32. Giới thiệu bia chuông khánh sưu tầm tại tỉnh Hà Bắc từ năm 1992 đến 1995 (TBHNH 1996)
GIỚI THIỆU BIA CHUÔNG KHÁNH SƯU TẦM TẠI TỈNH HÀ BẮC TỪ NĂM 1992 ĐẾN 1995
Nguyễn Thị Phượng
Bùi Hoàng Anh
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Trong 4 năm (1992-1995) Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã sưu tầm được khoảng 15.000 bản rập bia chuông khánh, khoảng 2.000 sách Hán Nôm và sao chép được rất nhiều câu đối, hoành phi tại các di tích.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi giới thiệu tình hình sưu tầm thác bản bia, chuông, khánh tại tỉnh Hà Bắc trong 4 năm qua.
Sau đây là một số nét chính.
I- TÌNH HÌNH PHÂN BỐ BIA CHUÔNG KHÁNH
Số TT | Tên địa danh | Số xã phường | Số bia + biển gỗ | Số chuông khánh |
1 | Thị xã Bắc Ninh | 8 | 128 | 19 |
2 | Huyện Gia Lương | 3 | 46 | 2 |
3 | Hiệp Hòa | 10 | 75 | 0 |
4 | Quế Võ | 25 | 253 | 13 |
5 | Tiên Sơn | 26 | 306 | 35 + 1 phả đồng |
6 | Thuận Thành | 18 | 374 | 42 |
7 | Yên Phong | 17 | 254 | 19 |
8 | Việt Yên | 12 | 282 | 4 |
Tổng cộng | 119 | 1718 | 135 |
Trên địa bàn Hà Bắc, huyện có nhiều bia nhất là huyện Thuận Thành với 374 bia và 42 chuông. Xã có nhiều bia nhất là xã Vân Hà, huyện Việt Yên với 148 bia. Các xã có số lượng bia chuông tương đối nhiều là xã Vân Trung, huyện Việt Yên (57 bia + 1 chuông); Xã Tân Hồng, huyện Tiên Sơn (54 bia + 5 chuông); Xã Hoài Thượng, huyện Thuận Thành (56 bia + 7 chuông); Xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành (56 bia + 7 chuông); Xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành (59 bia + 3 chuông). Đặc biệt tại xã Lạc Vệ, huyện Tiên Sơn có một cuốn thần phả được chép trên 12 tấm đồng cũng là một loại hình tư liệu đặc biệt.
Số bia chuông khánh trên, hiện có trong 238 chùa, 131 đình, 30 đền, 65 từ đường nhà thờ họ, 1 văn miếu, 10 lăng mộ, 9 văn chỉ từ chỉ, 2 miếu và 70 các địa danh khác (trong nhà dân, bờ ao, ngoài đường, cầu, chợ...). Di tích có nhiều bia nhất là chùa Diên Phúc, thôn Yên Viên, xã Vân Hà, huyện Việt Yên: 117 bia. Chùa Dâu, thôn Khương Tự, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành có 29 bia + 1 chuông. Cụm di tích đình chùa Bảo Linh, thôn Phù Lưu, xã Tân Hồng huyện Tiên Sơn có 27 bia + 1 chuông.
II - VỀ NIÊN ĐẠI TẠO DỰNG BIA
Trong số hơn 200 thác bản bia chuông khánh đã sưu tầm, đại bộ phần đều ghi niên đại tạo dựng hoặc khắc lại. Số thác bản không ghi niên đại, chiếm tỉ lệ không nhiều.
Dưới đây chúng tôi chỉ thống kê số thác bản bia, chuông, khánh có niên đại tạo dựng vào thời Lê trở về trước và thời Tây Sơn (còn lại là bia thời Nguyễn và không có niên đại).
Theo thống kê có 456 bia, chuông, khánh và đã được chia ra theo các niên đại như sau:
- Hưng Long 20 | (1312) | 1 bia |
- Khai Hựu 11 | (1329) | 1- |
- Hồng Đức (Giáp Thìn) | (1484) | 1- |
- Diên Thành 2 | (1579) | 1- |
- Quang Hưng 7 | (1584) | 1- |
- Đoan Thái | (1586 - 87) | 3- |
- Hoằng Định | (1601 - 1619) | 3- |
- Vĩnh Tộ | (1619 - 1628) | 8- |
- Đức Long | (1629 -1634) | 2- |
- Dương Hòa | (1635 - 1643) | 8- |
- Phúc Thái | (1643 - 1649) | 4- |
- Khánh Đức | (1649 - 1652) | 4- |
- Vĩnh Thọ | (1658 - 1661) | 3- |
- Cảnh Trị | (1663 - 1671) | 10- |
- Dương Đức | (1672 - 1673) | 2- |
- Đức Nguyên | (1674 - 1675) | 2- |
- Vĩnh Trị | (1676 - 1680) | 18- |
- Chính Hòa | (1680 - 1705) | 100- |
- Vĩnh Thịnh | (1705 - 1719) | 67- |
- Bảo Thái | (1720 - 1729) | 9- |
- Vĩnh Khánh | (1729 - 1732) | 8- |
- Long Đức | (1732 - 1735) | 9- |
- Vĩnh Hựu | (1735 - 1740) | 30- |
- Cảnh Hưng | (1740 - 1786) | 123- |
- Chiêu Thống | (1787 - 1788) | 4- |
- Quang Trung | (1788 - 1792) | 8- |
- Cảnh Thịnh | (1793 - 1801) | 23- |
- Bảo Hưng | (1801 - 1802) | 3- |
Như vậy chúng ta có thể nhận thấy tới gần ¼ số bia, chuông, khánh có niên đại từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 18, trong đó có 2 bia đời Trần, 2 bia đời Mạc, còn lại là bia đời Lê.
Bia có niên đại sớm nhất là bia Tiên Du văn chỉ bi ký, đặt tại thôn Đông, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Sơn. Bia 2 mặt, mặt 1 có ghi hàng niên hiệu Hưng Long 20 (1312) đời vua Trần Anh Tông, chữ “Hưng” rất mờ, phần chữ trong bia cũng bị mờ nhiều, bia do tú tài Nguyễn Vận soạn. Mặt 2, chữ đọc được rõ hơn, nội dung viết: 3 tòa từ vũ, ruộng thờ, diện tích các thửa ruộng, lệ cúng tế, số tiền số ruộn, tên các bậc cử nhân tú tài... bia có ghi việc tú tài huyện doãn huyện Đông Triều Nguyễn Đăng Cử cúng tiến.
Bia niên hiệu Khai Hựu 11 (1339), đời vua Trần Hiển Tông, có tên là Khai Nghiêm bi ký. Bia 2 mặt, đặt tại chùa Khai Nghiêm thôn Vọng Nguyệt, xã Tam Giang, huyện Yên Phong. Bia được khắc lại vào năm Cảnh Thịnh 5 (1798). (Xem bài viết của Đào Phương Chi trong tạp chí Hán Nôm số 4/1995, trang 27).
Bia có niên hiệu Diên Thành 2 (1579) là bia Am Cối bi ký. Bia 2 mặt, đặt tại chùa Cuối, thôn Đạo Tú, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành.
Bia có niên đại Đoan Thái 1 (1586), đời vua Mạc Mậu Hợp là bia Đông Phao tự tân tạo Thiêu Hương từ đường bi ký. Bia 1 mặt, đặt tại chùa Đông Phao, thôn Nghi Khúc xã An Bình, huyện Thuận Thành. Bia do hiệu sinh Nguyễn Minh Đăng tự Huyền Trai soạn. Nội dung bia ca ngợi cảnh chùa và nói về việc hưng công xây dựng chùa.
Bia có niên đại sớm nhất thuộc triều Lê là tấm bia mộ ông Nguyễn Công và vợ là Hoàng thị, ghi năm Hồng Đức Giáp Thìn (1484). Bia 2 mặt, đặt tại nhà thờ họ Nguyễn, thôn Kim Đôi, xã Kim Chân, huyện Quế Võ. Bia do Lương Thế Vinh, trạng nguyên khoa Quí Mùi bạn của các con ông soạn. Văn bia ca ngợi ông là người nghiêm túc chính trực mà nhân ái, vợ ông là người thông minh mẫn cảm mà hiền từ, ông bà đã giáo huấn các con chuyên theo nghiệp nhà nho, các con đã cảm ân nghĩa giáo huấn đó mà tu chí thành đạt. Con trưởng Nhân Bị làm Hiến sát phó sứ Hải Dương. Con thứ Nhân Bồng làm Hàn lâm thị thư... Con cháu đều thành đạt.
Bia niên hiệu Quang Hưng 7 (1584), đời vua Lê Thế Tông là bia Hồng Phúc tự Triệu Đà bi, bia 3 mặt, bia đặt tại đình thôn Xuân Ổ, xã Võ Cường, thị xã Bắc Ninh. Chùa Hồng Phúc là nơi danh thắng bậc nhất trấn Kinh Bắc, các thiện nam tín nữ đã góp công tu bổ chùa, tô tượng Phật. Lễ bộ tả thị lang Xuân Sơn bá, Tư Cao bá... đã quyên góp mua đồng để đúc chuông mới. Trong bia có bài minh ca ngợi cảnh chùa, ghi tên các thiện nam tín nữ. Bia do phủ sinh Nguyễn Tiên Tiến viết.
Trên đây chúng tôi sơ bộ giới thiệu cùng bạn đọc 6 tấm bia có niên đại sớm của tỉnh Hà Bắc đã sưu tầm trong mấy năm qua.
III- VỀ NỘI DUNG
Với số lượng bia chuông khánh khá lớn như trên thì nội dung được phản ánh trong đó cũng thật phong phú đa dạng.
1. Bia hậu thần, hậu phật: Là loại hình văn bia được phổ biến, chiếm số lượng lớn trong tổng số bia. Ở đình chùa nào cũng có bia hậu. Bia hậu thần ghi tên tuổi những người có công đóng góp tiền, ruộng, tài sản riêng cho làng xã dùng vào việc công như tu sửa đình, đền, giúp dân cứu đói khi bị mất mùa, bị thiên tai, dịch bệnh... để xin bầu hậu cho bản thân hoặc cha mẹ. Bia hậu Phật ghi tên tuổi các tín vãi (những người theo đạo Phật), có hằng sản hằng tâm cúng tiền của để tu sửa chùa, tô tượng Phật... những người đó sẽ được bầu làm hậu Phật, được cúng giỗ hàng năm ở chùa.
Nội dung các văn bia hậu thần hậu Phật nói chung đều tương tự như vậy, thường để biểu dương lòng từ thiện, biết chia xẻ ngọt bùi, đắng cay trong cộng đồng.
Trong số bia hậu này có bia xuất hiện những chữ Nôm trong tên người, tên địa danh.
2. Bia trùng tu: Là loại hình văn bia có giá trị về nhiều mặt, ghi về việc trùng tu lại đình, chùa, văn miếu... thường nói rõ lai lịch của di tích được trùng tu, ca ngợi nơi đây có phong cảnh đẹp, có truyền thuyết lịch sử, hoặc có thần linh thiêng, có truyền thống văn hóa hay phong tục tập quán tốt đẹp. Lời văn trong các tấm bia trùng tu rất khúc triết, nhiều khi sử dụng những điển cố khó, nhưng văn bia trùng tu rất hay, có nội dung phong phú. Văn bia trùng tu thường dài hơn các loại văn bia khác và bao giờ cũng ghi đầy đủ tên họ số tiền của đóng góp của từng người. Có thể xem các bia Bắc Ninh tỉnh trùng tu Văn miếu bi ký, bia đặt tại Văn Miếu, thôn Đại Phú, thị xã Bắc Ninh; Hưng Phúc trùng tu đại tự thạch bi, bia đặt tại chùa thôn Ngư Đại, xã Đại Xuân, huyện Quế Võ; Trùng tu Cổ Lũng tự miếu bi, bia chùa Cổ Lũng, thôn Duệ Khánh, xã Nội Duệ, huyện Tiên Sơn.
3. Bia ở các từ đường và các dòng họ: Chúng tôi có nhận xét số bia ở từ đường và các dòng họ trong tỉnh Hà Bắc tương đối nhiều, từ đường họ Ngô ở khu 1, xóm Núi, phương Đáp Cầu, thị xã Bắc Ninh (Ngô tộc từ đường bi ký); Nhà thờ họ Nguyễn thôn Kim Đôi xã Kim Chân huyện Quế Võ (Kim Đôi Nguyễn tộc từ đường ký); Từ đường họ Vũ thôn Bất, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Sơn; Nhà thờ họ Chu thôn Vọng Nguyệt xã Tam Giang huyện Yên Phong (Chu tộc bi ký); Nhà thờ họ Lê Nho thôn Đại Mão, xã Hoài Thượng huyện Thuận Thành (Lê tộc bi ký).
Bia các dòng họ ghi chép việc riêng của từng dòng họ hoặc tên tuổi người trong họ góp bao nhiêu tiền của để xây dựng từ đường, để 4 mùa cúng tế, giỗ chạp, hoặc phân công cho từng người trong họ trông coi từ đường, biện lễ cúng tế, hoặc thể lệ giỗ chạp từng người trong họ tộc, hoặc ghi tên những người đỗ đạt, làm quan, có công trạng được phong tước...
4. Bia ghi sự tích, thần tích, ngọc phả. Sự tích về Trương Hống Trương Hát thời Triệu Việt Vương đánh Tống với bài thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” [Trùng thuyên danh từ sự tích, tại đình khu 5 (xóm Đình) phường Đáp Cầu, thị xã Bắc Ninh]. Sự tích viết về Trần Liễu, con của Trần Thái Tổ bố Trần Hưng Đạo đại vương (bia Thần tích bi, tại đình Tự Thế, xã Trí Quả, huyện Thuận Thành). Sự tích Lý Trưng Hiển có công giúp Lý Thái Tổ đánh dẹp giặc ngoại xâm được phong là Thái úy dực thánh đại vương. (Sự tích bi ký, đền thôn Hòa Đình, xã Võ Cường, thị xã Bắc Ninh).
Bia thần tích, thần phả cũng là những tư liệu quý của địa phương, hầu hết đều là những vị thần có công lớn trong sự nghiệp chống giặc giữ nước hoặc đỗ đạt thành tài. Thần tích khắc trên bia có thể đã được ghi chép vào các sách Hán Nôm song di vật bia đá hiện còn vẫn là bản gốc đáng quý.
5. Bia viết về sự đăng khoa đỗ đạt thể hiện niềm tự hào về nền văn hóa của địa phương. Bia Tam Sơn xã đăng khoa bi ký, đặt tại chùa Cảm Ứng, thôn Tam Sơn, xã Tam Sơn, huyện Tiên Sơn. Bia do cháu đích tôn dòng họ Nguyễn là Nguyễn Thiện Kế, đỗ phó bảng khoa Mậu Tuất, Tri huyện huyện Chương Mỹ soạn. Bia ghi tên họ những người đỗ đạt các khoa gồm 2 Trạng nguyên, 2 Bảng nhãn, 8 người đỗ tam giáp, 2 người đỗ nhị giáp các khoa niên hiệu Hồng Đức, Hồng Thuận, Quang Thiệu, Mạc Cảnh lịch, Bảo Thái, Vĩnh Trị như: Thông Linh đại vương - Nguyễn Quan Quang, Trạng nguyên khoa Bính Tuất, niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình 15 (1246) Tiết nghĩa đại vương - Nguyễn Tự Cường đỗ Nhị giáp khoa Giáp Tuất đời Lê Hồng Thuận 6 (1514).
Bia Khoa mục danh truyền, (bia đặt tại chùa Diên Phúc, thôn Yên Viên, xã Vân Hà, huyện Việt Yên. Dựng năm Cảnh Hưng 6 (1745) do giám sinh Nguyễn Duy Mai soạn. Bia ghi tên 15 người đỗ đạt các khoa.
6. Bia ghi về các loại thể lệ luật lệ, khế ước văn ước. Bia Bi chỉ tế vật định lệ, tại chùa Phù Lưu, thôn Phù Lưu xã Tân Hồng huyện Tiên Sơn. Bia dựng năm Cảnh Thịnh 5 (1797), ghi thể lệ việc dâng lễ vật cúng tế và lệ luân phiên canh tác ruộng thờ. Ruộng thờ phân công mỗi người canh tác 5 sào, sau 1 năm lại đổi. Ngày lễ mỗi người góp một mâm xôi, mỗi mâm 10 bát gạo rượu trắng 1 bình, 1 phong trầu 12 miếng, 100 thỏi vàng (vàng giấy). Thể lệ khi tế, lệ sau khi tế chia phần. Có ghi 1 bài văn tế.
7. Bia phản ánh các nội dung khác nhau và các loại hình văn khắc khác nhau. Bia nói về việc xây dựng cầu thành. Bia lệnh dụ, chỉ dụ; Bia tạo đình miếu, bia tại lăng, mộ. Các biển gỗ, cuốn thư; Các văn khắc bộ tứ bình... Đặc biệt có một cuốn sách đồng 12 trang ghi về gia phả dòng họ Đặng tại nhà thờ họ Đặng tại thôn Xuân Hội, xã Lạc Vệ, huyện Tiên Sơn.Nội dung ghi tên tự hiệu, ngày giỗ các đời, vị trí các thửa ruộng. Sách khắc năm Tự Đức thứ 21 (1868). Còn chiếc gương đồng nhỏ, nói là của cụ Nguyễn Đương Hồ, Tiến sĩ năm 1684, thôn Dương Húc, xã Đại Vi, huyện Tiên Sơn.
Như vậy có thể thấy các loại hình văn bia rất phong phú đa dạng. Trong số thác bản văn bia sưu tầm mấy năm qua chắc chắn có bia, chuông đã được in dập rồi, nhưng số đó không nhiều. Với tinh thần kiểm kê toàn bộ số văn khắc Hán Nôm chúng tôi đã tiến hành in dập hết bia, chuông, khánh... để tiện so sánh đối chiếu và bổ sung cho nhau.
8. Về chuông, khánh: Với tổng số là 135 chuông, khánh, trong đó số khánh rất ít. Những quả chuông được đúc dưới Triều Lê cũng hiếm, đại bộ phận được đúc vào thời Cảnh Thịnh. Chúng tôi có nhận xét không chỉ ở Hà Bắc mà các nơi khác, chuông được tạo đúc dưới thời Cảnh Thịnh chiếm tỉ lệ nhiều, tuy triều Cảnh Thịnh chỉ có 9 năm trị vị đất nước. Ngoài ra là số chuông đúc thời Cảnh Hưng. Một quả chuông có niên đại sớm nhất là chuông đúc niên hiệu Phúc Thái 6 (1648), là quả chuông lớn ở chùa Diên Phúc, thôn Khúc Toại, xã Khúc Xuyên; huyện Yên Phong nói về việc Trung Quận công Dương Bá Hợp cùng vợ và các thiện nam tín nữ, Sãi sãi góp tiền của đúc chuông cho chùa Diên Phúc. Chuông có bài minh ca ngợi vị trí cảnh đẹp của chùa, có ghi tên và số tiền đóng góp của từng người.
Xã Đại Phúc, thị xã Bắc Ninh và xã Hoài Thượng huyện Thuận Thành là 2 nơi có nhiều chuông nhất (7 chuông).
Về khánh ở Hà Bắc có rất ít, theo thống kê của chúng tôi chỉ có 5 khánh. Khánh được ghi niên đại sớm nhất là năm Dương Đức 1 (1672), được đặt tại chùa Sùng Khánh, thôn Dương Sơn, xã Tam Sơn, huyện Tiên Sơn. Chiếc khánh đó ghi về một dòng họ Ngô có nhiều người đỗ đạt làm quan như con trưởng Ngô Sách Luận đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn. Con thứ nho sinh Ngô Sách... Thị nội văn chức Hán lâm viện Quốc sử...
Trên đây là đôi nét giới thiệu về tình hình sưu tầm thác bản bia chuông khánh tại tỉnh Hà Bắc trong vòng 4 năm qua. Qua đó bạn đọc và các nhà nghiên cứu phần nào hình dung được sự phong phú và đa dạng của khối tư liệu Hán Nôm hiện còn tồn tại trong dân gian nói chung và tỉnh Hà Bắc nói riêng. Là những người được nhà nước giao trách nhiệm bảo quản tư liệu sách vở Hán Nôm chúng tôi vô cùng phấn khởi vì đã có thêm nguồn tư liệu quý của các địa phương đưa về. Chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu để các bạn độc giả có điều kiện nghiên cứu xem xét...
Thông báo Hán Nôm học 1996 ( tr.317-327 )