1. Về tấm bia cổ ở chùa Diên Quang (TBHN 2008)
...
VỀ TẤM BIA CỔ Ở CHÙA DIÊN QUANG
PHÙNG THỊ MAI ANH
Ban Quản lý di tích tỉnh Bắc Giang
Chùa Diên Quang được nhân dân trong vùng thường gọi là chùa Cẩm Bào hay chùa Bầu. Đây là một ngôi chùa cổ có lịch sử từ rất lâu đời, một thắng cảnh đẹp nổi tiếng của vùng đất Cẩm Bào xưa. Chùa tọa lạc trên một khuôn viên rộng đẹp ở trung tâm làng Cẩm Bào xã Xuân Cẩm huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang. Chùa ngoảnh mặt nhìn về hướng tây ghé nam. Xung quanh vườn chùa cây cối xanh tốt um tùm quanh năm tỏa bóng mát tạo cho cảnh Thiền thêm phần u tịch, thâm nghiêm. Bên ngoài, chùa tiếp giáp với khu dân cư và xóm làng trù mật. Ngay phía trước chùa là khu chợ Bầu đông vui nhộn nhịp khách ra vào buôn bán tấp nập. Xa hơn nữa là dòng sông Cầu thơ mộng đã đi vào lịch sử với chiến thắng vang dội đập tan quân xâm lược Tống bảo vệ đất nước.
Theo các cụ cao niên trong thôn cho biết, xưa kia chùa có quy mô hoành tráng, bề thế với đầy đủ các hạng mục công trình đẹp đẽ, cổ kính gồm: tòa tam bảo, gác chuông, hai dãy hành lang, phía trước có cổng tam quan, văn chỉ, phía sau có nhà tổ và nhà khách. Trải qua thời gian, chiến tranh ngôi chùa cổ không còn nguyên vẹn như xưa. Nhưng nhân dân địa phương với truyền thống yêu chuộng đạo Phật đã không ngừng hưng công tu tạo cho ngôi chùa ngày một khang trang tố hảo như hiện nay. Về kiến trúc, chùa có bố cục mặt bằng theo kiểu chữ đinh (T) gồm tòa tiền đường 5 gian nối với tòa thượng điện 5 gian. Kết cấu kiến trúc gỗ trong các tòa được làm theo kiểu thức truyền thống, không chạm khắc cầu kỳ tinh xảo.
Trong chùa Diên Quang còn bảo lưu được hệ thống tượng phật tương đối đầy đủ gồm hơn 30 pho tượng gỗ, đất, đá có niên đại thời Lê - Nguyễn như: tượng A Di Đà, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát… Những pho tượng này đều là những di vật cổ có giá trị lịch sử lớn. Chúng được tạo tác công phu, các bộ phận đầu, mắt, thân hình cơ thể cân đối, bên ngoài các pho tượng đều được sơn thếp lộng lẫy, bài trí phù hợp với không gian ngôi chùa. Các bệ tượng đều được trang trí đẹp với 3 lớp cánh sen mang phong cách nghệ thuật thời Lê thế kỷ XVII, XVIII.
Điều đáng chú ý, ở chùa Diên Quang còn bảo lưu được hệ thống di sản Hán Nôm phong phú, đa dạng như: 3 bức hoành phi, 5 đôi câu đối, 2 bia đá, 2 cây hương khắc ghi chữ Hán… Đó chính là nguồn tư liệu sử chân thực, có giá trị cao trong việc tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử của ngôi chùa và những nét văn hoá truyền thống của địa phương qua các triều đại lịch sử. Cụ thể như sau:
I. Hoành phi:
1. "Thiền Định đài" - Đài Thiền Định.
2. “Diên Quang tự” - Chùa Diên Quang
3. “A Di Đà Phật” - Đức Phật A Di Đà
II. Câu đối:
1. "Mạch hòa Nguyệt Đức lưu thanh thủy
Diên tự Cẩm Bào đáo thiện tâm"
(Mạch hòa Nguyệt Đức sông tuôn chảy
Chùa hội Cẩm Bào mở thiện tâm)
2. " Đức Phật thần quy phù cẩm tú
Liên đài trì niệm đáo hư linh"
(Đức Phật thần luôn hướng về giúp đỡ vùng đất đẹp
Trong lòng luôn tụng niệm đạo Phật đạt đến cõi hư không).
