10. Thư tịch Hán Nôm trên địa bàn Kinh đô Văn Lang - Việt Trì - Phú Thọ (TBHNH 2003)
THƯ TỊCH HÁN NÔM TRÊN ĐỊA BÀN KINH ĐÔ
VĂN LANG - VIỆT TRÌ - PHÚ THỌ
VĂN KIM CHUNG
Bảo tàng Phú Thọ
Việt Trì, nơi tụ cư của người Việt cổ, Kinh đô Văn Lang thời Hùng Vương dựng nước. Ngoài chứng tích của các di chỉ khảo cổ học Làng Cả, Đồi Giàm, Gò đến Kinh đô Văn Lang thời đại Hùng Vương ở Việt Trì với hàng trăm di tích như Chùa Hoa Long, Đình Việt Trì, Đình Lâu Thượng, Đền Lương Đài, Đền Tam Giang, Đền Tiên… Tiềm ẩn trong lòng di tích là kho tàng văn hóa cả vật thể, phi vật thể. Tôi xin được nhắc đến một trong số những di sản văn hóa vật thể còn tồn tại trong di tích. Đó là thư tịch cổ Hán - Nôm, với những di vật còn để lại được khắc chữ Hán - Nôm như văn bia, chuhông, khánh, hoành phí, câu đối… có cách chúng ta vài thế kỷ vẫn đang trường tồn cùng năm tháng. Xin được giới thiệu công bố sơ bộ theo từng chất liệu có thư tịch Hán, Nôm trong di tích lịch sử văn hóa ở địa bàn Việt Trì.
1. Tư liệu Hán Nôm trên chất liệu đá trong di tích
Tư liệu Hán Nôm trên đá chủ yếu là những văn bia ở các di tích chùa, phần nhiều là ghi công đức hoặc bia hậu phật. Xin được nêu cụ thể bia có niên đại thời Lê, Nguyễn còn trong các di tích ở Việt Trì.
a.Bia có niên đại thời Lê
- Bia tứ diện (Cây hương đá) ghi việc hưng công xây dựng chùa Hoà Quang thôn Mộ Chu Hạ - phường Bạch Hạc, được lập năm Chính Hòa thứ 4 (1683), niên hiệu của vua Lê Hy Tông.
- Bia tứ diện Đình Mộ Chu Hạ - Phường Bạch Hạc, được lập năm Chính Hoà thứ 5 (1684), niên hiệu của vua Lê Hy Tông.
- Bia hậu phật xã Bảo Quế - Phường Dữu Lâu, lập năm Vĩnh Thịnh thứ 2 (1706), niên hiệu của vua Lê Dụ Tông.
- Bia văn chỉ xã Phượng Lâu, lập năm Vĩnh Thịnh thứ 14 (1718), niên hiệu vua Lê Dụ Tông.
- Bia hậu phật chùa Bảo San (chùa Nhồi) xã Phượng Lâu, lập năm Vĩnh Thịnh thứ 14 (1718), niên hiệu vua Lê Dụ Tông.
- Bia giỗ hậu chùa Bảo San (chùa Nhồi) xã Phượng Lâu, lập năm Vĩnh Thịnh thứ 14 (1718), niên hiệu vua Lê Dụ Tông.
- Bia đặt tượng chùa Bảo San (chùa Nhồi) xã Phượng Lâu, lập năm Bảo Thái thứ 1 (1720), niên hiệu vua Lê Đế Duy Phường.
- Bia Lệ cúng hậu thần Đền Mộ Chu Hạ - Phường Bạch Hạc, lập năm Vĩnh Hựu thứ 2 (1736), niên hiẹu vua Lê ý Tông.
b. Bia có niên đại thời Nguyễn
- Bia ghi công đức Đình tràng Đông - Phường Thanh Miếu, lập năm Duy Tân thứ 3 (1909), niên hiệu vua Nguyễn Duy Tân.
- Bia hậu Phật chùa Thượng Lâm - xã Thụy Vân, lập năm Tự Đức thứ 7 (1854), niên hiệu vua Nguyễn Dực Tông.
- Bia hậu phật chùa Khánh Nguyên - xã Minh Nông, lập năm Duy Tân thứ 2 (1908), niên hiệu của Nguyễn Duy Tân.
- Bia chùa Việt Lâm xã Thụy Vân, lập năm Khải Định thứ 2 (1917), niên hiệu vua Nguyễn Khải Định.
- Bia Ma Nhai (khắc trên đá) chùa An Thái - xã Phượng Lâi, không ghi niên đại.
2. Chữ Hán, Nôm còn trên chất liệu đồng ở các di tích
a. Chuông có niên đại thời Lê:
- Chuông chùa Hoa Long - Phường Bến Gót, tạo năm Cảnh Hưng thứ 18 (1757), niên hiệu của vua Lê Hiển Tông.
- Chuông chùa Minh Nông - Xã Minh Nông, tạo năm Chính Hoà thứ 23 (1702), niên hiệu của vua Lê Hy Tông.
- Chuông chùa Thượng Lâm - xã Thụy Vân, tạo năm Cảnh Hưng thứ 28 (1767), niên hiệu vua Lê Hiển Tông.
b. Chuông có niên đại thời Nguyễn:
- Chuông chùa Hương Sơn - xã Trung Vương, tạo năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), niên hiệu của vua Nguyễn Thánh Tổ.
- Chuông chùa Bảo Ngân - xã Sông Lê, tạo năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), niên hiệu của vua Nguyễn Thánh Tổ.
- Chuông chùa Bảo San (chùa Nhồi) xã Phượng Lâu, tạo năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), niên hiệu vua Nguyễn Hiến Tổ.
- Chuông Đền Chi Cát - Phường Tiên Cát, tạo năm Minh Mệnh thứ 18 (1837), niên hiệu của vua Nguyễn Thánh Tổ.
- Chuông chùa Văn Phúc xã Vân Phú , tạo năm Thành Thái năm thứ 16 (1905), niên hiệu của vua Nguyễn Thành Thái.
- Chuông chùa Nỗ Lực - xã Thụy Vân, tạo năm Duy Tân thứ 9 (1915), niên hiệu của vua Nguyễn Duy Tân.
c. Khánh đồng:
- Khánh chùa Hoa Long - Phường Bến Gót, tạo năm Cảnh Hưng thứ 18 (1575), niên hiệu của vua Lê Hiển Tông.
d. Chiêng đồng:
- Đền Luông - xã Vân Phú, tạo năm Duy Tân thứ 9 (1915), niên hiệu của vua Nguyễn Duy Tân.
3. Chữ Hán, Nôm có trên chất liệu gỗ ở các di tích
- Địa tự (hoành phi), có 65 chiếc hầu hết có niên đại vào thời Nguyễn, trong đó có 1/3 số đại tự mới được cung tiến.
- Mộc bản ghi việc tu sửa 1 chiếc - chùa Thượng Lâm xã Thụy Vân.
- Mộc dục (bài vị) có 28 chiếc.
- Thượng lương, câu đầu: có 31 di tích còn niên đại tu sửa ghi ngày, tháng, năm tu sửa hoặc khánh thành. 9 di tích tu sửa thời Lê, còn lại là tu sửa thời Nguyễn.
- Câu đối có tổng số là 115 đôi, các câu đối này có niên đại chu yếu từ đầu thời Nguyễn (có lạc khoản ghi trên đó).
4. Chữ Hán, Nôm có trên chất liệu giấy ở di tích
+ Thần tích, Ngọc phả ở địa bàn Việt Trì còn bảo lưu được khá nguyên vẹn: 29 bản thần tích có niên đại Hồng Phúc nguyên niên (1572), do Nguyễn Bính phụng soạn, đến năm Vĩnh Hựu thư 2, Nguyễn hiền sao lại.
+ Sắc Phong có 51 đạo, trong đó có 2 đạo có niên đại của vua Quang Trung năm thư 5 (1792), còn lại là sắc phong thời Nguyễn từ triều Gia Long đến Triều Bảo Đại. Hiện nay trong một số di tích con gìn giữ được khá nguyên vẹn như Đình Bảo Đà, Đình Kim Quất, Đền Luông, Đình Phương Châu, Đền Thượng…
+ Ngoài Thần tích, ngọc phả, sắc phong ra trên địa bàn Việt Trì năm trong các di tích còn nhiều loại sách chữ Hán, Nôm khác như Lệ làng Vân Luông, Lệ làng Lương Đài, Sách kinh phật…
5. Chữ Hán, Nôm có ở chất liệu khác
Chất liệu khác mà tôi muốn nhắc tới đó là các câu đối, những bức đại tự được khắc trên tường. Trong hơn 50 di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Việt Trì hầu như di tích nào cũng có câu đối, hoành phi khắc tường, số lượng này chiếm tỷ lệ lớn 40/115 tổng số đôi câu đối. Song nó vẫn không làm mất đi ý nghĩa đối với một di tích.
Như vậy những di vật - thư tịch cổ Hán Nôm còn trong di tích trên địa bàn thành phố Việt Trì - Kinh đô Văn Lang xưa rất phong phú. Với tổng số bia là 14 chiếc trong đó bia thời Lê 9 chiếc, bia thời Nguyễn 5 chiếc. Điều đáng quan tâm là hầu như những chiếc bia này còn rõ chữa cả, có 1 bia văn chỉ còn lại là bia hậu thần, hậu phật. Trên chất liệu đồng có chuông, khánh với số lượng là 10 chiếc trong số đó có 3 chiếc chuông niên đại thời Lê, 6 chuông có niên đại thời Nguyễn, 1 khánh niên đại thời Lê. Ngoài ra còn có 1 chiếc chiêng đồng có niên đại năm Duy Tân (thời Nguyễn). Các chuông đều còn nguyên vẹn, 4 mặt chữ Hán, Nôm có những chuông có bai fminh, có chuông không có, chuông có quai, chuông mất quai đó là dấu vết của chiến tranh, nhưng giá quý nhất để cho thế hệ ngày hôm nay là di sản Hán Nôm còn bảo tồn được trên đó - bằng chứng lịch sử cho một thời kỳ hưng thịnh của tôn giáo của cả nước nói chung và của vùng đất Tổ nói riêng. Trong mỗi di tích trải biết bao thăng trầm của lịch sử thế nhưng những tấm lòng tâm huyết gìn giữ cho muôn đời sau đã dốc lòng tu sửa, tôn tạo và điều đó được người đời khắc bia, di tích thì được ghi trên thượng lương, câu đầu giúp cho các nhà nghiên cứu về mọi lĩnh vực sau này xác định niên đại xây dựng cũng như thời gian tôn tạo một cách xác thực. Văn bản sắc phong, ngọc phả, thần tích, hoành phi, câu đối du có bị mối mọt chút ít thì nó cũng không là mất đi tích vốn có của di tích, một bản sắc riêng một sự sống riêng mãi mãi tiềm tàng và tồn tại trong lòng nhân dân. Trên đây tôi chỉ xin được thông báo với hội nghị những thư tịch Hán, Nôm còn lưu giữ được ở trong di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Việt Trì, chứ chưa phải là thống kê được hết toàn bộ thư tịch Hán, Nôm còn trong nhân dân. Nếu có thể tôi sẽ xin công bố vào một dịp khác.
Thông báo Hán Nôm học 2003, tr. 80-84