93. Giới thiệu Ngọc phả trên Châu bản triều Nguyễn (TBHNH 2012)
GIỚI THIỆU NGỌC PHẢ TRÊN CHÂU BẢN TRIỀU NGUYỄN
ĐOÀN THỊ THU THUỶ
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I
Trung tâm Lưu trữ quốc gia I hiện bảo quản trên 700 tập Châu bản triều Nguyễn. Đây là khối tài liệu gồm hàng trăm nghìn văn bản hành chính của triều Nguyễn do các cơ quan chính quyền từ trung ương đến địa phương soạn thảo và thông qua nhà vua “ngự lãm” hay “ngự phê” bằng mực màu son để truyền đạt ý chỉ hoặc giải quyết các vấn đề chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, xã hội...dưới thời nhà Nguyễn.
Với khuôn khổ của bài viết, tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ nội dung cũng như giá trị của khối tài liệu này, mà chỉ giới thiệu bản ngọc phả lưu trên Minh Mệnh quyển số 2 thuộc khối Châu bản triều Nguyễn, tờ 323-325, khổ giấy mỗi tờ là 33x41cm. Đây là bản gốc do Đông các Đại Học sĩ Đinh Nguyễn Phiên soạn thảo, vua Minh Mệnh trực tiếp “ngự lãm” và “ngự phê” rất cẩn thận bằng mực màu son. Bản ngọc phả này ghi chép cho con cháu trực hệ của nhà vua một chương là Đế hệ thi, và con cháu 10 anh em của vua mỗi dòng một chương là Phiên hệ thi để quy định chữ tên lót, với mục đích sắp xếp người thân kẻ sơ, thứ tự trên dưới để phân biệt thật rõ ràng dòng dõi của vua với dòng dõi các phiên vương. Qua đây, chứng minh vua Minh Mệnh chú ý bảo vệ vị trí của mình trên ngai vàng, tránh việc anh em nhà vua nảy sinh ý tưởng tranh giành quyền lực.
Quá trình tìm hiểu bản ngọc phả này, tôi tham khảo thêm phần ghi này trên quyển Nguyễn Phúc tộc thế phả, thì nhận thấy có một vài chữ trong các chương của bản ngọc phả trên Châu bản không giống với những chữ tương ứng ở phần ghi này trên quyển Nguyễn Phúc tộc thế phả (1). Từ đó có thể khẳng định bản ngọc phả trên Châu bản được soạn trước bản ghi trong quyển Nguyễn Phúc tộc thế phả, bản chép trong quyển Nguyễn Phúc tộc thế phả có thể là bản đã được chỉnh sửa cuối cùng. Bởi ngày ghi trong bản ngọc phả trên Châu bản là cuối tháng 11 năm Minh Mệnh thứ 1 (1820), điều này chứng tỏ đây là bản được làm ngay sau khi vua Minh Mệnh ban dụ cho làm ngọc phả vào mùa đông, tháng 11, năm Canh Thìn, Minh Mệnh thứ nhất (1820): “Từ xưa sự hòa mục trong gia tộc có ảnh hưởng đến sự thịnh trị của nước. Thái tổ ta khi mới gây dựng, tỏ đức dày đối với thân thuộc, xưng quốc tính là Nguyễn Phúc. Hoàng khảo ta lập pháp luật, định chế độ, bắt đầu dựng phủ Tôn nhân, giữ việc phả hệ để lại muôn đời. Trẫm vâng nối nghiệp lớn, rất lưu tâm đến việc kế thuật. Các khanh làm ngọc phả nên xét kỹ, thế thứ trong sách vở cũ, liệt kê đầy đủ dâng trình, đợi chỉ xử định. Lại dụ cho quan dân trong ngoài, nếu không phải tôn thất thì không được mạo dùng chữ Nguyễn Phúc, làm trái thì có tội ”(2). Như vậy, con cháu chúa Nguyễn Hoàng từ đời Nguyễn Phúc Nguyên bắt đầu dùng chung tên lót chữ Phúc. Đến đời vua Minh Mệnh, ngoài chữ Phúc ra, mỗi đời còn có một chữ lót nữa, căn cứ vào chữ lót đó người ta có thể biết người mang tên thuộc chi nào và ở đời thứ mấy tính từ đời vua Minh Mệnh. Tất cả những tên lót đó được quy định trong các chương của bản ngọc phả trên Châu bản viết theo lối thơ Đường luật sau đây:
“Đông các Học sĩ Đinh Nguyễn Phiên tấu về việc vâng mệnh soạn 11 chương ngọc phả, mỗi chương 4 câu 20 chữ, cộng 220 chữ.