3. " Thiền Bào ánh tổ đăng, tín nghĩa hối quang như nguyệt
Cẩm tự hòa chung cổ tâm linh ái vọng tuyết sơn"
(Áo Thiền lấp lánh tổ đăng tín nghĩa sáng bừng như nhật nguyệt
Chùa gấm hài hòa chiêng trống, tâm linh yêu quý vọng tuyết sơn).
4. "Tường thế Diên Quang tâm hỉ xả
Xao chung Cẩm tự đức từ bi"
(Đến chùa Diên Quang tâm hỉ xả
Gõ chuông chùa Cẩm Bào đức từ bi).
5. “Phủ thân vọng bái tam thiên hiệu
Khấu thủ tuyên dương ngũ bách danh”
(Cúi thân vọng bái ba ngàn hiệu
Khấu đầu tuyên dương năm trăm danh).
III. Cây hương đá:
* Cây hương 1:
Đây là cây hương đá tứ diện dựng ở phía trước chùa Diên Quang. Về hình thức đây là một cây hương lớn, có nghệ thuật trang trí đẹp, độc đáo. Cây hương có kích cỡ cao 185cm, rộng 35cm. Riêng phần đầu cây hương cao 75cm có trang trí cách điệu hình dáng chiếc đền lồng. Ở 4 trụ của đèn lồng có trang trí hình rồng, phượng, mặt trời với những tua lửa hình lưỡi mác, hình ảnh đôi rồng chầu mặt nguyệt…, với những đường nét tinh xảo mang đậm phong cách nghệ thuật thời Lê. Diềm cây hương rộng 6cm để trơn không trang trí hoa văn.Trên 4 mặt có khắc kín chữ Hán, đôi chỗ xen Nôm, nét chữ chân phương, sắc nét và còn tương đối rõ. Phần tiêu đề cây hương ở 4 mặt đều có khắc chữ Hán to đậm như sau:
Mặt 1: Nhất hưng công
Mặt 2: Tạo hương đài
Mặt 3: Chúc hoàng thiên
Mặt 4: Diên Quang tự.
Qua đây cho biết nội dung của cây hương ghi lại tên họ những người có lòng hưng công tạo dựng cây hương đá ở chùa Diên Quang tự. Cũng trên cây hương này còn khắc ghi một bài minh văn với nội dung ca ngợi cảnh đẹp của ngôi chùa và lòng tốt của con người đáng được biểu dương, ghi nhớ. Dòng lạc khoản ở cuối bài văn cho biết năm khắc dựng cây hương, đó là vào năm “Chính Hòa thập bát niên, tuế thứ Đinh Sửu, Mạnh Đông tiết, cốc nhật khắc” - tức vào ngày tốt, tháng 10, tiết đầu mùa đông, năm Chính Hòa thứ 18 (1697) khắc dựng cây hương.
* Cây hương đá 2:
Đây là cây hương đá lục diện dựng ở phía sau chùa Diên Quang. Về hình thức đây là một cây hương có kích cỡ trung bình, có chiều cao 165cm, rộng 14cm, diềm 3cm. Phần đâu cây hương cao 38cm, có trang trí hình bông hoa sen có 3 lớp cánh đang nở (mỗi lớp có 6 cánh), đợ ngay dưới bông sen ấy là một hình trụ tròn và những cánh sen cách điệu trông thật đẹp mắt. Phần đế cây hương cũng được trang trí những cánh sen (gồm 12 cánh) ôm sát nhau trên một bệ đá rộng gắn xuống đất.Trên các mặt của cây hương có khắc kín chữ Hán, đôi chỗ xen Nôm, nét chữ chân phương, sắc nét và còn tương đối rõ. Phần tiêu đề cây hương ở 6 mặt đều có khắc chữ Hán to đậm ghi “Tạo tác hương đài nhất trụ” - tức là việc tạo dựng một cây hương đá. Nội dung của cây hương ghi lại tên họ những người có lòng hưng công tạo dựng cây hương đá ở chùa Diên Quang tự. Dòng lạc khoản ở cuối bài văn cho biết năm khắc dựng cây hương, đó là vào năm “Vĩnh Trị tam niên, tuế thứ Đinh Hợi, tứ nguyệt, vọng nhật” - tức vào ngày 15, tháng 4 năm Đinh Hợi, niên hiệu vua Vĩnh trị thứ 3 (1678).
IV. Bia đá:
Đây là tấm bia dẹt hình chữ nhật, có 2 mặt, chất liệu đá xanh xám. Bia có kích cỡ trung bình, cao 66cm, rộng 42cm, diềm 5cm có trang trí đề tài hoa cúc dây. Trán bia 18cm có trang trí hình đôi rồng chầu mặt nguyệt. Trên 2 mặt bia có khắc kín chữ Hán, đôi chỗ xen Nôm, nét chữ chân phương nhưng do bia để ngoài trời lâu ngày nên chữ rất mờ mòn khó đọc. Dòng tiêu đề bia có khắc 4 chữ Hán to đậm ghi Hậu phật bi ký cho biết đây là tấm bia ghi lại việc lập Hậu Phật ở ngôi chùa Diên Quang. Dòng lạc khoản ở cuối bài văn bia chữ đã mờ không đọc được. Nhưng qua những đặc điểm trang trí nghệ thuật trên bia cho ta đoán định, đây là tấm bia mang phong cách thời Lê.
Điều đặc biệt nhất ở đây phải kể đến tấm bia cổ dựng ở tòa tiền đường chùa Diên Quang. Về hình thức, đây là tấm bia dẹt hình chữ nhật, có 2 mặt, chất liệu đá xanh xám. Bia có kích cỡ trung bình, cao 93cm, rộng 56cm, diềm bia 7cm có trang trí hoa văn đề tài hoa cúc dây cách điệu, với những đường nét tinh tế, mềm mại mang đặc trưng phong cách nghệ thuật điêu khắc đá thời Lê thế kỷ XVII. Trán bia 23cm, có trang trí hình đôi rồng chầu mặt nguyệt. Trên 2 mặt bia có khắc kín chữ Hán, đôi chỗ xen Nôm, nét chữ chân phương, sắc nét và còn tương đối rõ. Dòng tiêu đề bia có khắc 4 chữ Hán to đậm cho biết tên bia “Diên Quang tự bi” - Bia chùa Diên Quang. Nội dung tấm bia ghi lại cảnh đẹp của ngôi chùa và lịch sử những lần trùng tu, tôn tạo cùng tên họ những người có lòng hảo tâm công đức, đóng góp tiền của cho ngôi chùa. Dòng lạc khoản ở cuối bài văn bia cho biết năm khắc dựng tấm bia, vào năm “Vĩnh Trị tam niên, thất nguyệt, mạnh thu, cốc nhật” - tức vào ngày tốt, tháng 7, tiết đầu mùa thu, năm Vĩnh Trị thứ 3 (1678). Thiết nghĩ, đây là tấm bia quý cung cấp nhiều thông tin giúp ích cho việc nghiên cứu về ngôi chùa cổ Diên Quang và vùng đất Cẩm Bào. Vì thế trong bài viết Thông báo Hán Nôm năm 2008, tôi xin được giới thiệu nội dung bài văn bia này để quý vị tiện xem xét, nghiên cứu.
Cụ thể nội dung văn bia được dịch như sau:
Bia chùa Diên Quang
Mặt 1:
Bia ghi lại việc làm gác chuông và bài minh. Thường nghe: Cái đức của sự huyền diệu ở chốn hư không linh thiêng chính là sự mở rộng từ bi để sự từ bi được hiển ứng lớn lao mà độ cho sự hôn mê, cứu giúp cho chúng sinh ra khỏi bến mê thì tất phải tích thiện làm điều thiện.
Nay ở xã Cẩm Bào, huyện Hiệp Hòa, phủ Bắc Hà có ông Phủ sĩ Ngô Thời Trung, tên chữ là Phúc Toàn, vợ là bà Trần Thị Kiên, hiệu là Từ Minh có lòng thiện đã ra công làm điều thiện coi đó làm vui, thấy cảnh vật chùa Phật nơi đây đẹp như cảnh xuân, phía trước có dòng sông làm minh đường, phía sau lại có núi cao làm huyền vũ. Bên phải, bên trái có tay long, tay hổ đối nhau bao bọc, thật là nơi phong cảnh có tình. Nhưng mà do lâu ngày nên chùa Phật bị hư dột đổ nát, vào năm Giáp Dần (1664) ông bà đã cùng các quan viên trên dưới và các cụ, các vãi cùng nhau hưng công làm tòa tiền đường đẹp đẽ tố hảo. Đến năm Ất Mão (1665), ông lại đem tiền của nhà mua đồng mời thợ đúc quả chuông lớn để truyền phát điều vui. Đến năm Đinh Tỵ (1667) tháng 9 tức trải ba thu lại làm một tòa gác chuông. Trước thu thập tài hóa, tiền quan của nhà mua gỗ tốt về để dân cho thợ bật giây nẩy mực chẳng mấy mà hoàn thành gác chuông cao đẹp, cho ánh rồng chiếu dọi tới sao Ngưu, sao Đẩu ở chỗ hư không thực là điện quế cung lan, cảnh sắc rực rỡ đẹp đẽ nhẹ tựa đường mây. Sau đó cho đem treo chuông lớn ở trên lầu cao để chày kình khua nên ngân nga, một lần khua động thì ngàn âm định tán thánh tề chỉnh. Một lần khảo dậy mà thất tổ siêu thăng, thập phương giáng hạ chứng minh cho công việc đã thành. cho tên tuổi còn lưu mãi mãi.
Nay vào năm Mậu Ngọ xem xét văn bia để truyền lại lâu dài nên đem văn bia và bài minh đến ta xem cho. Ta mới bảo rằng: Công đức của ông thật lớn lao thay! và cũng vì việc đó mà bảo rằng: thường thì người ta sống ở cõi đời cũng nên cùng gia đình mà tích thiện thì điều phúc từ phương xa sẽ đến, cầu tất tự nhiên sẽ được báo ứng. Lớn lao thay! Con cháu đời sau sẽ được hưởng nhiều lộc của Hoàng ân, sẽ được hưởng thọ, hưởng lộc, hưởng danh, gồm đủ ngũ phúc. Cái đức ấy rồi tất sẽ đạt ngôi tôn quý của thiên hạ. Võ thì tam văn lục kế tiến tới tam công mà có vinh hoa, có nhiêu, có nữ, có nam, có được thọ lâu dài. Nhiều điều trọng đẹp, nhiều điều đáng quý, cho cháu con sự quý thịnh suốt ngàn vạn đời. Như thế chẳng đáng làm điều thiện hay sao? Vậy có bài minh rằng:
Kinh Bắc đất đẹp
Chùa làng Cẩm Bào
Bốn dân đều có
Muôn cảnh đều xuân
Đời mở cõi dài
Sánh cùng điều lớn
Làm thiện vui say
Làm điều nhân đức
Con cháu thịnh vinh
Phúc lộc đôi hàng
Nhà nông nhiều gạo
Thóc lúa đủ đầy
Của nhiều mỹ mãn
Đời sinh quý nhân
Võ cao trong điện
Phúc trải như trân châu
Tràn đầy đài gác
Đốc đại kỳ lân
Vì nước có bia
Rủ buông điều lớn
Khắc bia để mãi
Truyền để muôn đời.
Bậc cao niên của bản phủ Kiêm tri Phủ sĩ phụng sự Phật pháp bậc Ưu bà tắc là ông Ngô Thời Trung, tự Phúc Toàn, cùng bà tín ni (vãi) phụng sự Phật pháp bậc Ưu bà tắc Trần Thị Kiên, hiệu Từ Minh, con trai là Ngô Thời Danh, Ngô Thời Văn, Ngô Thời Anh, Ngô Thời Nhự, Ngô Thị Khoáng. Con dâu Phùng Thị Lượng, Trần Thị Hạo, Nguyễn Thị Hương, Hoàng Bính. Cháu Ngô Văn Đế, Ngô Thời Đắc, Ngô Thời Năng, Ngô Bật, Ngô Thuyên, Ngô Thị Kỳ, Ngô Thị Tý, Ngô Thị Phi, Ngô Thị Chử, Hoàng Thị Đã, Hoàng Khải.
