10. Tìm hiểu về gạch “Vĩnh Ninh Trường” thời Trần lưu giữ tại Bảo tàng Nam Định (TBHNH 2011)
TÌM HIỂU VỀ GẠCH “VĨNH NINH TRƯỜNG” THỜI TRẦN LƯU GIỮ TẠI BẢO TÀNG TỈNH NAM ĐỊNH
HOÀNG VĂN CƯƠNG
Phó Giám đốc Bảo tàng Nam Định
Nghiên cứu Di sản văn hóa thời Trần ở Việt Nam, các nhà khoa học đều khẳng định ít có địa phương nào mà dấu ấn lại đậm nét và rõ ràng như ở vùng đất Thiên Trường - Nam Định. Trong số hơn 275 di tích thờ tự liên quan trực tiếp đến các nhân vật lịch sử thời Trần, thì nhiều địa điểm phát hiện được phế tích kiến trúc thời Trần dưới lòng đất. Các phế tích ấy chính là những đền đài, cung điện của tầng lớp Hoàng tộc nhà Trần đã bị tàn phá do thời gian, chiến tranh và sự thay thế vương triều. Để tạo dựng các công trình quy mô mang tính cung đình, đặc biệt là hai điện Trùng Quang, Trùng Hoa, lẽ tất yếu triều đình phải huy động nguồn tài lực và trí lực của quân dân Đại Việt từ nhiều góc độ. Nguồn tài lực đó vừa của địa phương, vừa được đưa về từ nơi khác, thậm chí di chuyển về từ kinh đô Thăng Long. Đó là khối lượng khổng lồ vật liệu kiến trúc mà khảo cổ học đã phát hiện trong những năm qua. Từ sự đa dạng đó nên việc nghiên cứu vật liệu xây dựng, trước hết là loại gạch in chữ hán “Vĩnh Ninh Trường” vừa có giá trị tìm hiểu về kỹ mỹ thuật tạo hình sản phẩm, vừa để hiểu thêm về nguồn gốc sản xuất, giá trị lịch sử cũng như tính quy chuẩn, thống nhất của vật liệu trong việc xây dựng các công trình kiến trúc của Hoàng tộc thời Trần thế kỷ XIII, XIV.
Trong số 5 loại gạch (gạch lát hình vuông, gạch bìa, gạch có mộng, gạch ốp trang trí tháp, gạch hình thước thợ) với khoảng gần 100 viên hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Nam Định thì có 18 viên gạch in chữ hán “Vĩnh Ninh Trường” 永寧場 . Những viên gạch này được phát hiện tại các địa điểm như: Cương vực cung điện Trùng Quang, Trùng Hoa - nơi ngự của các Vua và Thái thượng hoàng (nay là cụm di tích đền Trần, phường Lộc Vượng); Cung Đệ Tứ - nơi ở của Hoàng hậu, Cung phi (nay là không gian chùa Đệ Tứ phường Lộc Hạ); An Lạc ấp của An Sinh Vương Trần Liễu (thôn Bảo Lộc, xã Mỹ Phúc, Mỹ Lộc); Thái ấp của Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải và công chúa Phụng Dương (nay là đình và miễu Cao Đài, xã Mỹ Thành, Mỹ Lộc). Đây là loại gạch bìa, có hình khối chữ nhật dẹt, chiều dài thường gấp đôi chiều rộng, làm bằng khuôn, kích thước: dài 36-40 cm, rộng 18-23 cm, dày 4,5-5,3 cm. Gạch được làm từ 2 loại chất liệu đất sét mịn và thô, thường có màu đỏ nhạt hoặc nâu đỏ, độ nung trung bình, nhiều viên bề mặt còn để rõ các vết kéo cắt khi sản xuất. Đa phần gạch không trang trí hoa văn. Một số viên bề mặt có các vết trải hình xương cá, sóng nước, răng lược hoặc đường gấp khúc, đường lượn theo các chiều tự do, phóng khoáng khác nhau.
Tuy nhiên, điều quan trọng mà chúng tôi muốn trình bày trong bài viết này là nội dung minh văn in trên gạch. Qua nghiên cứu, dòng chữ Hán “ Vĩnh Ninh Trường” trên gạch đều được sử dụng thủ pháp in bằng con dấu, theo chiều dọc từ trên xuống dưới, khi gạch còn ướt mềm. Con dấu hình chữ nhật, tương đối giống nhau, kích thước: dài 5-7 cm, rộng 1,5- 3cm, in sâu trung bình vào thân gạch khoảng 0,2-0,4cm. Chữ in nổi kiểu chữ chân, in ở rìa cạnh, thường là cạnh ngang, có viên in ở cả 2 hoặc 3 cạnh với cùng một nội dung “Vĩnh Ninh Trường”. Vậy chữ “Vĩnh Ninh Trường” là gì? Theo tiếng Hán “Vĩnh Ninh Trường” được hiểu là công trường Vĩnh Ninh, hoặc sản xuất tại khu Vĩnh Ninh, hay trường Vĩnh Ninh. Như vậy “Vĩnh Ninh” chắc chắn là tên địa danh hành chính.
Theo “Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược” của Tiến sĩ Đốc học Khiếu Năng Tĩnh viết vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, và tư liệu Hán Nôm tại đình - chùa Vĩnh Trường (làng Vĩnh Trường, P. Lộc Vượng) thì (xã) “Vĩnh Ninh” có từ thời cổ, đến thời Trần đổi thành “Vĩnh Bình” thời Lê đổi thành “Vĩnh Trường”. Căn cứ vào tư liệu này thì địa danh “Vĩnh Ninh” chưa rõ xuất hiện chính xác vào thời gian nào, nhưng có thể khẳng định đây không phải là địa danh thời Trần.
Sử sách cho biết, hệ thống phủ đệ đền đài, đặc biệt là 2 cung điện Trùng Quang, Trùng Hoa được chính thức xây dựng trong thế kỷ XIII (năm 1239, 1262 - ĐVSKTT). Vậy thì loại gạch “Vĩnh Ninh Trường” không thể được sản xuất tại làng Vĩnh Ninh, phủ Thiên Trường như một số quan điểm nghiên cứu trước đây, bởi thời Trần địa danh Vĩnh Ninh không còn tồn tại. Hơn nữa cho đến thời điểm hiện nay, chúng ta chưa phát hiện được bằng chứng nào chứng minh việc sản xuất tại chỗ loại gạch này phục vụ việc xây dựng. Vậy câu hỏi đặt ra là gạch “Vĩnh Ninh Trường” tại sao lại có mặt ở những công trình kiến trúc thời Trần ở Nam Định?
Căn cứ vào kết quả khai quật khảo cổ, gạch “Vĩnh Ninh Trường” được phát hiện ở nhiều nơi như: Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội); thành nhà Hồ (Thanh Hóa); khu lăng mộ thời Trần ở Tam Đường (Thái Bình); Kiếp Bạc (Hải Dương) v.v… Các nghiên cứu đều khẳng định, gạch Vĩnh Ninh Trường có niên đại thế kỷ XIII, XIV và được sử dụng rộng rãi dưới triều Trần và mấy năm đầu thế kỷ XV, khi nhà Hồ xây dựng thành Tây Đô, đàn Nam Giao và Ly Cung. Ngoài Nam Định, thì Thanh Hóa không những là tỉnh tìm thấy nhiều loại gạch này mà còn có địa danh Vĩnh Ninh chúng ta cần tìm. Sách Đồng Khánh địa dư chí (bản dịch của Nguyễn Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên và Philip Papin, Nxb. Thế giới, 2003) ghi “Vĩnh Ninh là tên gọi có từ triều Trần, thời thuộc Minh cũng theo tên cũ, thuộc phủ Thiệu Hóa, đời Lê Trang Tông đặt Vĩnh Ninh thuộc Phủ Thiệu Thiên…”. Dư địa chí (Nguyễn Tri); Đất nước Việt Nam qua các đời; tên làng xã Thanh Hóa cũng có nội dung tương tự. Như vậy có thể khẳng định, địa danh Vĩnh Ninh là đơn vị huyện thuộc trấn Thanh Đô, có từ thời Trần. Hiện nay huyện Vĩnh Ninh đổi thành xã Vĩnh Ninh, thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Trở lại với gạch “Vĩnh Ninh Trường” phát hiện tại Nam Định; qua so sánh chất liệu, kích thước, đặc biệt là kích cỡ con dấu đến kiểu chữ in trên gạch, chúng tôi thấy chúng có nhiều nét tương đồng với những viên gạch tìm thấy tại Thanh Hóa và một số nơi khác. Giáo sư Vũ Văn Ninh trong bài viết “Những viên gạch kể chuyện mình” (sách Hoàng thành Thăng Long, Nxb VH-TT, H. 2006) cũng cho rằng gạch “Vĩnh Ninh Trường” có nguồn gốc từ Thanh Hóa. Thực tế lịch sử đã chứng minh, tại Thanh Hóa khảo cổ đã phát hiện hàng chục loại gạch in chữ Hán khác nhau được sản xuất tại huyện Vĩnh Lộc thời Trần, trong đó nhiều nhất là gạch “Vĩnh Ninh Trường”. Qua đây ta thấy Thanh Hóa không chỉ là cái nôi của nhiều nền văn hóa cổ xưa, là kinh đô của nhiều triều đại, mà nó còn là nơi sản xuất và cung cấp vật liệu phục vụ việc dựng xây các công trình kiến trúc lớn của quốc gia thời phong kiến.
Thời Trần, ngoài việc tạo dựng kinh đô ở đất Thượng kinh, thì Tức Mặc - quê hương của các vua cũng được xây dựng nhiều đền đài, cung điện không kém gì Thăng Long. Các công trình đó không chỉ tiêu tốn khối lượng khổng lồ vật liệu, mà nó còn đòi hỏi những nguyên vật liệu phải có tính quy chuẩn về chất lượng và hình thức. Chính vì vậy, theo chúng tôi, bên cạnh việc phân bổ trách nhiệm đóng góp cho các địa phương, hoặc trưng tập các tốp thợ giỏi về trực tiếp sản xuất, triều đình còn huy động nguồn vật liệu từ địa điểm này đến địa điểm khác, phân phối cho những công trình do triều đình trực tiếp bỏ tiền xây dựng. Như vậy gạch “Vĩnh Ninh Trường” không chỉ phục vụ các công trình xây dựng thời Trần - Hồ tại Thanh Hóa, mà nó đã trở thành “thương hiệu” không thể thiếu với những công trình xây dựng quan trọng của quốc gia Đại Việt, trong đó có Thiên Trường - Nam Định thời Trần thế kỷ XIII-XIV.
Ngoài gạch “Vĩnh Ninh Trường”, tại Nam Định còn phát hiện được một số loại gạch in chữ Hán có niên đại thời Trần như: gạch “Hưng Long thập tam niên” (1305, xây tháp Phổ Minh); “Vĩnh Khang viên” (vườn Vĩnh Khang); “Nguyễn Ái”; “Trọng đệ lục” và “Hữu trương đệ lục.
Như vậy, chúng ta thấy gạch có chữ thời Trần chính là sự kế tiếp truyền thống từ thời Lý và trước đó. Thời Đinh, Tiền Lê và thời Lý gạch chủ yếu khắc niên đại sản xuất gắn với Quốc hiệu, hoặc triều vua như: gạch “Đại Việt Quốc quân thành chuyên” (Hoa Lư - Ninh Bình); “Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo” (Phật Tích - Bắc Ninh); “Lý gia đệ tứ đế long Phù Nguyên Hóa ngũ niên tạo” (Chương Sơn - Nam Định)… Thời Trần, bên cạnh việc in niên đại triều vua như gạch “Hưng Long thập tam niên” (Gạch xây tháp Phổ Minh - Nam Định); “Hưng Long thập nhị niên” (Báo Ân- Hà Nội), thì phần lớn gạch được ghi địa danh hoặc lò sản xuất, trong đó xuất hiện nhiều nhất và nổi tiếng nhất là loại gạch “Vĩnh Ninh Trường”
Có thể nói những viên gạch đề chữ Hán phát hiện tại Nam Định nói chung là gạch “Vĩnh Ninh Trường” nói riêng, thực sự là những di vật có giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học. Mỗi một nội dung chữ Hán ghi trên sản phẩm đều hàm chứa những thông điệp cụ thể rõ ràng, giúp chúng ta có cơ sở tìm hiểu và bổ sung thêm thông tin về các lĩnh vực lịch sử, văn hóa, xã hội khi nghiên cứu về mảnh đất Thiên Trường - Kinh đô thứ 2 của quốc gia Đại Việt, thế kỷ XIII-XIV.
(Thông báo Hán Nôm học 2011, tr.541-546)