VI | EN
10. Về cuốn gia phả họ Ðinh (nhà Lang) trên đất Kim Bôi, Hòa Bình (TBHNH 2004)
TBHNH 2004

VỀ CUỐN GIA PHẢ HỌ ĐINH (NHÀ LANG)

TRÊN ĐẤT KIM BÔI, HÒA BÌNH

PHẠM THỊ CHUYỀN

VŨ ĐƯỜNG LUÂN

Đại học KHXH & Nhân văn Hà Nội

Dòng họ Đinh (nhà Lang) làm Thổ tù ở xã Vĩnh Đồng, huyện Mỹ Lương, phủ Quảng Oai (nay thuộc Kim Bôi, Hòa Bình) có từ rất sớm. Tương truyền từ thời Hùng Vương đã được cấp đất phân phong. Từ đó đến nay con cháu đời đời nối nghiệp. Nhưng vì thế thứ quá xưa, thư tịch phiêu tán, cho nên không thể khảo cứu được ngn nguồn dòng họ. Đây là những dòng đầu tiên chép trong cuốn gia phả mà chúng tôi muốn giới thiệu sau đây:

Cuốn gia phả họ Đinh mới được phát hiện trong dân gian trên đất Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Hiện chưa được lưu giữ trong Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Không biết rõ nguyên bản sơ khai của sách thế nào, có tên gì và bao nhiêu trang. Hiện nay sách không còn nguyên vẹn, tất cả còn 68 trang (tạm thời đánh số 1 từ trang đầu tiên còn lại). Không còn bìa, không còn tên sách, khổ giấy 13,5x25,5cm, bằng chất liệu giấy dó, chữ viết tay thể chân đá thảo, xung quanh sách bị nhàu nát, phần cuối sách có một số tờ bị nát bên trong, mất một số chữ, không rõ niên đại soạn toàn bộ sách là bao giờ. Qua ghi chép trong sách cho biết niên đại soạn của từng phần trong sách rất rõ ràng. Tên tác giả soạn cũng bị mờ, không có bài tựa. Toàn bộ cuốn sách có các phần như sau.

Trong phần đầu cuốn sách, thay vì cho người đọc thấy bài tựa như nhiều cuốn gia phả, sách này ghi lại hai bài thơ. Bài đầu tiên viết bằng chữ Hán thể thất ngôn bát cú, không có tiêu đề, nội dung ca ngợi cảnh thịnh trị thái bình và người chủ trị vùng đất đó, do Hữu Long Tân Nguyễn Phủ viết (trang 1). Bài thứ hai là bài “Viên hạ” bằng chữ Nôm thể thất ngôn bát cú, bày tỏ nỗi lòng của kẻ thiển học đối với thầy của mình, do Tiến sĩ Định Xương viết (trang 2). Từ trang 3-4 là phần “Thực sao bia truyền” (chép lại văn bia theo đúng sự thực) gồm 114 chữ Hán, phần cuối ghi niên đại soạn bia: ngày 22 tháng 2 năm Khánh Đức 2 (1650) triều vua Lê Thần Tông). Trang 5 là sắc phong vua Lê Huyền Tông ban cho Đinh Quý Công chức Điện tiền Đô hiệu Điểm ty Đề đốc Uy Quận công, viết bằng chữ Hán vào ngày 1? tháng 10 năm Cảnh Trị 3 (năm 1665) triều vua Lê Huyền Tông). Từ trang 7 đến trang 29 là toàn bộ phả ký của dòng họ (17 đời tất cả). Sau phần này là một bản lý lịch có tên: “Vĩnh Đồng xã Đại vương quan lý lịch” viết bằng chữ Nôm (từ trang 31 đến trang 60). Phần cuối từ trang 61 đến 68 có tên “Vĩnh Đồng xã Phiên Thần Đinh gia ký bản”. Phần này giống y nguyên phần đầu của phần gia phả phía trên. Có lẽ đây là bản gốc hoặc được chép lại.

Gia phả họ Đinh ở Kim Bôi, Hòa Bình cũng là một trong những cuốn gia phả có nội dung chính là ghi lại lịch sử của dòng họ. Nhưng nó mang đặc trưng riêng không giống với tất cả các cuốn gia phả khác, cũng như dòng họ ghi trong đó không giống với bất kỳ dòng họ nào.

Trong phần có tính chất gia phả từ trang 7 đến trang 29 chia thành hai phần rõ rệt. Phần thứ nhất có tên “Vĩnh Đồng xã Phiên thần Đinh gia tông phái bản ký” (trang 7 đến trang 13). Phần này không giống phần gia phả phía sau, ở chỗ nó chỉ ghi theo tông phái chính làm Phiên thần mà không ghi kèm anh em không thuộc dòng đích. Đây là bản sử ký ghi nối tiếp các đời thuộc dòng đích với nhau, ghi hành trạng của từng vị,tên vợ của tng vị nhưng không ghi năm sinh, ngày giỗ và phần mộ của các vị đó, tất thảy 13 đời tính từ người đầu tiên được nhắc đến. Người đầu tiên được nhắc đến chính là Đinh Như Lĩnh (tạm coi là đời thứ nhất được ghi lại tên), người tiếp tục làm Thổ tù và sinh trưởng nam Đinh Quý Khiêm. Đinh Quý Khiêm phát huy công đức tổ tiên, gặp thời khai quốc, tán trị có công, được vua phong Phụ quốc tướng quân Khiêm nghĩa hầu, được quản xứ Sơn Tây. Nhưng khi thái bình trở lại ông thực hiện chính sách của riêng gia tộc mình; “xuất vi binh, nhập vi hộ; động vi binh, tĩnh vi nông”. Cũng chính từ đây lệ này đã truyền nối từ đời này qua đời khác. Do vậy, cho nên trong số các con cháu từ đó về sau có nhiều người có công với đất nước với triều đình trong việc đánh giặc cứu nước, được vua ban chức tước, nhưng khi thái bình thì hết thảy đều trở về quê an cư lạc nghiệp và coi sóc dân chúng địa phương. Gia nghiệp được truyền cho trưởng tộc đời thứ 3 Đinh Như Luật; đời thứ 4 Đinh Nhân Phúc. Đến đời thứ 5, Trưởng tộc Đinh Văn Thịnh không may mất sớm, có em gái Đinh Thị Đỏ lấy chồng là Phụ đạo của thôn Ký, cùng xã, sinh được Đinh Văn Thiệu. Văn Thiệu tư chất thông minh xuất chúng, được nhân dân trong vùng yêu mến, nên lại được nối gia nghiệp làm Thổ tù, đảm nhiệm Trưởng tộc đời thứ 6. Văn Thiệu có vợ và con trai, nhưng không may đoản thọ. Trong cảnh vợ góa con côi, gia nghiệp bị bọn An phú bá Hoàng Văn An là Phụ đạo thôn Đồi cưỡng bức và chiếm đoạt. Vợ con của Văn Thiệu phải chạy về vùng Thanh Hoa bên ngoại. Thời vua Lê chúa Nguyễn trung hưng, vua lệnh Trịnh nguyên soái bí mật về vùng Sơn Tây chiêu mộ binh sĩ. Lúc đó Đinh Công Cương là con trai Đinh Văn Thiệu tòng quân, phá giặc lập công, được ban Phá Lỗ tướng quân, Triều… hầu, vua ban cho giữ đạo Kinh Bắc hơn 7 năm. Sau đó trở về quê hương cai quản 7 xã, dẹp bọn An Phú bá, lập lại bình yên cho nhân dân và nối gia nghiệp (Ttrưởng tộc đời thứ 7). Đời thứ 7 là Đề đốc Uy Lộc hầu Đinh Công Kỷ. Đời thứ 9 Diên nghĩa bá Đinh Công Trụ. Đến đời thứ 10 Đinh Công Miện bị bọn xấu hãm hại. Em trai của Đinh Công Miện là Đinh Công Kích ôm hận giết anh, bèn ngầm báo thù cho anh, phạm vào án mạng, phải chạy vào vùng sơn lâm lẩn trốn. Dân chúng vốn tôn kính gia tộc này và yêu mến đức độ của Đinh Công Kích nên đã chuộc tội cho Đinh Công Kích được trở lại quê hương tiếp nối gia nghiệp, đảm nhiệm trưởng nam đời thứ 10. Đời thứ 11 là Tam nghĩa hầu Đinh Công Tam. Đinh Công Tam sinh trưởng nam là Đinh Công Bàng (Trưởng tộc đời thứ 12). Đinh Công Bàng lớn lên gặp buổi đất nước có giặc hung hoang nổi dậy khắp nơi (những năm Canh Tân, Tân Dậu), bọn sơn khấu cát cứ một phương. Công Bàng tấu yết xin cầm quân đánh giặc. Ông đã lập được công lớn, được ban Kiêm tổng binh, tước Bàng trung bá. Sau làm Tây Lĩnh Quận công ở triều Lê và Tây Lĩnh hầu ở triều Nguyễn. Công Bàng sinh trưởng nam Đinh Công Trinh (đời thứ 13). Phần này ghi đến đây thì dừng lại. Có ghi: ngày 25 tháng 5 năm Cảnh Trị thứ 25.

