VI | EN
93. Giới thiệu Ngọc phả trên Châu bản triều Nguyễn (TBHNH 2012)
(Thông báo Hán Nôm học 2012, tr.759-763)

GIỚI THIỆU NGỌC PHẢ TRÊN CHÂU BẢN TRIỀU NGUYỄN

ĐOÀN THỊ THU THUỶ

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I

Trung tâm Lưu trữ quốc gia I hiện bảo quản trên 700 tập Châu bản triều Nguyễn. Đây là khối tài liệu gồm hàng trăm nghìn văn bản hành chính của triều Nguyễn do các cơ quan chính quyền từ trung ương đến địa phương soạn thảo và thông qua nhà vua “ngự lãm” hay “ngự phê” bằng mực màu son để truyền đạt ý chỉ hoặc giải quyết các vấn đề chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, xã hội...dưới thời nhà Nguyễn.

Với khuôn khổ của bài viết, tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ nội dung cũng như giá trị của khối tài liệu này, mà chỉ giới thiệu bản ngọc phả lưu trên Minh Mệnh quyển số 2 thuộc khối Châu bản triều Nguyễn, tờ 323-325, khổ giấy mỗi tờ là 33x41cm. Đây là bản gốc do Đông các Đại Học sĩ Đinh Nguyễn Phiên soạn thảo, vua Minh Mệnh trực tiếp “ngự lãm” và “ngự phê” rất cẩn thận bằng mực màu son. Bản ngọc phả này ghi chép cho con cháu trực hệ của nhà vua một chương là Đế hệ thi, và con cháu 10 anh em của vua mỗi dòng một chương là Phiên hệ thi để quy định chữ tên lót, với mục đích sắp xếp người thân kẻ sơ, thứ tự trên dưới để phân biệt thật rõ ràng dòng dõi của vua với dòng dõi các phiên vương. Qua đây, chứng minh vua Minh Mệnh chú ý bảo vệ vị trí của mình trên ngai vàng, tránh việc anh em nhà vua nảy sinh ý tưởng tranh giành quyền lực.

Quá trình tìm hiểu bản ngọc phả này, tôi tham khảo thêm phần ghi này trên quyển Nguyễn Phúc tộc thế phả, thì nhận thấy có một vài chữ trong các chương của bản ngọc phả trên Châu bản không giống với những chữ tương ứng ở phần ghi này trên quyển Nguyễn Phúc tộc thế phả (1). Từ đó có thể khẳng định bản ngọc phả trên Châu bản được soạn trước bản ghi trong quyển Nguyễn Phúc tộc thế phả, bản chép trong quyển Nguyễn Phúc tộc thế phả có thể là bản đã được chỉnh sửa cuối cùng. Bởi ngày ghi trong bản ngọc phả trên Châu bản là cuối tháng 11 năm Minh Mệnh thứ 1 (1820), điều này chứng tỏ đây là bản được làm ngay sau khi vua Minh Mệnh ban dụ cho làm ngọc phả vào mùa đông, tháng 11, năm Canh Thìn, Minh Mệnh thứ nhất (1820): “Từ xưa sự hòa mục trong gia tộc có ảnh hưởng đến sự thịnh trị của nước. Thái tổ ta khi mới gây dựng, tỏ đức dày đối với thân thuộc, xưng quốc tính là Nguyễn Phúc. Hoàng khảo ta lập pháp luật, định chế độ, bắt đầu dựng phủ Tôn nhân, giữ việc phả hệ để lại muôn đời. Trẫm vâng nối nghiệp lớn, rất lưu tâm đến việc kế thuật. Các khanh làm ngọc phả nên xét kỹ, thế thứ trong sách vở cũ, liệt kê đầy đủ dâng trình, đợi chỉ xử định. Lại dụ cho quan dân trong ngoài, nếu không phải tôn thất thì không được mạo dùng chữ Nguyễn Phúc, làm trái thì có tội ”(2). Như vậy, con cháu chúa Nguyễn Hoàng từ đời Nguyễn Phúc Nguyên bắt đầu dùng chung tên lót chữ Phúc. Đến đời vua Minh Mệnh, ngoài chữ Phúc ra, mỗi đời còn có một chữ lót nữa, căn cứ vào chữ lót đó người ta có thể biết người mang tên thuộc chi nào và ở đời thứ mấy tính từ đời vua Minh Mệnh. Tất cả những tên lót đó được quy định trong các chương của bản ngọc phả trên Châu bản viết theo lối thơ Đường luật sau đây:

“Đông các Học sĩ Đinh Nguyễn Phiên tấu về việc vâng mệnh soạn 11 chương ngọc phả, mỗi chương 4 câu 20 chữ, cộng 220 chữ.

Kỳ nhất

Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh

Bảo Quí Định Long Trường

Hiền Năng Kham Kế Thuật

Thế Thụy Quốc Gia Xương.

 

Kỳ nhị - ANH DUỆ

Mỹ Lệ Phiên Cường Tráng

Liên Huy Vĩnh Thế Xương

Lệnh Nghi Sùng Tốn Thuận

Vĩ Vọng Biểu Khiêm Quang.

 

Kỳ tam - KIẾN AN

Lương Khiêm Giai Hữu Thức

Du Hành Suất Nghĩa Phương

Dung Di Tương Thức Hảo

Bính Diệu Trác Vi Chương

 

Kỳ tứ - ĐỊNH VIỄN

Tĩnh Hoài Ưng Quyến Ái

Kế Tác Mậu Thanh Hoa

Nghiễm Khác Do Chung Đạt

Liên Trung Tập Cát Đa

Kỳ ngũ - DIÊN KHÁNH

Hội Thích Phong Hanh Hợp

Nguyên Phùng Thái Lãng Nghi

Hậu Hòa Lưu Tú Diệu

Diễn Khánh Thiệu Phương Huy

 

Kỳ lục - ĐIỆN BÀN

Lý Tín Cửu Tư Chính

Tồn Thành Lợi Khả Duyên

Túc Cung Toàn Hữu Nghị

Tôn Hiển Tập Khanh Danh

 

Kỳ thất - THIỆU HÓA

Thiện Dụng Thường Tuần Lý

Văn Tri Tại Mẫn Cầu

Ngưng Tài Tuân Chí Lạc

Địch Đạo Doãn Phu Hưu

 

Kỳ bát - QUẢNG OAI

Phụng Khải Trưng Trinh Lộc

Kim Ngọc Trác Tiêu Kỳ

Điển Học Kỳ Duy Ý

Đôn Di Khắc Tự Trì

 

Kỳ cửu - THƯỜNG TÍN

Lân Hữu Tuân Gia Huấn

Lâm Trang Tuý Thịnh Dung

Thận Tu Tư Tiến Đức

Cường Ích Mậu Tân Công

 

Kỳ thập - QUANG

Nhã Ôn Khâm Ý Phạm

An Chỉ Thuật Hoằng Qui

Nguyên Khải Đằng Tài Dự

Duyên Ninh Hưởng Thọ Kỳ

 

 

Kỳ thập nhất - MÃO

Dục Tú Dương Quỳnh Cẩm

Chiêu Văn Hoán Bích Khuê

Tuy Tương Thừa Dĩ Dực

Du Cửu Thực Xưng Tề.

Minh Mệnh nguyên niên thập nhất nguyệt nhị thập cửu nhật tức ngày 29 tháng 11 năm Minh Mệnh thứ 1 (1820). Thần Đinh Nguyễn Phiên, hình dấu cá nhân khuyết màu đen”(3).

Theo bản dịch trên “kỳ nhất” là Đế hệ thi do vua Minh Mệnh lệnh làm riêng cho con cháu dòng chính của mình sử dụng chữ lót tuần tự qua các đời theo thứ tự các chữ (gồm 20 chữ dành cho 20 đời): con vua Minh Mệnh có tên đệm là Miên như Miên Tông (vua Thiệu Trị), Miên Thẩm (Tùng Thiện Vương), Miên Định (Thọ Xuân Vương)...; cháu nội vua Minh Mệnh lấy tên lót chữ Hồng như Hồng Nhậm (vua Tự Đức), Hồng Y (Thoại Thái Vương)....; Chắt nội dùng tên lót chữ Ưng như Ưng Chân (vua Dục Đức), Ưng Đăng (vua Kiến Phúc), Ưng Lịch (vua Hàm Nghi)....; tiếp đến dùng tên lót là chữ Bửu như Bửu Đảo (vua Khải Định); tiếp nữa đến dùng tên lót là chữ Vĩnh như Vĩnh San (vua Duy Tân), Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại). Vậy chỉ có những người trong Đế hệ thi mới được làm vua.

Vua Minh Mệnh có 1 người anh (Hoàng tử Cảnh) và 9 người em trai, những người này là họ hàng gần gũi nhà vua. Để phân biệt với các tôn thất khác tức con cháu 9 đời chúa Nguyễn, vua Minh Mệnh cho làm 10 chương từ “kỳ nhị” đến “kỳ thập nhất” là Phiên hệ thi, mỗi chương có 20 chữ dùng làm tên lót sau chữ Tôn Thất cho 20 đời con cháu của anh em của vua. Trong đó, “kỳ nhị” là chương dành cho con cháu Hoàng tử Cảnh - anh cả của vua Minh Mệnh; còn từ “kỳ tam” đến “kỳ thập nhất” là các chương dành cho con cháu của 9 người em trai.

Hiện nay dòng họ Nguyễn Phúc gồm con cháu các chúa, vua đều bình đẳng trước dòng họ mình không còn phân biệt thân sơ, nên nhiều gia đình tôn thất lấy lại Nguyễn Phúc, những người có chữ lót theo Phiên hệ thi và Đế hệ thi đặt sau Nguyễn Phúc một chữ lót theo thứ bậc của mình. 


Chú thích
:

(1). Nguyễn Phúc tộc thế phả, Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc, Nxb. Thuận Hoá, Huế- 1995, tr.253-261.

(2). Đại Nam thực lục Chính biên. Bản dịch Viện Sử học, Nxb. Giáo dục, H. 2007. Đệ nhị kỷ, tập 2, tr.102.

(3). Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh quyển số 2, tờ 323-325.

(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.759-763)

Đoàn Thị Thu Thuỷ
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hns@vass.gov.vn
Tel: 02438573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm