10 Hương ước xã Thái Cần tổng Yên Lãng, châu Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ (TBHNH 2001)
HƯƠNG ƯỚC XÃ THÁI CẦN TỔNG YÊN LÃNG,
CHÂU THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ
Giám đốc Bảo tàng Phú Thọ
Cuốn hương ước xã Thái Cần - tổng Yên Lãng - châu Thanh Sơn - tỉnh Phú Thọ. Được viết bằng chữ Nôm trên giấy dó: bao gồm 17 trang trong đó có 14 điều lệ, ghi rõ các phong tục tập quán của người Mường ở châu Thanh Sơn như: Ngôi thứ, tuần phòng, điền thổ, tế tự, hiếu hỉ... tất cả đều được ghi trong hương ước với nội dung như sau:
Chúng tôi là tiên thứ chỉ, lý dịch làng Thái Cần - tổng Yên Lãng xin làm sổ hương ước đệ trình quan như sau:
Nơi duyên dân chúng tôi là dân Mường, từ xưa đến nay theo tục Mường, chỉ có khẩu truyền mà thôi, không có minh văn gì cả. Tuân sức, cứ theo dân tục hiện thời nay xin kể, sau này làm thành bốn bản ký kết đệ trình quan xét, bẩm thưa duyệt y để được tuân hành.
Một là: Việc quản trị trong làng:
- Làng chúng tôi có bốn giáp: Giáp Trầm, giáp Lưa, giáp Cam, giáp Chủng.
Việc quản trị quyền do tiên, thứ chỉ, lý phó trưởng thủ bạ, thổ lang các xóm, các giáp, các chức dịch bàn việc quan và các việc công trong làng.
Hai là: Tiền thường thu:
- Thu tiền bán ngôi thứ: Ngôi xã sử mười lăm đồng, Ngôi quản xã ba mươi đồng, Ngôi giám thủ hai mươi lăm đồng, Ngôi phó lý Quyên mười lăm đồng, Lý trưởng Quyên hai mươi đồng.
* Thu tiền tán khao...
Ba là: Tiền thường chi:
Chi tiền tế tự và chi tiền lý dịch đi hầu quan, chi các khoản tiền quyên, tiền tương tế, cứu tế, tiền kiến trúc, tiền sửa sang từ miếu đến đình.
Khi nào cần đến việc chi, thì dân mới họp trích trong khoản tiền thu ra mà chi công việc, chi hết bao nhiêu do toàn dân thoả thuận.
Bốn là: Việc bổ thuế:
Khi lý trưởng tiếp quan nhận bài chỉ phải về họp cùng tiên thứ chỉ, phó lý, thủ bạ, các thổ lang, các giáp đến họp bổ thẻ bài chỉ, chiếu bổ cho gia ốc, một nửa quân bổ cho tiền, một nửa bổ về làm thành hai bản. Sổ bộ đệ trình thừa sao, phó giao các xã sử, các trùm giáp thì chiếu thu kịp hạn giao lý trưởng đệ nộp, nếu giáp nào thiếu thì cứ giáp ấy phải bồi.
Năm là: Việc tuần phòng:
Trong làng có một điếm ở đầu làng, có trương tuần trông nom, phu canh phòng ngày đêm ở điếm, biên sổ những người lạ mặt, Lý, phó trưởng đốc việc canh phòng - phụ canh chiếu lệ cắt lần lượt giai dân, còn mỗi giáp phải riêng một điếm canh nhỡ, số phụ canh ấy tuỳ trong giáp cắt ra để canh phòng cho sang dân trong giáp được minh thiếp làm ăn.
Sáu là: Việc đường xá:
Các đường đi lối lại trong làng và đường quan lộ thuộc phần giáp nào, cầu đường giáp ấy phải sửa đắp.
Bẩy là: Việc điền thổ:
Làng không có ruộng tư, toàn ruộng đất công. Từ tổ tiên đời trước đã chia cho gia ốc ấy mà gánh chịu sưu thuế. Nếu gia ốc nào không gánh, nhỡ sau thuế thì thổ lang giáp ấy phải trình ngay lý trưởng để sau cấp cho người khác nhận ruộng cày cấy, gánh chịu sưu thuế. Số ruộng làng tôi chỉ được cầm thuê lẫn cho nhau, không được phép bán đoạn.
Tám là: Việc tế tự:
Làng chúng tôi không có đền công, chỉ nguyên có bốn ngôi đền phụng sự thần bản thổ, về giáp nào thì giáp ấy cúng tế riêng. Mỗi năm có ba tiệc kỳ, tuỳ trong giáp làm lễ để cúng. Nếu năm nào phong thu có giáp mổ được trâu bò, lễ thành phải biếu chức dịch đương thứ trong dân. Còn tế lợn hoặc gà lễ thường thì không phải kính biếu gì cả, nguyên trong giáp, tế tất thụ lộc mà thôi.
Việc tế trong một năm: về công dân có 4 lễ, tế văn, võ đàn, cứ lệ theo hàng châu, quân bổ dân xã trích tiền công chi vào việc tế ấy.
Chín là: Lệ cheo nhiêu:
Giai làng lấy gái làng, thuộc giáp nào thì giáp ấy thu tiền cheo là hai đồng và sáu mươi lá trầu, sáu mươi quả cau. Còn gái làng mà lấy con giai làng khác, thì nhà giai phải nộp cheo theo về giáp là ba đồng, số tiền cheo ấy đều là của công hàng giáp, chứ làng không có trích ra. Duy chỉ hai bên lấy nhau phải có trầu trình lý trưởng và thủ bạ để vào sổ giá thú.
Mười là: Lệ hoang thai:
Giai gái thông gian hoang thai, phải nộp lệ có ba hạng:
- Một là: thông gian mà phạm vào luân lý thì bên giai phải nộp lệ vạ cho làng số tiền là hai mươi đồng, bên gái phải nộp lệ vạ là 15 đồng.
Việc thông gian phạm đến luân lý như là: Phạm luật thì phải bắt giải quan xét.
- Hai là: bên con nhà đàn anh, hoặc khá giả mà thông gian hoang thai thì bên giai nộp vạ mười đồng, bên gái nộp vạ sáu đồng.
- Ba là: con đinh nghèo đói, dân xét lượng không phạm đến luân lý thì cho lấy nhau, chỉ phải nộp vạ số tiền mỗi bên hai đồng.
Việc hoang thai này, cứ thổ lang các xóm xét ra phải trình lý phó trưởng để trừng giới và bắt nhận lệ, tiền khoán lệ phải để công chi.
- Số tiền lệ hoang thai từ xưa đến nay, ai làm chức dịch đương thứ thì được chia số tiền ấy tiêu riêng chứ dân không để vào khoản tiền công dân, tiền khoán lệ phải để công chi.
Mười một là: Lệ hiếu:
Nhà ai bất hạnh có người chết, con cháu phải đến trình lý, phó trưởng, thủ bạ xin phép lý táng. Nếu nhà hiếu chủ khá giả muốn làm ma mời dân, mời giáp thì cũng tuỳ lòng nhà hiếu, nếu nghèo khổ thì xin phép lý táng, chứ dân không bắt lệ tục gì cả.
Mười hai là: Ngôi thứ:
Ngôi thứ trong làng khi nào có ăn uống, công dân hoặc đình đám, hiếu hỷ, thì tiên thứ chỉ, lý trưởng đương cựu thì ngồi hàng thứ nhất.
Phó lý, thủ bạn đương cựu và những người già lão ngoài 60 tuổi ngồi hàng thứ hai.
Các hàng thổ lang, lý phó trưởng quyên, giám thủ, tuần quản xã, xã sử cùng ngồi hàng thứ hai, còn dân đinh thì ngồi dưới.
Mười ba là: Khẩu hiệu:
Phàm có việc gì gọi đến, mỗi việc, thì có hiệu trống, gọi ở đâu cũng phải đến, còn khi nào có hiệu trống động liên thanh thì hết thảy trong làng đều phải nghe tiếng trống động mà đến, trừ người già yếu tàn tật, còn thì đều phải ra hết để phòng sự cứu giúp, sự cứu hoả hoạn hoặc ẩn đi chốn, nếu khi ấy mà vắng mặt, làng xét ra quả là lánh mặt không đến cứu giúp, chiếu điều lệ phạt từ năm hào đến một đồng.
Mười bốn là: Điều lệ chung:
Trong làng hoặc có đình đám, hoặc hiếu hỷ mà muốn bày ra ăn uống linh đình phải trình lý dịch chứng thực, xin phép quan y cho mới được cúng tiệc. Nếu không cho phép mà bày ra thì làng sẽ chiếu điều phép trong hương ước định phạt. Nếu không nghe theo sẽ trình quan xét xử.
Bảo đại thất niên, thất nguyệt nhị thập cửu nhật
(Ngày 29 tháng 7 năm Bảo Đại thứ 7 - 1932)
Tiên chỉ: Đinh Văn Định. Thứ Chỉ: Đinh Văn Huân. Thổ Lang: Đinh Văn Tửu. Thổ lang: Đinh Văn Tiền. Thổ lang: Đinh Văn Khắc. Trùm xóm: Ngọc Văn Trần. Trùm xóm: Đinh Văn Tuyến. Trùm xóm: Đinh Văn Truyền. Trùm xóm: Ngọc Văn Sản. Phó lý: Đinh Văn Hậu. Thủ bạ: Đinh Văn Son. Lý trưởng: Đinh Văn Tý.
Thông báo Hán Nôm học 2001, tr.66-71