Khác với phần trên, phần gia phả phía sau ghi theo nghi thức gia phả thông thường có tên: “Đinh Công Bàng ký bản”. Bắt đầu từ Đinh Công Bàng. Mỗi vị được chép hành trạng, tên chức tước, tên vợ con. Không chỉ có các vị thuộc dòng đích mà thậm chí cả các anh em cùng đời cũng được ghi rất chi tiết. Hết thế hệ này mới tới thế hệ khác. Mỗi thế hệ, vị dòng đích được ghi trước tiên. Theo dòng đích, Đinh Công Bàng sinh Tuyên úy sứ Tây Lĩnh hầu Đinh Công Trinh (đời thứ 13). Đinh Công Trinh sinh Đô ty sứ Đinh Công Cát (đời thứ 14). Đinh Công Cát sinh Đinh Công Dưỡng (đời thứ 15). Đinh Công Dưỡng sinh Đinh Công Chu (đời thứ 16), và người cuối cùng được ghi là Đinh Công Nhiêu (đời thứ 17) là con trưởng của Đinh Công Chu. Trong phần này, tác giả cũng không ghi năm sinh, ngày giỗ và phần mộ của từng người, mà chú trọng vào tên, nơi sinh, nơi làm quan…

Đặc biệt trong sách này có một bản lý lịch về Tây Lĩnh đại vương (người soạn xưng là Tiên công) bằng 340 câu thơ quốc âm thể lục bát, có tên: “Vĩnh Đồng xã Đại vương quan lý lịch” (trang 31-60). Bản này được soạn tháng 2 năm Ất Dậu Hàm Nghi thứ 2, do Trưởng tộc họ Đinh sao y bản chính. Chữ Nôm ghi ở đây là chữ Nôm Việt, khá rõ ràng và dễ đọc. Nội dung kể về hành trạng của Tây Lĩnh Đại vương. Mặc dù là bản lý lịch, song được viết bằng thơ cho nên vấn đề niên đại khó được thể hiện, mà chỉ dựa vào các sự kiện diễn ra mới có thể đoán được. Tây Lĩnh Đại vương lúc sinh thời đã là người anh tuấn thông minh, có tài thao lược, có lòng nhân ái. Khoảng năm Canh Dần gặp lúc nước nhà có giặc, ông cầm trong tay ba thước gươm thần, quân cường tướng mạnh tây chinh lên đường, hộ quốc cứu dân. Đến năm Ất Mùi, có giặc Ai Lao, ông lại cầm quân đánh giặc. Chiến thắng khải hoàn “Người trong phiên phụ tiếng ngoài cửu châu”. Đến năm Đinh Dậu, lại có giặc Lang Huân, tức giặc ở xã Cao Sùng và giặc Tụ Long. Vua ra chiếu tuyển người tiến chinh, Tiên công vâng chỉ cầm quân đánh giặc. Thắng giặc trở về xây dựng quê hương… Có thể nói đây giống một truyện thơ hơn là bản lý lịch. Hơn nữa lại do một huyền tôn trong họ tộc soạn cho bậc tiền bối của mình, nên nó mang đầy sắc thái của sự ca ngợi và kính trọng. Hiếm thấy một bản lý lịch nào đặc biệt như vậy.

Qua nội dung đã trình bày sơ lược ở phần trên cho thấy: Dòng họ này là dòng họ quyền quý, đời đời được làm Thổ tù (người dân Mường ở địa phương gọi là nhà Lang). Hơn nữa không phải các vị dòng đích được làm Thổ tù theo lệ, mà họ còn được nhân dân yêu mến mà giao cho. Suốt bao nhiêu thế hệ họ noi gương nhau khi có biến thì xuất binh đánh giặc, buổi thanh bình trở lại nông canh, gìn giữ gia tộc, phát huy công đức tổ tông.

Cuốn sách không chỉ cho người đọc hiểu cả thảy 16 đời của họ Đinh (nhà Lang), mà qua hành trạng của một số vị chúng ta có thể hiểu thêm một số sự kiện lịch sử xảy ra ở địa phương này trong thời vua Lê chúa Nguyễn, tuy không nhiều nhưng chúng ta có thể thấy được vai trò hết sức quan trọng của họ trong các giai đoạn giữ nước và dựng nước của triều đình phong kiến nhà Lê và nhà Nguyễn. Đặc biệt sách còn là tư liệu quý về văn học, nhất là trong bản lý lịch của Đại vương quan xã Vĩnh Đồng.

Ai cũng biết mỗi một cuốn gia phả của một dòng họ trên bất cứ địa phương nào đều rất được coi trọng. Nhất là đối với các vùng miền núi thì các tư liệu gia phả càng quý và hiếm. Cuốn gia phả này là nguồn tư liệu quý của người dân tộc Mường ở vùng Kim Bôi, Hòa Bình. Vì thế mà rất đáng được quan tâm, lưu giữ và bảo tồn./.

Thông báo Hán Nôm học 2004 (tr.70-75)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm