10. Gia đình ông án sát thôn Quan Nhân (TBHNH 2000)
GIA ĐÌNH ÔNG ÁN SÁT THÔN QUAN NHÂN
LÊ VĂN DẬU
Quốc triều Hương khoa lục của Cao Xuân Dục là một tác phẩm ghi chép khó chính xác và có hệ thống về toàn bộ 47 khoa thi Hương thời Nguyễn với hơn 5000 người đỗ cử nhân ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX. Song do đây là công trình được biên soạn qua nhiều năm và bởi nhiều người với một dung lượng lớn như vậy nên khó tránh khỏi một số sai sót về nhân danh, địa danh.
Chẳng hạn như trường hợp của Lê Trần Hoán, trong Quốc triều Hương khoa lục ghi:
“Lê Trần Hoán (cha con cùng đậu) người xã Nhân Mục huyện Thanh Oai. Cha Lê Sĩ Trinh làm quan tới chức Án sát”.
Đó là khoa thi (Ân khoa) năm Tân Tỵ, Minh Mạng 2 (1821) Lê Trần Hoán đỗ cử nhân tại trường thi Sơn Nam.
Thực ra Lê Trần Hoán là Trần Lê Hoán. Theo như gia phả của dòng họ Lê ở thôn Quan Nhân, xã Nhân Mục Môn, tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là phố Quan Nhân, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội) thì ông nội của Trần Lê Hoán là Lê Vinh (hậu duệ đời thứ 17 của Lê Lai ở Thanh Hoá) thi võ trúng cách, làm đến Chỉ huy sứ, được phong Trì uy Tướng quân, coi quân trong Vương phủ. Lê Vinh thấy đất thôn Quan Nhân đẹp có thể phát văn phát võ, liền đem hài cốt của cha mẹ từ Thanh Hoá ra táng ở Quan Nhân, sau thấy người anh rể là quan Thiếu bảo họ Trần ở trong thôn mãi chưa có con nối dõi, bèn cho Lê Khuông là con trai thứ 3 làm con nuôi họ Trần. Tuy lấy họ Trần nhưng Lê Khuông (cha của Trần Lê Hoán) không bỏ họ nhà, mà dùng họ kép Trần Lê và nhập tịch ở thôn Quan Nhân.
Trần Lê Hoán (là con cả của Lê Khuông) tự là Hồi Văn, hiệu là Bảo Xuyên, đỗ cử nhân khoa Tân Tỵ, Minh Mạng 2, năm 34 tuổi. Trước khi đỗ, ông Hoán làm Đề lại ở tỉnh, ngày làm việc quan, tối vẫn luyện tập văn chương. Năm ấy có khoa thi, quan tỉnh cắt ông đi tỉnh xa, ông mượn bạn làm thay còn mình thì nộp quyển đi thi, ở nhà không ai hay biết gì đến khi đỗ mới đưa tin về cho gia đình.
Sau khi đỗ một năm (1822) ông được sang Hành tẩu bộ Hộ đi sơ khảo trường Thừa Thiên và trường Bắc Thành.
Năm 1827 dự trúng Hành Khiển, làm Hậu bổ tỉnh Quảng Bình, quyền Tri huyện Lệ Thuỷ.
Năm 1829 đi phúc khảo trường Thừa Thiên rồi được thăng Chủ sự bộ Hộ, Thư Viên ngoại lang và được cử vào cung dạy Thái tử (tức vua Thiệu Trị sau này).
Năm 1830 thăng Lang trung bộ Hộ.
Năm 1831 ở miền Bắc đã đổi trấn làm tỉnh, chức Tham hiệp đã được thay bằng Bố chính, Án sát.
Năm 1833 làm Án sát rồi Tuần phủ Ninh Bình.
Năm 1834 vì cớ trong tỉnh có Quách Tất Công theo Lê Duy Lương làm phản, ông bị giáng đi hiệu lực chuộc tội.
Năm 1837 được phục hàm Bát phẩm và bổ làm Giáo thụ Kiến Xương và quyền Tri phủ Nghĩa Hưng.
Năm 1839 vâng thượng dụ về kinh xét dụng.
Năm 1840 thăng Đốc học tỉnh Biên Hoà.
Năm 1841 làm Viên ngoại lang bộ Hộ.
Khi Thiệu Trị lên ngôi (1841) ông được thăng Thự Lang trung, được sung Bồi tự giao tế, quyền Án sát tỉnh Nam Định, rồi quyền Tổng đốc Nam Định.
Năm Thiệu Trị thứ 2 (do phá được án mất của trong kho triều đình đã lâu không điều tra được), ông được khen và hỏi nguyên do vì sao đã họ Trần lại họ Lê. Vua cho đổi về họ Lê và ban cho tên là Phác, đổi tự là Hồi Thân, rồi phong cho mà quyền chưởng Bố chánh, quyền chưởng Tổng đốc Định An(1).
Năm 1843 ông Hoán phải tra xét con quan Bố chánh là Trần Quang Tiến ăn của hối lộ. Triều đình khép tội khiến ông phải đi quân thứ để chuộc lỗi.
Sau 3 năm với năm lần sang Cao Miên xin bãi binh thành công, ông mới được về phục hàm Tư vụ bộ Hộ và xin cáo quan về quê. Năm 1848 ông Hoán mở tiệc mừng thọ mẹ, xây nhà thờ dòng họ và vui vầy cùng con cháu. Suốt 10 năm, triều đình nhiều lần đòi ra làm quan nhưng ông đều từ chối. Sau ông mất vào giờ Ngọ ngày 3-6 năm Đinh Tỵ (1857) hưởng thọ 69 tuổi.
Ông Án sát thật tài giỏi và đức độ mà sao con đường làm quan của ông vẫn không tránh khỏi sự cực nhọc nổi chìm.
Lê Phác sinh được 9 con trai, 1 con gái. Con cả Thế Tuấn đỗ Tú tài năm 1805. Con thứ ba là Sĩ Trinh, cử nhân khoa Nhâm Tý 1852, là Nam Hiếu ty Thừa biện bộ Hình, Huấn đạo huyện Tiên Lữ, huyện Thanh Hà, kiêm nhiếp Trị huyện Tiên Lãng, quyền thông phán ty Niết (tức ty Án sát) những phủ huyện trên.
Con trai thứ 5 Sĩ Uyển, đăng sĩ Tá lang, Điển ti sách tịch Hậu dũng cơ tỉnh Sơn Tây.
Con trai thứ 7 là Sĩ Phong đỗ Tú tài khoa Đinh Mão (1867) khoa Canh Ngọ (1870) và đỗ Tú tài khoa Giáp Tuất (1874) sau làm Thông phán tỉnh Thái Nguyên.
Con trai thứ 8 là Sĩ Dĩnh được hàm Cửu phẩm Văn giai.
Thị My là con thứ 6 được gả cho Nguyễn Tuyên (người xã Côi Trì tổng Yên Mô, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình). Nguyên khi ông Hoán làm Án sát, ra văn cho học trò tập, thấy Tuyên văn hay, chắc về sau sẽ làm nên bèn gả Thị My cho. Khi cưới, thấy chồng nghèo, đến nhà vợ chỉ thấy thắt lưng bằng chổi, không có đồ lễ, cô My có ý coi thường, không ưng thuận. Ông Hoán liền sai bắt con ngỗng ở nhà ra làm lễ rồi chôn chân cô con gái rượu mà đánh. Sau này quả Nguyễn Tuyên đỗ phó bảng khoa Kỷ Dậu, triều Tự Đức (1849) làm Thị giảng học sĩ, Án sát Hải Dương. Vì vậy Nguyễn Tuyên rất yêu quí và biết ơn bố vợ. Khi ông Hoán mất, Nguyễn Tuyên đem về 10 con trâu bò để làm ma.
Lê Sĩ Tiên là cháu nội Hoán và là con trai của Lê Sĩ Trinh. Sĩ Tiên đỗ cứ nhân khoa Giáp Thân, niên hiệu Kiến Phúc thứ nhất (1884) tại trường thi Hà Nội – Nam Định, được bổ làm Tri huyện huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc.
Anh em con chú con bác (chứ không phải 2 anh em ruột như Quốc triều đã ghi) với Lê Sĩ Tiên là Lê Doãn Thăng đỗ cử nhân khoa Bính Tý niên hiệu Tự Đức 29 (1876) ở trường thi Hà Nội (đứng thứ 5 trên 25 người lấy đỗ) rồi được bổ làm Tri phủ phủ Hoài Đức.
Vì cha con, ông cháu, chú bác, anh em nối nhau đỗ đạt làm quan, nên gia đình ông Hoán được Hội Tư văn làng tặng đôi câu đối:
“Thúc bá, đệ huynh bản sinh đa sĩ
Tổ phụ, tử tôn thế xuất anh hùng”
(Chú bác, anh em vốn sinh tài giỏi
Ông cha, con cháu nối tiếp anh hùng)
Song không rõ vì nguyên nhân gì mà Quốc triều Hương khoa lục không chú thích Lê Sĩ Tiên là con Lê Sĩ Trinh. Vì vậy trường hợp “Thế khoa” (đỗ đạt từ ba đời trở lên) không được ghi nhận đối với gia đình ông Hoán: ông (Lê Hoán), cha (Lê Sĩ Trinh), con (Lê Sĩ Tiên).
Người viết cũng nhân góp một vài đính chính nhỏ mà giới thiệu về một trong vô vàn những gương mặt nho sĩ Việt Nam ít được biết đến, nhưng sự nghiệp cũng không kém vẻ vang, phẩm hạnh cũng đáng để cho con cháu ngưỡng mộ, tự hào.
Chú thích:
(1) Chức đứng đầu liên tỉnh Nam Định – Hưng Yên (Định An) thời Nguyễn từ năm 1832 trở về sau.
Thông báo Hán Nôm học 2000, tr.91-95