Thăng Long ra sao ?. ngày nay chúng ta không biết được, chỉ biết rằng có các cầu Thái Hòa bắc qua sông Tô Lịch.

(Năm 1035), cầu Ngoạn Thiềm (ngắm trăng?) đề cập đến năm 1213, cầu Lâm Ba ở chùa Chân Giáo và các cầu khác như: Phụng Hoa, Minh Nguyệt, Tây Dương.

Thống kê các ao, hồ, vườn thời Lý- Trần, trong đó có 4 vườn thời Lý dành cho nhà vua như: Quỳnh Lâm, (1057), Thượng Lâm (1065), Bảo Hoa (1131), Diên Quảng (ở Lãnh Kinh 1136), xem trong các vườn ngự uyển còn có ao để thả cá tạo cho phong cảnh thêm trữ tình, hài hòa về mặt phong thuỷvà điều tiết môi trường, cảnh quan như: Ao Bích trì trong chùa Diên Hựu (1074, 1105), hồ Thủy Tinh (1283), Lạc Thanh (thả cá nước mặn bắt từ biển về nuôi) và Hồ Thanh Ngư (thả cá diếc).

- Trong Kinh thành không những có các công trình kiến trúc đồ sộ với bao điện, gác, chùa chiền, lăng, tẩm còn có nhiều hoạt động phong phú đa dạng như lễ hội. Ngoài các hoạt động tế tự ở Thái miếu (tế Tiên đế), Văn miếu (tế Khổng Tử), tế đàn Nam Giao (tế trời đất), Tế đàn Xã tắc (Tế thần lúa) cầu cho dân khang, vật thịnh, mùa màng bội thu, bách tính thái hoà. Đặc biệt vào thời Lý - Trần còn tổ chức được nhiều Hội với các nội dung phong phú. Qua tên gọi các Hội đó thể hiện đời sống phong phú, đa dạng, giàu bản sắc. Chúng tôi thống kê có tới 11 tên Hội khác nhau được tổ chức tới ít nhất là 31 lần trong Kinh thành Thăng Long và cửa Đại Hưng do triều đình tổ chức. Có Hội tổ chức mỗi năm một lần, có hội tổ chức 2- 3 năm một lần, nhưng cũng có Hội chỉ được chính sử ghi lại 1-2 lần rồi không được nhắc đến nữa. Năm tổ chức lễ hội nhiều nhất là năm 1012. Chúng tôi thống kê không dưới 4 Hội: Hội La Hán, Hội Đèn Quảng Chiếu, Hội Nhân Vương, Hội Khánh thành Bảo Tháp. Sau đây, chúng tôi ghi lại từng sự kiện diễn ra các lễ hội và theo lịch đại như sau:

1. Hội La Hán: Tổ chức vào các năm: 1012,1056

2. Hội Đèn Quảng Chiếu: Tổ chức các năm: 1012, 1110, 1116, 1120, 1123, 1126, 1165, 1195.

3. Hội Nhân Vương: Tổ chức các năm: 1012,1077,1126,1149

4. Hội mừng Ngũ Kinh: Năm: 1012

5. Hội Khánh thành Bảo Tháp: Năm 1012, 1128

6. Hội Nghênh Xuân (đón xuân): Năm 1048, 1123

7. Hội Thiên Phật: (Hội nghìn vị phật); Năm 1117

8. Hội thề ở Long Trì: Tổ chức các năm 1119, 1127, 1128, 1137, 1138, 1173, 1214, 1225 (trong đó có Hội thề ở cửa Đại Hưng năm 1128).

9. Hội Khánh thành chùa: Bảo Thiên 1121, Linh Cảm: Năm 1137

10. Hội Đá Cầu: Năm1126, 1128, 1130

11. Hội mừng nhường ngôi: Năm1125

Trên dây là những Hội do triều đình đứng ra tổ chức. Như vậy một năm có nhiều hội khác nhau cùng tổ chức ở trong kinh thành, trước thềm rồng. Đó là chưa kể đến các Hội do nhân dân tự mở ở các phố phường xung quanh khu vực Kinh thành. Các Hội trên do triều đình mở nhưng thường có sự tham gia của các tầng lớp nhân dân, tạo ra một không khí vui tươi, hoà đồng trong một xã hội cởi mở.

Thống kê các sự kiện về việc thành lập các hành cung quanh Kinh thành và các địa phương liên quan đến các hoạt động của vua và triều đình cùng các sự kiện khác như đắp đê, tu sửa kinh thành, thiên tai, lũ lụt tác động đến Kinh thành Thăng Long..