Ngày tốt, đầu mùa thu, tháng bảy, niên hiệu Vĩnh Trị thứ ba (1678).
Thợ khắc đá ở cục Ngọc Thạch xã An Việt, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An khắc.
Sinh đồ Nguyễn Khắc Minh hiệu Tư Đông Vân Nhân
Ông Sỹ Chính ở xã là Nguyễn Đình Sản viết.
Mặt 2:
Xã Cẩm Bào, huyện Hiệp Hòa, phủ Bắc Hà, đạo Kinh Bắc, nước Đại Việt.
Ông phủ sỹ Ngô Thời Trung, tự Phúc Toàn, vợ Trần Thị Kiên hiệu Từ Minh vì có sự hưng công làm bia, gác chuông mà kê tên tuổi các vị ở các xã dưới đây.
Xã Cẩm Bào có: Viên quan Phạm Đình Liêu tước Tuyên Vũ bá giữ chức Vương phủ Thị nội giám, Tư lễ giám, Đồng tri giám sự cùng các ông: Nguyễn Đình Trụ, Ngô Thời Cao, Nguyễn Quang Minh, Nguyễn Đình An, Nguyễn Cao, Phùng Ngôn, Ngô Lục, Ngô Quần, Ngô Hậu Điều, Hoàng Đình Lương, Hoàng Đình Lâm, Nguyễn Nhật Khải, Hoàng Dĩ Thành, Hoàng Tự, Phùng Viết Phúc, Đỗ Trường Sinh, Ngô Tự Thời, Nguyễn Xuân.
Xã Xuân Biều, xã Mai Phong, xã Tú Chung; thôn Chí Linh, xã Mậu Lâm, Huyện Thần Khê, Phủ Tiên Hưng.
Vương phủ Thị nội cung, khoan bảo Nguyễn Thị Trọng hiệu Diệu Âm, Nguyễn Thị Trị hiệu Diệu Bình.
Ở xã Xuân Biều có: Vũ Thị Giao hiệu Từ Nhân, Vũ Đồng Danh tự Pháp Vinh.
Phó Vương phủ Thị nội cung, khoan bảo Nguyễn Thị Tích nay đổi là Phạm Thị Tích.
Hội chủ Ngô Thị Đạt hiệu Từ Thông. Con trai Nguyễn Công Thiêm, Nhĩ Dương Vương tử Đỗ Thị Tạo, nam Ngô Trị.
Hội chủ Phùng Thị Linh hiệu Từ Hiền. Hội chủ hiệu Đạt… vợ Phùng Thị Khoa, hội chủ Nguyễn Đình Khải, vợ Nguyễn Thị Nhạc, hội chủ Ngô Thị Đài. Con Ngô Lương. Hội chủ Ngô Thị Kính, hội chủ Ngô Thị Đào hiệu Từ Thanh, hội chủ Ngô Thị Tiêu. Con trai Hoàng Niệm. Công đức Nguyễn Thị Phú, Nguyễn Thị Chuyền, con Ngô Chung. Nguyễn Bách Tích tự Đạo Minh, Nguyễn Hữu Đức, An Phú hào Nguyễn Quang Bút tự Phúc Lộc. Trần Đức Minh tự Đức Ân. Ngô Bình, Nguyễn Sử, Nguyễn Tín, Hội chủ kỳ ngải Kiêm tri phủ sỹ, Ngô Văn Lý tự Phúc Nhị vợ Ngô Thị Quý. Công đức Lê Thị Thống, Ngô Thị Đặc. Hội chủ kỳ ngài Kiêm tri phủ sĩ Ngô Văn Minh tự Phúc Vạn. Ngô Thị Tiến. Hội chủ Ngô Thị Tân, con trai Ngô Hữu Danh.
Xã Trung Định có hội chủ Đỗ Thị Liên hiệu Vạn Phúc. Con trai Đỗ Văn Hoằng. Hội chủ Đỗ Văn Phú, vợ Vũ Thị Anh, Nguyễn Thị Miên hiệu Phúc Đăng.
Xã Quán Đạo có người công đức Tạ Đình Cập tự Khánh Duyên, Tạ Đình tự Huệ Tính vợ Ngô Thị Sắc, hiệu Từ Tường, Ngô Thị Kiêm tự Từ Hiền. Nhân phủ Đỗ Văn Phương tự Tường Hiền, tín ny Ngô Thị Phong hiệu Từ Hữu.
Ngày tốt, tháng đầu mùa thu (tháng 7) năm Mậu Ngọ triều vua Lê.
Phủ sĩ Hoàng Đình Tú tự Phúc Khê, tiểu tăng Nguyễn Tuyên Tiến tự Đức Phú.
Thông qua những tư liệu Hán Nôm còn lưu giữ trên bia đá chùa Diên Quang cho ta biết thêm những tư liệu quý giá về lịch sử xây dựng chùa, về các địa danh lịch sử, về cảnh quan đẹp đẽ của ngôi chùa cổ nằm ven dòng sông Cầu. Cụ thể, vào thời Lê thế kỷ XVII chùa Diên Quang đã được xây dựng trên phần đất của xã Cẩm Bào, tổng Cẩm Bào, huyện Hiệp Hòa, phủ Bắc Hà, xứ Kinh Bắc với quy mô rộng lớn. Ngôi chùa này có phong cảnh đẹp như cảnh xuân, phía trước có dòng sông làm minh đường, phía sau lại có núi cao làm huyền vũ. Bên phải, bên trái có tay long, tay hổ đối nhau bao bọc, thật là nơi phong cảnh có tình. Nơi hội tụ được những linh khí tốt đẹp của trời đất ban tặng. Nhưng do lâu ngày nên chùa Phật bị hư dột đổ nát, vào năm Giáp Dần (1664) ông Phủ sĩ Ngô Thời Trung, tên chữ là Phúc Toàn, vợ là bà Trần Thị Kiên, hiệu là Từ Minh có lòng tốt đã cùng các quan viên, mọi người trên dưới và các cụ, các vãi cùng nhau hưng công làm tòa tiền đường đẹp đẽ tố hảo. Đến năm Ất Mão (1665), ông lại đem tiền của nhà mua đồng mời thợ đúc quả chuông lớn để truyền phát điều vui. Đến năm Đinh Tỵ (1667) tháng 9 tức trải ba thu lại làm một tòa gác chuông.
Dựa vào nguồn tư liệu quý trên văn bia còn giúp ta hiểu thêm về truyền thống văn hóa, truyền thống lịch sử vẻ vang của vùng đất Xuân Cẩm - Cẩm Bào nơi sản sinh ra nhiều bậc nhân tài tuấn kiệt cho vùng đất Kinh Bắc. Ngày nay, tên tuổi và công trạng của những vị quan này đều được lưu danh trong sử sách, điển hình như: Viên quan Phạm Đình Liêu tước Tuyên Vũ bá giữ chức Vương phủ Thị nội giám, Tư lễ giám, Đồng tri giám sự. Phủ sĩ Ngô Thời Trung. Phó Vương phủ Thị nội cung, khoan bảo Nguyễn Thị Tích. Vương phủ Thị nội cung, khoan bảo Nguyễn Thị Trọng hiệu Diệu Âm… cùng nhiều người tài giỏi trong dòng họ Ngô, họ Hoàng, họ Nguyễn là những dòng họ lớn ở đất Cẩm Bào. Đồng thời, những tấm bia đá, cây hương, câu đối, hoành phi… còn lại ở chùa Diên Quang chính là những di sản văn hóa vật thể, những trang sử vô cùng quý giá góp phần làm giàu thêm cho kho tàng di sản văn hóa Bắc Giang nói riêng và cả nước ta nói chung./.
Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.14-24