3. Võ Duy Tân: Con người và sự nghiệp (TBHNH 2004)
VÕ DUY TÂN - CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP
THẾ ANH
Hội Ngôn ngữ học Việt Nam
Trong dịp về thăm xã Võ Liệt - quê hương Xô Viết Nghệ An, chúng tôi có được xem cuốn gia phả dòng họ Võ, trong đó có Võ Duy Tân (1784-1848) - một nhà giáo mẫu mực đã đào tạo được nhiều nhân tài cho đất nước, đồng thời là một vị khai khoa cho dòng họ và quê hương.
Theo gia phả họ Võ và tấm văn bia cạnh nhà thờ do môn sinh của ông tạo dựng để tưởng niệm công đức của thầy thì hồi nhỏ Võ Duy Tân theo học với danh sĩ nổi tiếng dưới thời Lê Hiển Tông là Hoàng giáp Bùi Huy Bích hiệu là Tồn Am (xin mở ngoặc nói thêm Bùi Huy Bích đã để lại cho đời nhiều tác phẩm văn học có giá trị, đặc biệt là các cuốn Hoàng Việt thi tuyển gồm 6 quyển, Hoàng Việt văn tuyển, gồm 8 quyển, Lữ trung tạp thuyết 2 quyển, Quốc triều chính đại lục 7 quyển, Lịch triều thi sao 6 quyển).
Theo Đại Nam liệt truyện và văn bia thì Võ Duy Tân đậu Hương tiến khoa Quý Dậu năm Gia Long thứ 12 (1813) và đã trải qua các chức vụ Tri huyện Thiên Lộc và Hưng Nguyên, rồi quyền Tri phủ Diễn Châu, được khen là có chính tích giỏi, đến trị nhậm ở đâu ông cũng đều lập điều ước quy định rõ ràng, lấy việc trọng luân thường đạo lý, sửa chữa tính nết làm đầu. Ông là một người con rất hiếu thảo, năm Minh Mạng thứ 5 (1824) được lệnh triệu vào kinh, song có mẹ già lại bệnh tật nên cáo từ xin nghỉ, do đó nên bị cách chức. Trong khi phụng dưỡng mẹ già, ông vẫn tranh thủ thời gian đọc sách. Các vị huynh trưởng ở địa phương đã tổ chức lớp học mời ông đến dạy, học trò xa gần nghe tiếng theo học rất đông. Trong số môn sinh của ông có nhiều người đậu đại khoa và đảm nhiệm những trọng trách của triều đình. Xin nêu một số trường hợp tiêu biểu. Đó là Phan Dưỡng Hạo (sau đổi tên là Phan Thúc Trực) đỗ Thám hoa khoa Đinh Mùi năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) và được bổ chức Hàn lâm viện trước tác sung Tập hiền viện Thị giảng. Sau khi mất được truy tặng Thị giảng học sĩ. Ông để lại một số tác phẩm như Quốc sử di biên, Trần Lê ngoại truyện, Diễn Châu phủ chí, Cẩm Đình hiệu tần thi tập, Bắc hành nhật lan phổ thi tập. Ông là tác giả bài văn bia và bài minh khắc lên bia để tưởng niệm thầy học.
Ngoài ra còn có những môn sinh đỗ đạt cao như: Nguyễn Cửu Trường đỗ Hoàng giáp khoa Mậu Tuất năm Minh Mệnh thứ 19, khi đi nhậm chức ông đã được nhà vua tặng một bài ngự thi; Trịnh Đình Thái đỗ Hoàng giáp năm Đinh Mùi (1847) làm quan đến Hộ bộ Hữu Tham tri hàm Quang lộc tự khanh; Nguyễn Khắc Cần đậu Hoàng giáp năm Mậu Thân (1848) làm Án sát Thái Nguyên.
Các môn sinh của Võ Duy Tân đậu Tiến sĩ có: Nguyễn Thanh Oai, Nguyễn Hinh, Phạm Quang Mãn và nhiều Phó bảng, Cử nhân khác.
Một số dẫn chứng vừa nêu cũng đủ nói lên tài năng và phẩm chất của nhà giáo tâm huyết với đạo học Võ Duy Tân.
Theo văn bia thì năm Minh Mệnh thứ 11 (Đại Nam liệt truyện, ghi là năm thứ 13) Võ Duy Tân được phục hồi chức tước, bổ làm Huấn đạo Lệ Thủy, thăng Giáo thụ Quảng Bình rồi về để tang mẹ, sau được bổ làm Học chính trường Quốc Tử Giám, thăng chức Tri phủ Hà Trung. Do có nhiều công lao đặc biệt nên được bổ làm Viên ngoại lang Bộ Công, sau đó điều làm Ngự sử Nam Ngãi (Quảng Nam và Quảng Ngãi). Khi đi xét hỏi vụ án ở Quảng Nam phạm khuyết điểm (xử tội nhẹ), nên bị cách chức. Sau điều tra lại, thấy ông không có sai lầm nên được phục chức làm Giáo thụ Đức Thọ, sau đó làm Đốc học Sơn Tây và Hà Nội rồi bổ làm Tư nghiệp Quốc tử giám cho đến lúc mất. Như vậy cuộc đời của ông cũng có những bước thăng trầm nhưng chủ yếu vẫn là một học quan phụ trách công tác đào tạo.
Theo gia phả họ Võ thì ông có sáng tác nhiều thơ văn và câu đối, nhưng hầu hết đã bị thất lạc. Chúng tôi chỉ phát hiện được một đôi câu đối mừng cụ Phan Đình Đệ (thân sinh Phó bảng Phan Đình Thực bạn đồng hương) và bài thơ tặng cụ Nguyễn Công Trứ về hưu lúc 70 tuổi. Bài thơ này cụ Lê Thước có cho in trong cuốn Nguyễn Công Trứ viết năm 1928 có nhan đề Trí sĩ hồi thời tiễn thi. Nguyên văn như sau:
Phao tận thiên kim bác(1) nhất nhàn
Uy di trượng lũ khấu môn hoàn
Giang Đình phong nguyệt thanh như tẩy
Hoạn hải ba đào mộng bất quan
Vạn cổ từ bi thương kiếm hậu
Bách niễn vinh tụy cúc tùng gian
Thử hồi miễn(2) ký tôn tiền thoại.
Bất nhật tăng cuồng quá Cảm san.
Dịch thơ:
Về nhà nhàn tản đáng nghìn vàng,
Ngất ngưởng hèo khua gõ cửa vang.
Trăng gió Giang Đình không chút vẩn,
Ba đào hải hoạn chẳng tơ vương.
Từ bi trút bỏ gươm bao độ,
Vinh tụy rong chơi cúc mấy hàng.
Giờ đây cố chép lời bên rượu,
Sư cuồng núi Cảm cứ tàng tàng.
Võ Viết Doãn
(Cháu 4 đời cụ Võ Duy Tân)
Bài thơ rất lạc quan, tả đúng cảnh nhàn tản của Nguyễn Công Trứ - một con người hành động, một nhân vật kinh bang tế thế, một ông già “ngất ngưởng” sau khi đã làm xong mọi nhiệm vụ và về hưu ở tuổi 70. Khi về hưu Nguyễn Công Trứ cũng được tiếp đón trọng thể ở bến Giang Đình gần làng Tiên Điền, một trong 8 cảnh đẹp của huyện Nghi Xuân, nhưng sau khi nghỉ hưu Nguyễn Công Trứ không về quê nhà (làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân), mà ông lên ở chùa trên đỉnh núi Cảm Sơn tục gọi là núi Nai thuộc xã Đại Nài, huyện Thạch Hà gần thị xã Hà Tĩnh, cách quê ông gần 50 km. Ở chùa nhưng không phải để đi tu, không phải ở ẩn mà chỉ để “ngất ngưởng” chơi, như thời ông còn tại chức: “Trong triều ai ngất ngưởng như ông”(2)
Tóm lại, cuộc đời của Võ Duy Tân tuy có những bước thăng trầm, nhưng trước sau ông vẫn là một nhà giáo dục mô phạm luôn chăm lo việc trồng người và đã đào tạo được nhiều nhân tài cho đất nước, xứng đáng được dòng họ, quê hương và xã hội tôn vinh.
Chú thích:
(1) Câu 1 trong cuốn Nguyễn Công Trứ viết:
Trịch bãi thiên kim mãi nhất nhàn.
擲罷千金買一閑
(2) Câu trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ:
Câu 7 ghi:
Quy lai hạnh ký tôn tiền tửu.
歸來幸記樽前酒 ./.
Thông báo Hán Nôm học 2004 (tr.23-27)