Kỳ nhất Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh Bảo Quí Định Long Trường Hiền Năng Kham Kế Thuật Thế Thụy Quốc Gia Xương. Kỳ nhị - ANH DUỆ Mỹ Lệ Phiên Cường Tráng Liên Huy Vĩnh Thế Xương Lệnh Nghi Sùng Tốn Thuận Vĩ Vọng Biểu Khiêm Quang. Kỳ tam - KIẾN AN Lương Khiêm Giai Hữu Thức Du Hành Suất Nghĩa Phương Dung Di Tương Thức Hảo Bính Diệu Trác Vi Chương Kỳ tứ - ĐỊNH VIỄN Tĩnh Hoài Ưng Quyến Ái Kế Tác Mậu Thanh Hoa Nghiễm Khác Do Chung Đạt Liên Trung Tập Cát Đa | Kỳ ngũ - DIÊN KHÁNH Hội Thích Phong Hanh Hợp Nguyên Phùng Thái Lãng Nghi Hậu Hòa Lưu Tú Diệu Diễn Khánh Thiệu Phương Huy Kỳ lục - ĐIỆN BÀN Lý Tín Cửu Tư Chính Tồn Thành Lợi Khả Duyên Túc Cung Toàn Hữu Nghị Tôn Hiển Tập Khanh Danh Kỳ thất - THIỆU HÓA Thiện Dụng Thường Tuần Lý Văn Tri Tại Mẫn Cầu Ngưng Tài Tuân Chí Lạc Địch Đạo Doãn Phu Hưu Kỳ bát - QUẢNG OAI Phụng Khải Trưng Trinh Lộc Kim Ngọc Trác Tiêu Kỳ Điển Học Kỳ Duy Ý Đôn Di Khắc Tự Trì |
Kỳ cửu - THƯỜNG TÍN Lân Hữu Tuân Gia Huấn Lâm Trang Tuý Thịnh Dung Thận Tu Tư Tiến Đức Cường Ích Mậu Tân Công | Kỳ thập - QUANG Nhã Ôn Khâm Ý Phạm An Chỉ Thuật Hoằng Qui Nguyên Khải Đằng Tài Dự Duyên Ninh Hưởng Thọ Kỳ |
Kỳ thập nhất - MÃO
Dục Tú Dương Quỳnh Cẩm
Chiêu Văn Hoán Bích Khuê
Tuy Tương Thừa Dĩ Dực
Du Cửu Thực Xưng Tề.
Minh Mệnh nguyên niên thập nhất nguyệt nhị thập cửu nhật tức ngày 29 tháng 11 năm Minh Mệnh thứ 1 (1820). Thần Đinh Nguyễn Phiên, hình dấu cá nhân khuyết màu đen”(3).
Theo bản dịch trên “kỳ nhất” là Đế hệ thi do vua Minh Mệnh lệnh làm riêng cho con cháu dòng chính của mình sử dụng chữ lót tuần tự qua các đời theo thứ tự các chữ (gồm 20 chữ dành cho 20 đời): con vua Minh Mệnh có tên đệm là Miên như Miên Tông (vua Thiệu Trị), Miên Thẩm (Tùng Thiện Vương), Miên Định (Thọ Xuân Vương)...; cháu nội vua Minh Mệnh lấy tên lót chữ Hồng như Hồng Nhậm (vua Tự Đức), Hồng Y (Thoại Thái Vương)....; Chắt nội dùng tên lót chữ Ưng như Ưng Chân (vua Dục Đức), Ưng Đăng (vua Kiến Phúc), Ưng Lịch (vua Hàm Nghi)....; tiếp đến dùng tên lót là chữ Bửu như Bửu Đảo (vua Khải Định); tiếp nữa đến dùng tên lót là chữ Vĩnh như Vĩnh San (vua Duy Tân), Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại). Vậy chỉ có những người trong Đế hệ thi mới được làm vua.
Vua Minh Mệnh có 1 người anh (Hoàng tử Cảnh) và 9 người em trai, những người này là họ hàng gần gũi nhà vua. Để phân biệt với các tôn thất khác tức con cháu 9 đời chúa Nguyễn, vua Minh Mệnh cho làm 10 chương từ “kỳ nhị” đến “kỳ thập nhất” là Phiên hệ thi, mỗi chương có 20 chữ dùng làm tên lót sau chữ Tôn Thất cho 20 đời con cháu của anh em của vua. Trong đó, “kỳ nhị” là chương dành cho con cháu Hoàng tử Cảnh - anh cả của vua Minh Mệnh; còn từ “kỳ tam” đến “kỳ thập nhất” là các chương dành cho con cháu của 9 người em trai.
Hiện nay dòng họ Nguyễn Phúc gồm con cháu các chúa, vua đều bình đẳng trước dòng họ mình không còn phân biệt thân sơ, nên nhiều gia đình tôn thất lấy lại Nguyễn Phúc, những người có chữ lót theo Phiên hệ thi và Đế hệ thi đặt sau Nguyễn Phúc một chữ lót theo thứ bậc của mình.
Chú thích:
(1). Nguyễn Phúc tộc thế phả, Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc, Nxb. Thuận Hoá, Huế- 1995, tr.253-261.
(2). Đại Nam thực lục Chính biên. Bản dịch Viện Sử học, Nxb. Giáo dục, H. 2007. Đệ nhị kỷ, tập 2, tr.102.
(3). Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh quyển số 2, tờ 323-325.
(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.759-763)