VI | EN
4. Cao Ngọc Anh và tập KHUÊ SẦU THI THẢO (TBHNH 2005)
TBHNH 2005

CAO NGỌC ANH VÀ TẬP KHUÊ SẦU THI THẢO

THẾ ANH

Hội Ngôn ngữ học Việt Nam

Cao Ngọc Anh (12/12/1878 - 10/10/1970) quê làng Thịnh Mỹ, tổng Cao Xá nay thuộc xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An là con gái thứ tư Thượng thư Bộ học Nam triều Cao Xuân Dục, em gái Phó bảng Cao Xuân Tiếu (1865-1939) Tổng tài Quốc sử quán. Thuở nhỏ bà sống ở làng quê, khi thân phụ ra làm quan ở Bắc Hà bà theo cha và được học chữ Hán và cả tiếng Việt và đã có dịp làm quen với các danh sĩ đương thời như Chu Mạnh Trinh, Dương Lâm, Nguyễn Thượng Hiền. Bà là người có nhan sắc, thông minh, mẫn tiệp, có tài giao tiếp và năng khiếu văn chương nên được nhiều người trong giới quan trường mến mộ và để ý. Năm 19 tuổi bà kết duyên với Cử nhân Nguyễn Duy Nhiếp con phụ chính đại thần dưới triều Thành Thái Nguyễn Trọng Hợp quê làng Kim Lũ, Thanh Trì nay thuộc Hà Nội. Hai vợ chồng sống với nhau rất tâm đầu ý hợp và thường cùng nhau xướng họa thơ văn, nhưng số phận hẩm hiu và bà đã phải chịu cảnh góa bụa với ba đứa con thơ lúc mới 26 tuổi. Nỗi đau quá lớn nhưng bà đã vượt lên số phận ở vậy nuôi con, sống cuộc đời thanh cao lấy thơ văn xướng họa để khuây khỏa nỗi buồn, lấy câu kinh niệm Phật để tu dưỡng, ngoài ra bà còn tích cực tham gia công tác từ thiện, ủng hộ phong trào đòi duy tân nền kinh tế và mở mang dân trí của Hội Đông kinh nghĩa thục. Có lúc bà còn mở xưởng dệt lụa Hà Đông, mở trường dạy nữ công gia chánh nhưng chẳng được bao lâu thì bị đóng cửa. Theo bà Lệ Vân – cháu nội của Cao Ngọc Anh thì từ năm 1940-1950 bà bị kẹt lại ở quê nhà và đến năm 1953 bà mới vào miền Nam (Từ điển Văn học nói là năm 1954) lúc đó bà đã 76 tuổi. Vào năm 1962, ở Sài Gòn một số nhà thơ nữ lập ra nhóm Quỳnh Giao cùng nhau sinh hoạt sáng tác xướng họa thơ văn và bà là người cao tuổi nhất. Bà mất năm 1970 thọ 93 tuổi.

Thơ văn của Cao Ngọc Anh bị thất lạc nhiều, những bài còn lại (gần 120 bài, được tập hợp trong cuốn Khuê sầu thi thảo in ở Sài Gòn năm 1964 lúc bà đã 87 tuổi, năm 1999 con cháu bà bổ sung thêm và cho xuất bản ở Ottawa, và lần này cuốn sách được Nxb. Văn hóa Thông tin cho in lại ở Hà Nội năm 2002, nhưng đáng tiếc là số lượng quá ít chỉ có 300 cuốn nên không được lưu hành rộng rãi và ngay cả nhiều nhà nghiên cứu cũng không hề biết đến. Trong bản in lần này, ngoài phần thơ văn của tác giả, cuốn sách còn có lời giới thiệu của GS Vũ Ngọc Khánh, bài Phàm lệ cho lần in ở Ottawa của Nguyễn Bá Triệu, một bài tựa của Trần Liêm Tự Thanh Phong viết ở Sài Gòn năm 1953 cho bản thảo của tập thơ, bài Mấy lời sau khi đọc tập Khuê sầu thi thảo của học giả Trần Trọng Kim và bài Đề từ viết năm 1962 của Hải Ngọc Vũ Lan Đình. Ngoài ra còn có 20 bài thơ của bạn bè tặng nữ sĩ Cao Ngọc Anh, đặc biệt có bài thơ và bút tích của Ưng Bình Thúc Giạ Thị. Cuối cùng là những bài văn điếu nữ sĩ Cao Ngọc Anh và bài Nhớ bà nội của Lệ Vân cho ta biết thêm nhiều chi tiết trong cuộc sống riêng tư và phẩm cách của nữ sĩ.

Đúng như tên gọi của tập sách, nỗi đau mất mát và sầu muộn luôn ám ảnh nhà thơ, khi nhìn thấy cặp song đào chồng mới trồng năm trước, tác giả đã làm bài Đào hoa khẩu chiếm và tự dịch.

Tích niên lang tháp song đào thụ

Kim kiến đào hoa, bất kiến lang

Giả sử hoa thần như hữu thức

Vị lang tiều tụy giảm dung quang

(Song đào chàng mới trồng năm trước

Nay thấy đào hoa, chẳng thấy chàng

Ví khiến thần hoa như có biết

Vì chàng, nhan sắc giảm phần chăng)

Đọc bài này ta lại liên tưởng đến bài Đề đô thành Nam trang của Thôi Hộ.

Thơ bà có những câu buồn da diết:

“Nhân gian khướu hữu vô cùng hận

Trường bão tương tư đáo bạch đầu”

(Thất tịch)

(Trên đời có kẻ buồn khôn xiết

Ôm khối tương tư đến bạc đầu)

Khi đọc những dòng di bút của chồng bà đã thổn thức không cầm được nước mắt:

“Hàn vũ tiêu sơ liễu tán yên

Khiêu đăng độc tọa khán di biên

Trầm ngâm vị đoạn trường tiên đoạn

Ngọc trợ song thùy lạc chẩm biên”.

(Độc vong phu thi thảo)

(Mưa lạnh đìu hiu khói liễu đưa

Khêu đèn ngồi dậy đọc thơ xưa

Lời ngâm chưa dứt đà đau dạ

Bên gối đôi hàng ngọc nhỏ sa).

Cảnh cô đơn vắng lặng và tiếng kêu khóc của mấy đứa con nhỏ vô tư làm nhà thơ không nguôi được nỗi buồn:

“Trù trướng thâm khuê độc ẩn ưu

Cô đăng khiêu tận lệ song lưu

Si nhi vị giải ly tư ý

Đề khốc thông tiêu nhạ mẫu sầu”

(Dạ tọa)

(Ngậm ngùi phòng vắng một mình than

Khêu cạn đèn chong, lệ chứa chan

Bầy trẻ khôn hay niềm cách biệt

Suốt đêm la khóc mẹ thêm buồn)

Trong thơ của Cao Ngọc Anh không chỉ có nỗi buồn riêng tư mà nhiều khi nhà thơ cũng liên hệ với thời cuộc, với nhân tình thế thái:

Vận hội sao mà đen giống mực?

Nhân tình ngán nỗi bạc như vôi!

Trông ra thói tục, cười long óc,

Nghĩ đến trò đời, khóc hổ ngươi

(Vịnh đêm thu)

Nhớ nhà thêm ngán tình ly biệt

Giận nước khôn nguôi nỗi bất bằng

(Đêm Trung thu)

Có những vần thơ đến nay vẫn còn mang tính thời sự mà xã hội ta đang lên án:

...

Khinh người lắm của còn ham của

Khinh kẻ cao ngôi chẳng xứng ngôi

Kinh gái chung tình, chung cửa miệng

Kinh trai ái quốc, ái đầu môi

(Đáp lại những ai cho là ngạo đời)

Thơ Cao Ngọc Anh nhẹ nhàng, thanh thoát, không dùng lối nói khẩu khí, đại ngôn, ít điển cố, nhưng lại có lối ví von sâu sắc:

Đã trót vùi đầu theo với nước

Cũng đành nhắm mắt chẳng thôi non

Cửu văn, ông cụ, đà vơ sạch

Ngơ ngác nhìn nhau, nước mất còn ?

(Đánh bất)

Hỏi đá chờ ai ngồi lúc nhúc

Thương cầu vì nước cúi lom khom

(Đề tranh cầu Hàm Rồng của họa sĩ Thu Nga)

Giọng thơ trào phúng của Cao Ngọc Anh dí dỏm, có duyên, không làm ai mất lòng, chẳng hạn bài Tặng cô Từ kén chồng:

Kén chồng khó lắm chị em ơi !

Trong đám nhà Nho dễ mấy người !

Hậu bổ, lâu nay Nhà nước bỏ

Đốc tờ, ai nấy vợ con rồi

Thượng lưu, các cụ e nhiều tuổi

Cao đẳng, đàn em khó sánh đôi

Chết nỗi mâm son mà ế nhỉ !

Có khi đũa mốc phải chòi chơi.

Trong cuốn Cụ Hoàng Nho Lâm có một câu chuyện giai thoại như sau:

Sau khi chồng bà Cao Ngọc Anh qua đời, nhiều vị quan trường thường hay nhờ mối mai đưa tiếng nhưng bà đều cự tuyệt, ông Hoàng (Hoàng giáp Đặng Văn Thụy - anh rể bà) cũng thường hay nhắc chuyện này với vợ, và bà Hoàng nói: “Nếu ông đồng ý tôi sẽ nói với dì nó cho ông: Ông Hoàng lấp lửng: cái đó tùy bà” (!) Bà Hoàng đem câu chuyện này nói lại với em. Hôm sau Cao Ngọc Anh làm bài thơ Lỡm anh Tế (Đặng Văn Thụy làm Tế tửu Quốc tử giám Huế) gửi ông anh rể:

Anh Tế nhà ta khéo ỡm ờ

Phong tình quen thói lại lơ mơ

Rượu ngon uống hết không chừa cặn

Mít ngọt quen mùi đánh cả xơ

Duyên chị trước đà xe chỉ thắm

Tình em nay muốn chắp dâu tơ

Cho hay quân tử là thế thế

Chị cũng ưa mà em cũng ưa!

Bài thơ vừa nhẹ nhàng vừa dí dỏm.

Đọc một số bài thơ Nôm của Cao Ngọc Anh ta thấy phảng phất hơi thơ của Bà Huyện Thanh Quan. Học giả Trần Trọng Kim đã nhận xét: ... Xem những bài thơ Hán văn và Việt văn của bà, tôi lại nhớ đến Bà Huyện Thanh Quan thuở xưa, cùng một giọng điệu, cùng một khẩu khí, nhưng thơ của bà thi sĩ họ Cao lại đầy đủ, văn từ sung thiệm, ý tứ bóng bẩy và nhẹ nhàng, đọc lên ai nghe cũng thích.

Xin trích một bài làm dẫn chứng:

Còn trời còn đất hãy còn ta

Chân cứng lo chi bóng xế tà

Nhớ mẹ thêm rầu khi sớm tối

Thương con nào quản nỗi gần xa

Dám phai lời hẹn cùng non nước !

Cũng gượng vui cười với cỏ hoa

Phong cảnh buồn trông nơi đất khách

Chiều hôm lác đác hạt mưa sa.

(Vịnh cảnh hoàng hôn)

Cao Ngọc Anh còn làm cả thơ ca trù, có bài đã được tuyển chọn in trong Văn đàn bảo giám như bài Tức cảnh lúc dạo thuyền trên Hương Giang với cô đào Tuyết Ngọc:

Nhất diệp khinh châu lăng vạn khoảnh

Giữa sông Hương mà lanh lảnh tiếng Hồng Lam

Khúc cao ca dìu dặt với cung đàn

Bổng gặp khách Trường An thi xã

Văn tự, tiền duyên giai cố ngã

Cầm ca, cựu trúc tức tân thanh

Vẻ thiên nhiên lắm thú hữu tình

Kìa gió mát trăng thanh ta với bạn !

Kho tạo hóa chi vô tận tạng

Góp cùng nhau lảng mảng cuộc vui chơi

Kìa kìa cá nước chim trời

Sẽ là một thiết sót nếu không đề cập đến một mảng đề tài mà nữ sĩ thể hiện rất thành công, đó là loại văn tế. Như ta đã biết văn tế thường phỏng theo thể phú Đường luật vừa gò bó, vừa công thức, ước lệ nên nhiều lúc khô khan ít gây được hứng thú cho người đọc, ngược lại Bài văn tế mẹ của Cao Ngọc Anh đã vận dụng những câu nói nôm na nhưng vẫn gây được cảm xúc mạnh nhờ thể hiện được tình cảm một cách chân thật làm cho hiệu quả nghệ thuật được nâng cao. Ta hãy nghe bà nói về đức tính cần cù của mẹ và tình cảm của con cháu đối với người đã khuất:

Thiếu gì võng, thiếu gì dù, thiếu gì cửa tía nhà son, nền chung đỉnh nên ngôi mệnh phụ,

Mà vẫn cày, mà vẫn cửi, mà vẫn vườn rau ao cá, việc điền viên vui thú nông gia.

...

Niềm xa, xót đàn con ríu rít, tìm bà ngoại ngơ ngơ ngác ngác, biết lấy ai chia ngọt chia bùi,

Nỗi gần, thương hai chị ngẩn ngơ, nhớ mẹ già viếng viếng thăm thăm, cực những lúc chạy đi chạy lại.

Ngoài ngàn dặm nặng tình tang tử, mẹ vội về chi ?

Dưới cửa tuyền chăm việc thần hôn, chàng ơi thay với.

Tóm lại, thơ văn của Cao Ngọc Anh phong phú đa dạng gồm cả chữ Hán, chữ Nôm và Quốc ngữ từ thất ngôn, ngũ ngôn đến lục bát, ca trù, văn tế, câu đối. Tôi xin mượn lời bình của học giả Trần Trọng Kim để kết luận bài viết của mình: Thơ bà có bài lâm ly sầu thảm, có bài hài hước trào phúng, có bài đằm thắm âu yếm. Song khi nghe tiếng cười trong thơ của bà, người ta vẫn thấy cái vết của giọt lệ chưa khô... Lời nhận xét của cụ Trần rất sâu sắc. Có lẽ Cao Ngọc Anh là người đại diện cuối cùng cho phái nữ làm thơ Hán Nôm của nước ta, tên tuổi của bà xứng đáng được đứng cạnh Bà Huyện Thanh Quan, Mai Am, Huệ Phố, Sương Nguyệt Anh...

Thông báo Hán Nôm học 2005 (tr.35-43)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm