VI | EN
10. Những bản dịch thơ Đường của Tú Xương (TBHNH 2006)
tb2006

NHÀ THƠ TÚ XƯƠNG CÒN LÀ MỘT DỊCH GIẢ

NGUYỄN XUÂN DIỆN

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

1. Theo khảo sát của chúng tôi, kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm có 6 tập thơ dịch Nôm thơ Đường, chép 332 bài thơ dịch. Trong số này, có 54 bài trùng giữa hai bản thành ra có thể nói chỉ có 278 bản dịch từ 223 bài thơ Đường của 86 tác giả nguyên tác (không kể đến 9 bài hiện chưa rõ tác giả nguyên tác).

Trong 6 tập này, chúng ta biết có 3 dịch giả có tên. Đó là Tú Xương (Trần Tế Xương)(1), Dương Lâm(2) và Đông Sơn cư sĩ. Riêng với Đông Sơn cư sĩ, chúng tôi chưa rõ tiểu sử(3). Ở 3 dịch giả mà chúng ta biết tên, Tú Xương dịch nhiều nhất, với 81 bài, chiếm 29.1% trong tổng số 278 bài; Dương Lâm dịch 12 bài, chiếm 4.3 % và Đông Sơn cư sĩ dịch 54 bài, chiếm 19.4 %. Ngoài những người dịch mà chúng ta biết tên nêu trên, số bài của người dịch khuyết danh có đến 131 bài, chiếm 47.1 % tổng số 278 bài.

2. Tú Xương, tên thật là Trần Tế Xương (sau đi thi đổi là Trần Cao Xương), tự Tử Thịnh, sinh năm 1870 mất năm 1907. Ông người làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Trần Tế Xương là nhà thơ trào phúng Việt Nam. “Về phương diện nghệ thuật, Tú Xương là một nhà thơ có những cống hiến quan trọng. Lần đầu trong lịch sử văn học, ông đã từ bỏ những hình thức ước lệ, tượng trưng, công thức, quy phạm trong khi phản ánh cuộc sống của nghệ thuật phong kiến, đã cố gắng phản ánh cuộc sống bằng hình thức của chính cuộc sống, phong phú, đa dạng, phức tạp. Tú Xương cũng là nhà thơ đã đi sâu được vào ngôn ngữ hàng ngày, nâng lên thành ngôn ngữ nghệ thuật với tất cả vẻ đẹp của nó. Ông đã thành công cả trong nghệ thuật trữ tình lẫn trong nghệ thuật trào phúng, nổi bật hơn là nghệ thuật trào phúng” (Nguyễn Lộc, Từ điển Văn học, Bộ mới, Nxb. Thế giới. H. 2004. tr.1804)

Lâu nay, chúng ta biết Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu là một dịch giả có nhiều bản dịch thơ Đường nhất tính suốt thời trung đại và cận đại. Trong cuốn Thơ Đường, do ông dịch, được Nguyễn Quảng Tuân tập hợp, có 84 bài dịch thơ Đường. Nhưng xin được nêu ở đây về điểm khác giữa việc dịch của Tản Đà và Tú Xương là trong khi Tản Đà dịch Đường thi sang chữ quốc ngữ để in đăng báo, thì Tú Xương chuyển sang chữ Nôm, thể hiện bằng chữ Nôm.

Trong lần khảo sát này, chúng tôi phát hiện Tú Xương, một nhà thơ trào phúng nổi tiếng cũng là một dịch giả có số lượng bài dịch là 81 bài, trong đó có 71 bài được dịch ra thể thơ thất ngôn bát cú, 10 bài dịch ra thể ngũ ngôn cổ phong với một phong cách rất riêng của ông. Tất cả được chép trong Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm(AB.194); sách viết tay, đóng chung trong tập thơ Vị thành giai cú tập biên dày 410 trang, khổ 29x20cm. Tài liệu ghi rõ “Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm bát thập tam thủ; Vị Thành Tú tài Trần Cao Xương Tử Thịnh diễn tập”. Phần dịch thơ gồm 81 bài được trình bày từ trang 29a đến trang 60a: tên bài thơ, tác giả, nguyên tác chữ Hán, bài dịch (không dịch tên bài).

Dưới đây là các bài dịch của Tú Xương:

1. Dịch các bài thơ của Đỗ Phủ gồm: Bộ chư quý công tử Trượng Bát câu huề kỹ hương vãn tế ngộ vũ, Tần Châu tạp vịnh, Đăng Duyện châu thành lâu, Xuân nhật hoài Lý Bạch, Nguyệt, Sơ nguyệt, Bát nguyệt thập ngũ dạ nguyệt, Thập lục dạ ngoạn nguyệt, Thập thất dạ đối nguyệt, Đảo y, Lạc nhật, Hiểu vọng, Dã vọng, Đăng Nhạc Dương lâu, Chu trung dạ tuyết hữu hoài Lô Tử, Đối tuyết, Vãn tình, Xuân dạ hỷ vũ, Huỳnh hỏa, Động phòng, Cầm đài (cộng 21 bài).

2. Dịch thơ của Lý Bạch: Tạ Công đình, Cung trung hành lạc (3 bài), Thu tứ, Kim Lăng, Khẩu hiệu tặng Trưng quân Lư Hồng công thì bị triệu, Tặng tiền trưng quân Thiếu Dương, Tặng Mạnh Hạo Nhiên, Giang hạ biệt Tống Chi đễ, Độ Kinh Môn tống biệt, Tống hữu nhân, Tầm Ung Tôn sư ẩn cư, Phỏng đái thiên tiên đạo sĩ bất ngộ, Quá thôi Bát Trượng thủy đình (cộng 13 bài).

3. Dịch thơ của Mạnh Hạo Nhiên: Động Đình, Dữ chư công tử đăng Nghiễn Sơn, Quy Chung Nam sơn, Chu trung hiểu vọng, Đề nghĩa công thiền phòng, Dạ độ Tương thủy (cộng 6 bài).

4. Dịch thơ của Vương Duy: Đề Chung Nam Sơn, Sơn cư thu minh, Quy Tung Sơn tác, Chung Sơn biệt nghiệp, Quá Hương Tích tự (cộng 5 bài)

5. Dịch thơ của Đỗ Thẩm Ngôn: Bồng Lai tam điện thị yến phụng sắc vịnh Chung Nam sơn, Thu dạ yến lâm tân Trịnh Minh phủ trạch, Hạ nhật quá Thất Sơn trại, Họa Tấn Lăng Lục Thừa tướng tảo xuân du vọng, Họa Khang Ngũ vọng nguyệt hữu hoài (cộng 5 bài)

6. Dịch thơ của các tác giả: Sầm Tham, Thẩm Thuyên Kỳ, Tống Chi Vấn, Trần Tử Ngang, Vượng Bột, mỗi người 2 bài.

7. Dịch thơ của các tác giả: Bạch Cư Dị, Cao Thích, Dương Quýnh, Lạc Tân Vương, Lưu Trường Khanh, Lý Kỳ, Lý Xương Phù, Nhạc Vị, Tạ Diểu, Tái Kính Trung, Thường Kiến, Tiền Khởi, Tổ Vịnh, Trương Quân, Trương Vi, Tư Không Thự, Vi Ứng Vật, Vu Lương Sử, Vương Loan, Vương Tích và một tác giả hiện chưa xác định được tên, mỗi tác giả 1 bài.

Trong suốt tập thơ dịch, Tú Xương đã dịch thơ Đường với một phong cách rất riêng của ông. Bút pháp trào lộng, hóm hỉnh của Tú Xương trong phong cách thơ ông xuất hiện cả trong những bài thơ dịch, tạo nên nét riêng rất đáng chú ý. Về từ ngữ, ông đã sử dụng cả những từ vốn được ông dùng trong thơ sáng tác để dùng trong bản dịch, khiến cho tác phẩm dịch của ông như một sáng tạo mới. Đó là nét đặc sắc của Tú Xương trong thơ dịch. Điều này góp phần khẳng định chân dung một dịch giả trong văn học Việt Nam. Và vị trí của ông, với tư cách là một dịch giả cần được khẳng định.

3. Với việc dịch thơ Đường, Tú Xương đã đóng góp vào lịch sử văn học Việt Nam như một dịch giả có phong cách độc đáo, đưa được những từ ngữ đời thường đầy hóm hỉnh vào bản dịch một cách nhuần nhuyễn, tạo nên một bản dịch hoàn toàn có thể có một đời sống độc lập bên cạnh nguyên tác.

 

XIN GIỚI THIỆU MỘT CHÙM BÀI DỊCH CỦA TÚ XƯƠNG

1. Dã vọng - Vương Tích

Bóng lộn ngàn cao buổi tối mòng

Một mình chưa dễ đứng ngồi xong

Cây lồng sắc chiếu màu thu tía

Non ánh tà dương lộng vẻ hồng

Trẻ mục giục trâu lùa cái nghé

Người săn cưỡi ngựa xách con hồng

Cùng trông lại biết ai hay tá?

Tưởng hái rau vi những ngại ngùng

2. Thánh Tuyền yến - Vương Bột

Phất phơ tràng áo bước lên non

Ngoảnh lại bên đình lạch suối con

Bầu sánh cúc pha ba chén cạn

Vần lơi tùng thét mấy cung dồn

Lơ thơ bóng rủ ngoài cành lọn

Ngào ngạt hoa bay trước gió tuôn

Rừng vắng tà tà say ngắm cảnh

Lô xô len đá khói đùn đùn

3. Sơ nguyệt - Đỗ Phủ

Nửa vành vừa hé mái cung lên

Một bánh xe trông chửa vẹn tuyền

Thấp thoáng đầu cành trên bể ló

Lô nhô ban tối áng mây ken

Chắn ngang luống để sông Ngân trắng

Hiu hắt vì ai mặt ải đen

Trăm mối bên lòng càng áy náy

Dãy thềm chòm cúc giọt sương hoen

4. Đảo y - Đỗ Phủ

Gần thu miếng đá gượng lau rồi

Cũng biết chàng nay việc chửa rồi

Áo kép chờ nay ba tháng lạnh

Chăn đơn chực đó mấy năm trời

Nghề riêng dám trễ tay canh cửi

Của chút làm ghi dạ một hai

Chăm chỉ buồng thêu đà hết sức

Tiếng chày văng vẳng thấy chăng ai

5. Đăng Nhạc Dương lâu - Đỗ Phủ

Mấy cảnh Tiêu Tương vẫn tiếng đồn

Lầu đây hồ đấy trải bao còn

Chia ra Ngô Sở chiều ngang dọc

Chốt lại càn khôn thỏa nước non

Một chữ thân bằng tin nhạn vắng

Nghìn trùng quan tái chiếc thuyền con

Xa xa cõi bắc lầm phong hỏa

Thăm thẳm Trường An mắt đã mòn

Chú thích:

(1) Tú Xương, tên thật là Trần Tế Xương (sau đi thi đổi là Trần Cao Xương ), tự Tử Thịnh, sinh năm 1870 mất năm 1907. Ông người làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Trần Tế Xương là nhà thơ trào phúng Việt Nam.

(2) Dương Lâm, tự Vân Hồ, Thu Nguyên, Mộng Thạch, hiệu Quất Đình, Quất Tẩu, người làng Vân Đình, huyện Sơn Minh, tỉnh Hà Đông, nay là huyện Ứng Hòa, Hà Tây. Sinh năm 1851 mất năm 1920. Ông là nhà thơ, từng là Chủ bút báo Đại Nam đồng văn nhật báo, và giữ chức Phó Tổng tài Quốc sử quán, hàm Thượng thư. Dương Lâm còn là một nhà giáo có tài và có tâm huyết đối với nền giáo dục nước nhà.

(3) Đông Sơn cư sĩ: Hiện chưa rõ tiểu sử./.

Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.120-125)

Nguyễn Xuân Diện
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm