106. Vài nét về tư liệu Hán Nôm ở quần thể di tích lịch sử văn hóa đình - chùa Lũ Yên (Thái Nguyên) (TBHNH 2012)
VÀI NÉT VỀ TƯ LIỆU HÁN NÔM Ở QUẦN THỂ
DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐÌNH
CHÙA LŨ YÊN (THÁI NGUYÊN)
NGUYỄN VÂN YÊN
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thái Nguyên
Tại quần thể di tích lịch sử văn hóa đình - chùa Lũ Yên, xã Đào Xá, huyện Phú Bình (Thái Nguyên) có một khối lượng tư liệu Hán Nôm quý giá mà nhiều nơi không còn lưu giữ được, đó là 10 bia, 1 khánh đá, 4 đạo sắc phong, 1 bản thần tích - thần sắc, 3 câu đối.
Trong số các tư liệu Hán Nôm tại khu di tích đình - chùa Lũ Yên kể trên số bia đá chiếm nhiều hơn cả, đa dạng về kích cỡ, phong phú về văn phong, có cảm tác bằng thơ văn.
Trước tiên phải kể về tấm bia đá dựng thời Lê Vĩnh Thịnh năm Tân Mão (1711). Tấm bia này do thời gian đã mòn nhưng nét khắc trên bia vẫn còn rõ nét đặc biệt là các hình tượng hoa văn mặt trời, các đao mác của con rồng, nhan đề của tấm bia là Du Hưng tự ký (bài ký chùa Du Hưng). Du Hưng là tên chữ của chùa Lũ Yên. Bia có khoảng 200 chữ Hán Nôm, nhiều chữ bị mờ. Nội dung văn bia mặt 1 khắc: bài ký ghi nhớ bầu hậu Phật chùa Du Hưng. Quan viên, hương lão xã Lũ Yên, huyện Tư Nông, phủ Phú Bình, xứ Thái Nguyên nhất tâm kê ra: nguyên bản xã tổ chức tu sửa đình - chùa nay có các ông Nguyễn Trọng Tâm tự Huyền, tự Phúc Đắc, bà Đỗ Thị cùng hưng công góp ruộng tốt vào chùa nên dân thôn nhất trí tôn bầu là hậu Phật. Lập bia vào ngày tốt tháng 11 năm Tân Mão (1711). Mặt 2: Kim lập thạch bi (Lập bia đá bảng vàng) có khắc chìm 2 lá sớ ghi tên hậu Phật là: cụ hậu thứ nhất có tên là Không Hoằng Trọng Cao, tự là Vân, hiệu là Đức; cụ hậu thứ 2 là Vũ Thị (?), hiệu Diệu (Quang). Bia lập vào đời vua Vĩnh Thịnh năm Kỷ Mùi thứ 14 (1719) chúc thánh chúa muôn tuổi. Tấm bia này là tấm bia có niên đại sớm nhất của ngôi chùa cho tới thời điểm hiện nay, đây là tấm bia cổ nhất độc đáo nhất khắc cả bài ký và bài vị thờ hậu Phật.
Bia số 2 có 2 mặt, có khắc khoảng 450 chữ Hán Nôm với lối văn bia truyền thống kết cấu: tên di tích, mở đầu là câu luận về đạo nhà Phật, sau đó kể về ông Đào Quốc Tuấn, vợ là Hoàng Thị Mấn đã bỏ ra 30 quan tiền cổ để chi dùng cho việc tế lễ ở đình. Nay, ông, bà lại cúng vào đình một con bò và 3 sào ruộng tốt, bản xã tôn ông bà làm Hậu thần. Cuối văn bia cựu Tổng trưởng Trần Quốc Chánh, là người soạn văn bia đã cảm tác bằng một bài minh: "Thơ rằng: Lũ Yên có ngôi chùa cổ/ Hoàng công sáng lập văn bia/ Thiện duyên kết từ thuở trước/ Đất thiêng đức thêm dày hậu/ Thờ cúng mãi mãi dài lâu/ Người hậu thế còn được biết/ Nghìn năm vẫn còn đây/ Suốt đời ghi nhớ không quên". Ngày 28 tháng 8 năm Gia Long thứ 18 (1819) dựng bia.
Bia số 3 bị mờ chữ, khắc nông, có khoảng 300 chữ Hán Nôm. Mặt 1 ghi: Hậu Phật bi ký (Bài ghi nhớ bầu hậu Phật) nội dung nói về việc quan viên, hương lão, Xã trưởng xã Lũ Yên, huyện Tư Nông, phủ Phú Bình bầu 2 vị hậu Phật. Mặt 2 ghi dựng ngày tốt tháng 4 năm Gia Long thứ 18 (1819). Soạn văn bia cũng là ông cựu Tổng trưởng Trần Quốc Chánh, người bản xã.
Bia số 4 là tấm bia của đình Lũ Yên, bị bong mờ gần hết, mặt 1 ghi việc: quan viên, hương lão, Xã trưởng xã Lũ Yên, huyện Tư Nông, phủ Phú Bình bầu hậu thần của các vị công đức tiền, ruộng vào đình được bầu làm hậu thần, làm văn vào ngày 14 tháng 9 năm Kỷ Tỵ khắc vào bia đá. Mặt 2 ghi ngày dựng bia vào ngày mồng 1 tháng 5 năm Gia Long thứ 18 (1819).
Bia số 5 là tấm bia 2 mặt còn tương đối đầy đủ văn khắc. Mặt 1 cũng ghi dòng chữ lớn tạc nổi: Hậu Phật bi ký (Bài ký ghi nhớ bầu hậu Phật), bản xã có Trần Quốc Chánh là Tổng Trưởng đã ứng 15 quan tiền và hơn 5 sào ruộng tốt giao cho bản xã. Năm Mậu Tý bản xã tu sửa nơi thờ tự ông lại ứng xuất 25 quan tiền cổ. Bản xã nhất trí tôn bầu ông Trần Quốc Chánh cùng bà Vũ Thị... Văn Thị, Vũ Thị Từ đều là hậu Phật. Các tiết lệ thờ cúng được lưu truyền lâu dài, bản xã cùng thề nếu có gì sai thì long thần đại vương tru diệt, vậy lập bia ghi lại. Mặt 2 bia khắc thời gian dựng bia là ngày 6 tháng 4 triều vua Minh Mệnh năm thứ 11 (1830); soạn văn bia là Lý trưởng Đào Công Bình.
Bia số 6 cũng là bia có 2 mặt khắc chữ. Chữ khắc trên bia rõ nét, sâu, có khoảng 500 chữ. Nội dung bia kể bản xã có ông Phạm Tuấn Cung, bà Phạm Thị Mao, bà Phạm Thị Úc, bà Phạm Thị Quýnh, là người trung hậu, năm Quý Mùi (1833) bản xã tu tạo lại đình, các ông, bà đã xuất tiền riêng 100 quan, tiền công 150 quan tiền để thuê thợ mộc cộng thêm công của dân đóng góp. Đến năm Tân Mão thì công việc tu tạo miếu đường cũng vẫn còn thiếu tiền để trả công cho thợ mộc và thợ nề. Các ông, bà trên lại bỏ ra 180 quan tiền cho bản xã và 2 mẫu ruộng tốt để tu bổ đình làng. Bởi vậy, bản xã đã bầu là Hậu thần của làng. Lập bia vào ngày 18 tháng 12 triều vua Minh Mệnh năm thứ 12 (1831). Người soạn văn bia là cựu Xã trưởng Trần Quốc Bình.
Bia số 7 có 2 mặt đều khắc văn cho thấy làng xã và ngôi chùa Lũ Yên liên tục đều có người công đức tôn tạo, đây hẳn như một thông lệ và là một phong tục được duy trì liên tục có sự kế tiếp. Bản xã có bà Phạm Thị Úc, Nguyễn Thị Nhi, Vũ Thị Ngọc đã ứng ra 10 quan tiền và 5 sào ruộng tốt giao cho bản xã trả tiền công cho thợ. Bản xã nhất trí tôn bầu bà Phạm Thị Úc, Nguyễn Thị Nhi, Vũ Thị Ngọc làm hậu Phật, vậy lập bia ghi lại. Văn bia lập vào ngày 12 tháng 1, hoàng triều Minh Mệnh năm thứ 11 (1830).
Bia số 8 hình thức thì cũng giống các tấm bia trên ghi việc xã Lũ Yên ghi nhớ bầu Hậu Phật là ông Phạm Tuấn Cung, vợ là Văn Thị Trường thấy bản xã tu sửa chùa thờ Phật không đủ tiền để chi phí trả công thợ bà Văn Thị Trường đã ứng xuất tiền 30 quan. Sau lại bỏ ra 15 quan cổ tiền giao cho bản xã thêm một thửa ruộng tốt 5 sào để chi phí. Bản xã nhất tôn bầu ông, bà là hậu Phật ghi vào bia đá lưu truyền vạn đại. Bia lập vào ngày 22 tháng 12 triều vua Minh Mệnh năm thứ 12 (1831). Bia không ghi tên người khắc, người soạn. Ngoài ra tại khu vực chùa cũng có 2 tấm bia nữa khắc vào triều nhà Nguyên do chất liệu đá kém, bị mờ hết chữ.
Bên cạnh ngôi chùa còn có ngôi đình Lũ Yên lưu giữ tư liệu 03 đạo sắc phong.
Đạo sắc 1: “Sắc cho xã Lũ Yên, tổng Lý Nhân, phủ Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên theo trước mà thờ phụng vị thần Cẩm Ký Trung Đô bản lộ Giác Hải Lĩnh đại tướng quân tôn thần, nguyên tặng Đoan túc Dực bảo Trung hưng tôn thần cấp cho được thờ vị thần đã có công bảo vệ cho đất nước, che chở cho nhân dân, hàng năm thờ cúng đều có linh ứng.
Nhân ngày đại khánh mừng trẫm 40 tuổi lại tặng sắc phong cho thêm phần long trọng. Đặc chuẩn cho thờ phụng vị thần đã được ghi vào tự điển. Thật đáng khâm phục. Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924) ban sắc”.
Đạo sắc 2: “Sắc cho xã Lũ Yên, tổng Lý Nhân, phủ Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên theo trước mà thờ phụng vị thần Tam Giang Quý Minh tôn thần, nguyên tặng Trác vỹ Dực bảo Trung hưng Thượng đẳng thần cấp cho được thờ vị thần đã có công bảo vệ cho đất nước, che chở cho nhân dân, hàng năm thờ cúng đều có linh ứng. Nhân ngày đại khánh mừng trẫm 40 tuổi lại tặng sắc phong cho thêm phần long trọng. Đặc chuẩn cho thờ phụng vị thần đã được ghi vào tự điển. Thật đáng khâm phục. Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924) ban sắc”.
Đạo sắc 3: “Sắc cho xã Lũ Yên, tổng Lý Nhân, phủ Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên theo trước mà thờ phụng vị thần Cao Sơn Quý Minh tôn thần, nguyên tặng Quang diệu Đôn tĩnh Địch cát Trác vỹ Dực bảo Trung hưng Thượng đẳng thần cấp cho được thờ vị thần đã có công bảo vệ cho đất nước, che chở cho nhân dân, hàng năm thờ cúng đều có linh ứng. Nhân ngày đại khánh mừng trẫm 40 tuổi lại tặng sắc phong cho thêm phần long trọng. Đặc chuẩn cho thờ phụng vị thần đã được ghi vào tự điển. Thật đáng khâm phục. Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924) ban sắc”.
Tại chùa Lũ Yên cũng có 3 câu đối với nội dung ca ngợi đạo Phật và cầu mong cho đất nước thanh bình như chân lý của đạo Phật, chúng tôi cũng giới thiệu: câu đối 1: Đường... hương du ngũ sắc tường vân thùy đường giám / Kim luân kỳ ứng thiên quang vương tọa dũng kim liên (Ngũ sắc hương bay sán lạn lan tỏa khắp ngôi nhà/ (Cũng như) nghìn ánh hòa quang tỏa sáng nơi tòa sen); câu đối 2: Pháp báo hóa thân danh tổ duy tam tâm thể / Khứ lai kiến thế... tình tự hữu giác (Phật pháp hóa thân từ đời tổ tông truyền lại / Giác ngộ thấu tình luân chuyển đã chứng minh), câu đối 3: Phật hiệu hoằng âm pháp giới tàng thân tùy độ kiến/ Quốc danh cựu lạc tịch quang chân cảnh đỗng trung huyền (Phật pháp sâu xa, rộng lớn tàng mình ẩn thân phù hộ, độ trì/Nước non nhà vẫn an lạc sáng ngời cảnh thanh trong).
Những tư liệu Hán Nôm ở quần thể di tích đình chùa Lũ Yên là một là tư liệu quý, đặc biệt là sưu tập văn bia cho thấy quần thể di tích này là một trong những trung tâm sinh hoạt Phật giáo của nhân dân địa phương. Đặc biệt là tầng lớp nho sỹ đương thời được trổ tài qua các tác phẩm trong đó có văn bia - một loại hình văn bản văn học độc đáo ngắn gọn, xúc tích, giàu tính xác thực.
Qua nội dung một số văn bia nói trên cho thấy các di tích đình - chùa ở làng xã có sự đóng góp công đức không nhỏ của các tầng lớp trong xã hội từ người dân thường đến những bậc quan viên, hương lão, kỳ mục, đặc biệt là phụ nữ. Trong số 10 văn bia kể trên, số người tham gia công đức chiếm phần nhiều là phụ nữ. Đây là con số được duy trì khá đều đặn trong số người làm công đức và cũng là con số điển hình trong các văn bia công đức tôn tạo di tích cổ ở huyện Phú Bình. Tư liệu Hán Nôm ở làng Lũ Yên cần được bảo tồn, gìn giữ, 10 bia đá cần được sắp xếp thành hàng lối theo thời gian và dịch thuật, phát huy giá trị góp phần giới thiệu quảng bá về một trong những danh lam cổ kính ở miền quê sông đào huyện Phú Bình.
(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.853-858)