Sau đây là bảng thống kê, tổng hợp các hạng mục di tích, công trình, các tổ chức hội, nghi lễ đã từng tồn tại ở Kinh thành Thăng Long thời Lý - Trần.

Bảng tổng hợp số lượng các công trình lịch sử, các lễ hội thời Lý - Trần

ở Kinh đô Thăng Long

 

STT

Các công trình

Số lượng

Thời Lý

Thời Trần

Cả hai triều Lý - Trần

1

Điện

58

50

6

2

2

Cung

36

22

12

2

3

Lầu - Gác

23

22

1

0

4

Chùa

42

38

2

2

5

Văn miếu

1

1

1

1

6

Thái miếu

1

1

1

 

7

Quốc tử giám

1

1

1

 

8

Tháp

5

5

0

0

9

Cửa

8

0

8

0

10

Kho

4

4

0

0

11

Trạm

3

3

0

0

12

Đàn

7

7

0

0

13

Cầu

7

6

1

0

14

Vườn

4

2

2

0

15

Ao, hồ

4

1

3

1

16

Lễ hội

11

10

1

0

17

Hành cung

16

14

2

0

18

Thiên tai, đắp đê, tu sửa kinh thành

21

9

12

0

 

Có thể nói rằng, kinh đô Thăng Long thời Lý- Trần là một kinh đô bề thế, hoành tráng, qua các tên gọi, danh mục các công trình di tích với hàng trăm cung, điện, lăng tẩm, chùa chiền, lầu gác cho chúng ta biết được điều đó.

Kinh đô Thăng Long được thiết kế, xây dựng trong một không gian có sự sắp đặt, bài trí hài hoà bởi một hệ thống ao, vườn, cầu vừa đậm chất phong thuỷ vừa đảm bảo cho sự cấp thoát nước của kinh đô với cảnh quan đẹp đẽ, hài hòa với thiên nhiên, tự nhiên.

Kinh đô - nơi diễn ra nhiều lễ hội, phản ánh đời sống kinh tế, văn hoá phong phú, đa dạng của vương triều và cư dân Thăng Long thế kỷ XI - XIV.

Song trải qua thời gian với biết bao thăng trầm, như sự phá hoại của thiên nhiên, của các biến động xã hội, của giặc ngoại xâm nên các công trình của cha ông thủa trước ngày nay chúng ta không còn giữ được là bao. Nhưng qua các nguồn sử liệu, thư tịch chúng ta có thể khôi phục được phần nào về diện mạo của kinh thành Thăng Long thời Lý - Trần. Chúng ta có thể tự hào rằng, bằng bàn tay lao động cần cù, vất vả và trí tuệ tuyệt vời, cha ông ta đã tạo dựng lên một Kinh đô bề thế, nguy nga cách ngày nay gần 1.000 năm tuổi mà một phần di sản đó còn để lại cho chúng ta hôm nay,

Tài liệu tham khảo và Khảo cứu:

1. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. KHXH, H. 1998 (4 tập). Bản Nội các quan bản, do Ngô Đức Thọ (dịch), Phan Huy Lê khảo cứu, giới thiệu, Hà Văn Tấn chú thích.

2. Ngô Thì Sĩ: Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb. KHXH, H. 1997. Bản dịch của Nguyễn Thị Thảo, Dương Thị Thoa, Phạm Thị The; Lê Duy Chưởng (hiệu đính).

3. Khuyết danh, Việt sử lược (Bản dịch của Trần Quốc Vương), Nxb. KHXH, H. 2005.

4. Viện Nghiên cứu Hán Nôm - Viện Cao học Thực hành - Viện Viễn đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội (Cộng hòa Pháp), EFEO, Tổng tập thác bản Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Bộ 21 tập, Nxb. KHXH, H. 2000- 2005.

5. Thơ văn Lý - Trần (Bộ 3 tập), Nhiều soạn giả, Nxb. KHXH. H. 1977, 1978.

(Bài viết của tác giả có kèm theo 30 trang phụ lục tên danh mục với hàng trăm các công trình, di tích thời Lý - Trần. Do khuôn khổ của bài tham luận nên không đưa phần danh sách thống kê tên các công trình di tích lịch sử, niên đại của mỗi di tích kèm theo bài viết này)./.

Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.305-315

Nguyễn Quang Hà
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm