VI | EN
5. Một cách hiểu khác về chữ “Mã thượng” trong bài thơ Lương châu từ của Vương Hàn (TBHNH 2009)
(TBHNH 2009)

MỘT CÁCH HIỂU KHÁC VỀ CHỮ “MÃ THƯỢNG” TRONG BÀI THƠ LƯƠNG CHÂU TỪ CỦA VƯƠNG HÀN

THẾ ANH

Hội Ngôn ngữ học VN

Lương Châu từ của Vương Hàn là một trong những bài thơ Đường được phổ biến rộng rãi ở Việt Nam, được nhiều người ưa thích và ngâm vịnh. Bài thơ có tần số xuất hiện cao trong các Tuyển tập thơ Đường ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam. Bài thơ cũng chiếm một số lượng bản dịch khá lớn của các vị túc nho, các nhà thơ chuyên nghiệp và cả những người yêu thích. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã dựa vào bài thơ này để làm một bài thơ vui theo lối tập cổ, tặng Đại tướng Trần Canh (lúc đó là cố vấn quân sự do Đảng Cộng sản Trung Quốc cử sang giúp ta trong chiến dịch biên giới 1950).

Bài thơ của Vương Hàn như sau:

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,

Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu,

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

Bài thơ hùng hồn, diễm lệ, lạc quan và không kém phần lãng mạn, khi đọc hết bài thơ mới nghe qua các từ mỹ tửu, tỳ bà, mã thượng, sa trường, chinh chiến… và chưa cần dịch, người nghe cũng đã cảm nhận được những âm điệu du dương, nhịp nhàng và hùng tráng dù cho không biết nhiều chữ Hán. Bài thơ dễ hiểu, ngôn từ và cấu trúc ngữ pháp trong câu không có gì cầu kỳ, lắt léo và khó hiểu, trừ chữ “mã thượng” trong câu thứ hai là có chỗ cần bàn. Nguyễn Tuyết Hạnh trong cuốn Thơ Đường bình chú (Nxb. Văn học, 3/2009) đã giải thích chữ “mã thượng” như sau:

“... Từ “mã thượng” trong bài này hầu như đều được dịch là lên ngựa. Lên ngựa thì phải là “thượng mã” hay “thướng mã” chứ không thể là “mã thượng” ... ở đây phải hiểu theo nghĩa bạch thoại “mã thượng” (mã sàng) là lập tức như mã thượng tẩu (đi ngay lập tức)” (tr.41).

Đúng vậy, “mã thượng” không phải là lên ngựa, nhưng hiểu theo nghĩa bạch thoại như tác giả Nguyễn Tuyết Hạnh thì cũng chưa ổn, bởi vì Vương Hàn là một thi nhân lớn đời Đường chẳng lẽ khi làm thơ mà lại bí từ đến nỗi phải đưa văn bạch thoại vào. Vấn đề ở đây thực ra có liên quan đến một nét văn hóa đặc trưng của người Hồ ở vùng Tây Vực (nay thuộc khu tự trị Tân Cương) là ngồi trên lưng ngựa để đánh đàn tỳ bà(1). Do đó “mã thượng” phải hiểu là ngồi trên lưng ngựa, và tỳ bà mã thượng được coi như một cụm từ cố định để chỉ nét đặc trưng văn hóa đó.

Trong nhiều cuốn Thơ Đường của Trung Quốc trước đây ít chú ý giải thích một cách tường tận về vấn đề này, nên phần lớn (nếu không nói là tất cả) chúng ta đã hiểu không đúng và dịch sai. Câu thơ thứ hai trong bài này không hề có nghĩa là đánh đàn tỳ bà để thúc giục quân sĩ lên ngựa hành quân ra trận, hơn nữa đàn tỳ bà cũng không phải là loại nhạc cụ dùng để làm kèn hiệu ra lệnh hành quân. Trong nhiều bản dịch tuy cách diễn đạt và dùng từ có chỗ khác nhau, nhưng đều có một cách hiểu chung là: Rượu đã rót ra sắp uống thì tiếng đàn tỳ bà lại giục giã lên đường:

Chinh nhân muốn uống nhưng tiếng đàn tỳ bà đã giục giã ra đi (sách đã dẫn - tr.41).

Toan nhắp, đàn vang, giục ngựa đi (Nguyễn Hà)

Muốn say đàn đã giục ra đi (Trần Trọng San)

Tỳ bà giục giã ngựa đang đợi người (Lê Hữu Giáp)

Muốn uống, tỳ bà giục ngựa đi (Bùi Khánh Đản)

Toan nhắp, tỳ bà đã giục đi (Trần Quang Trân)

Toan nhắp, tỳ bà ngựa giục đi (Phan Văn Các)

Lên ngựa tỳ bà giục giã đi (Ngô Văn Phú)

Uống thì trên ngựa tiếng tỳ giục sôi (Trần Trọng Kim)

...

Trên báo Người cao tuổi các số 5, 6, 7/2001 có mục Thi dịch bài Lương Châu từ và do lời dịch xuôi câu thứ hai không chính xác, nên kết quả vẫn là:

Muốn uống, tỳ bà thúc ngựa phi

Muốn uống, cung đàn thúc ngựa phi

Toan uống, nghe đàn thúc ngựa phi

Toan uống, tỳ bà giục lên yên

Tiếng đàn giục ngựa tiến lên thôi

Toan uống, lệnh đã giục quân đi.

v.v...

Do hiểu cụm từ “tỳ bà mã thượng” chưa chính xác như trên nên trong bài Lương Châu từ - khúc bi ca thời chiến của Lê Quang Đức trên Ngôn ngữ & Đời sống số 3-2003 đã phân tích:

“... một bên là những gì mời gọi, hưởng lạc, một bên là tiếng réo gọi ra sa trường... Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi là cuộc sống phồn hoa nơi Trường An kinh đô mua cười nghìn trận của bề trên. Còn bên lưng ngựa, tiếng tì bà réo gào của kẻ bề dưới chỉ biết tuân mệnh cứ giục đi. Đi đâu, câu thơ bỏ ngỏ, mai phục... Đi để làm gì câu thơ không nói... chỉ biết thứ tiếng tì bà mã thượng ấy thật khủng khiếp, nó là vang âm của một sự hãi hùng vô ảnh, dư sức đẩy thân phận ra đi, dư sức dập tắt một khao khát hưởng lạc trần thế... Câu thơ dùng tới ba động từ và một trợ động từ: dục ẩm, thượng, thôi, đó là sự gấp gáp liên tiếp, là sự phá huỷ đến tận cùng hi vọng sống, là sự dồn đẩy của chiến tranh đối với con người”.

Thực ta bài thơ Lương Châu từ mô tả một cuộc sinh hoạt trong quân ngũ, một buổi liên hoan thịnh soạn, có thể là chỉ dành riêng cho tướng lĩnh và sĩ quan, vì bữa tiệc toàn gồm những thứ sang trọng, quý phái như rượu bồ đào - đặc sản của một địa danh nổi tiếng là Tây Vực, rượu lại được rót trong một loại chén đặc biệt làm bằng ngọc dạ quang, loại ngọc phát sáng trong đêm, lại thêm cả một đội nhạc công gảy đàn tỳ bà trên lưng ngựa giúp vui cho bữa tiệc: tiếng nhạc rộn ràng, sôi động như thúc giục mọi người cứ uống nữa đi (chứ không phải thúc giục lên ngựa hành quân!) để tận hưởng phút giây tự do, thoải mái (có thể là sau khi đi trận về hay trước khi xuất kích) và dù có say sưa nghiêng ngả trên sa trường thì bạn cũng chớ cười vì xưa nay đi chinh chiến có mấy người trở lại, chứ chưa uống mà đã phải lên ngựa hành quân ra trận thì làm sao mà say được!. Nếu bài thơ được hiểu như trên thì hướng phân tích cũng phải thay đổi cho phù hợp với nội dung vốn có của nó. Nhân đây chúng tôi cũng xin tạm dịch lại bài thơ như sau:

Bồ đào rượu quí chén lưu ly

Toan nhắp, trên yên rộn tiếng tì

Nghiêng ngả say mèm xin chớ mỉa

Xưa nay trận mạc mấy ai về!

 

Tư liệu tham khảo

- Đường thi tam bách thủ - Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã 2000, tr.278

- Đường thi tam bách thủ - Thượng Hải từ thư xuất bản xã 1999, tr.258

- Đường thi tam bách thủ - Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã 2002, tr.186

- Tuyệt cú tam bách thủ - Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã 1980, tr.8

- Cổ thi tinh tuyển nhật nhật độc (quyển thượng). Trắc hội xuất bản xã 1990, tr.171

- Sơ trung cổ thi văn từ điển - Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã 1999, tr.153

- Đường thi giám thưởng từ điển - Thượng Hải từ thư xuất bản xã 1989, tr.376./.

(Thông báo Hán Nôm học 2009, tr.90-94)

Thế Anh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm