VI | EN
11. Di sản Hán Nôm huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ (TBHNH 2004)
TBHNH 2004

DI SẢN HÁN NÔM

HUYỆN LÂM THAO - TỈNH PHÚ THỌ

LÊ CÔNG

Bảo tàng tỉnh Phú Thọ

Huyện Lâm Thao xưa kia vào thời Lê - Mạc cũng như dưới thời Nguyễn có tên là phủ Lâm Thao. Phủ Lâm Thao khác với các phủ huyện khác nơi đây vốn có truyền thống khoa bảng, hiếu học. Trải qua các khoa thi có Trạng nguyên, Bảng nhãn, dưới có các Sinh đồ đông đến hàng trăm, hàng ngàn. Có lẽ vì điều đó mà ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc - chữ Hán, Nôm được coi trọng. Các di tích lịch sử văn hóa luôn luôn được quan tâm tôn tạo, tu bổ: tổng số có 42 di tích đình - đến - miếu, 20 di tích chùa còn lưu giữ được thư tịch cổ Hán Nôm. Lâm Thao cũng là một trong những địa bàn còn lưu giữ được nhiều tư liệu Hán Nôm trong các di tích kiến trúc nghệ thuật với tổng số 315 tư liệu trong đó:

a. Chữ Hán, Nôm trên chất liệu đá có tại di tích:

* Bia có niên đại thời Lê, Mạc (9 chiếc):

- Bia chùa Thiên Quang - Đền Hùng, xã Hy Cương: Nhất bản xã tín thí bia bị mờ chỉ còn rõ một số chữ khắc tên ruộng cung tiến niên đại Gia Thái (1573), Triều vua Lê Thế Tông niên hiệu Duy Đường.

Bia chùa Phổ Quang, xã Xuân Lũng: Phổ Quang tự tu lý bi ký (ghi việc tôn tạo chùa Phổ Quang) lập năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628), niên hiệu của vua Lê Thần Tông.

- Bia chùa Bảo Cát, xã Cao Xá: Phù Phong xã Hạ thôn Bắc giáp ước bi (bia ghi điều lệ giáp Bắc thôn Hạ xã Phù Phong) lập năm Chính Hòa thứ 20 (1699), niên hiệu của vua Lê Hy Tông.

- Bia tứ diện chùa Bảo Cát, xã Cao Xá: Bảo Cát tự hưng công cấu tác (ghi việc hưng công tu tạo chùa Bảo Cát) được lập năm Chính Hòa thứ 25 (1704), niên hiệu của vua Lê Hy Tông.

- Bia chùa Kim Cương, xã Vĩnh Lại: Hưng công cấu tác (bia ghi việc hưng công tu tạo) lập năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707), niên hiệu của vua Lê Dụ Tông.

- Bia chùa Kim Cương (bia tứ diện), xã Vĩnh Lại lập năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707), niên hiệu của vua Lê Dụ Tông.

- Bia chùa Phúc Khánh, xã Hợp Hải: Phúc Khánh tự hưng công tạo bi (bia tạo ghi việc hưng công chùa Phúc Khánh) lập năm Vĩnh Thịnh thứ 4 (1708), niên hiệu của vua Lê Dụ Tông.

- Bia đền thờ Nguyễn Đình Tương, tạo lại từ bia Văn miếu Quốc tử giám năm Vĩnh Thịnh thứ 17 (1721), niên hiệu của vua Lê Dụ Tông.

* Bia có niên đại thời Nguyễn: 17 chiếc

- Bia chùa Quan Thánh, xã Bản Nguyên: Quan âm tự đại bi ký (bia lớn ghi việc chùa Quan Âm) lập năm Tự Đức thứ 1 (1848), niên hiệu của vua Nguyễn Dực Tông.

- Bia chùa Khánh Nghiêm, xã Bản Nguyên: Tự Đức Giáp Tuất quý hạ tân tạo (Làm lại bia vào cuối hạ năm Giáp Tuất Tự Đức) lập năm Tự Đức Giáp Tuất (1874) niên hiệu của vua Nguyễn Dực Tông.

- Bia chùa Thiên Quang, xã Hy Cương: Trùng tu Thiên Quang thiền tự bi ký (bia ghi việc trùng tu chùa Thiền Quang được lập vào ngày tốt tháng 10 năm Canh Tuất, Tự Đức thứ 3 (1850), niên hiệu của vua Nguyễn Dực Tông.

- Bia chùa Quan Thánh, xã Bản Nguyên: Lâm tế chính phái (phái thiền lâm tế) lập năm Tự Đức thứ 7 (1854), niên hiệu của vua Nguyễn Dực Tông.

- Bia từ chỉ đền Nguyễn Đình Tương, xã Sơn Vi Bản Nguyên lập năm Tự Đức thứ 19 (1866), niên hiệu của vua Nguyễn Dực Tông.

- Bia chùa Linh quang, xã Vĩnh Lại: Trùng tu Linh quang tự bi ký (ghi việc trùng tu chùa Linh Quang) lập năm Tự Đức thứ 33 (1880), niên hiệu của vua Nguyễn Dực Tông.

- Bia đền Xa Lộc, xã Tứ Xã lập năm Đồng Khánh thứ 2 (1887), niên hiệu của vua Nguyễn Cảnh Tông.

- Bia ghi giỗ hậu chùa Linh Quang, xã Vĩnh Lại lập năm Tự Đức thứ 33 (1880), niên hiệu của vua Nguyễn Dực Tông.

- Bia đền Thượng - Đền Hùng, xã Hy Cương lập năm Duy Tân thứ 8 (1914), niên hiệu của vua Nguyễn Duy Tân. Bia ghi họ tên các quan viên trong hội đồng trùng tu.

- Bia chùa Thiên Quang - Đền Hùng, xã Hy Cương ghi việc sửa đường lên núi Hùng Sơn lập năm Khải Định thứ 2 (1917), niên hiệu vua Nguyễn Hoằng Tông.

Tổ quốc Cổ Tích bi ký (bia ghi Tổ quốc trên núi Cổ Tích do Lê Đình Xán Phó bảng khoa Tân Sửu (1901) soạn.

- Bia chùa Vĩnh Ninh, thị trấn Lâm Thao: Cao Mại bi lập năm Bảo Đại thứ 3 (1927), niên hiệu vua Nguyễn Bảo Đại.

- Bia Đền Thượng - Đền Hùng, xã Hy Cương: Hùng miếu điển lệ bi lập năm Khải Định thứ 8 (1923), niên hiệu vua Nguyễn Hoằng Tông.

- Bia đền Thượng - Đền Hùng nội dung khảo về đền Hùng Vương, ghi việc tôn tạo các ngôi đền. Bia khắc ngày 10/3 năm Canh Thìn niên đại Bảo Đại thứ 15 (1940).

- 2 Bia Đền Giếng - Đền Hùng, xã Hy Cương lập năm Khải Định thứ 8 (1923), niên hiệu vua Nguyễn Hoằng Tông.

- Bia Đền Thượng - Đền Hùng, xã Hy Cương: Hùng miếu kỷ niệm bi lập năm Khải Định thứ 8 (1923), niên hiệu vua Nguyễn Hoằng Tông.

Đặc biệt ở huyện Lâm Thao còn có một cổ vật giá trị đó là bệ đá hoa sen chùa Xuân Lũng. Đây là một cổ vật có giá trị nghệ thuật điêu khắc đá mà trên đó còn khắc ghi các dòng chữ Hán ghi niên đại có thể được coi là bức thông điệp của ông cha để lại cho thế hệ hôm nay những thông tin về một giai đoạn lịch sử cách đây trên 600 năm giúp chúng ta khẳng định một cách chính xác, tuyệt đối về niên đại và những người công đức tác phẩm nghệ thuật có giá trị duy nhất của tỉnh Phú Thọ.

Tầng 3 của bệ đá hoa sen ghi: “Xương Phù thập niên, Đinh Mão tuế, nhị nguyệt thập nhị nhật, điền chủ tiểu học chi hầu Nguyễn Chiêu tự việt ngộ không cư sĩ tịnh thê Nguyễn Thị Sửu tự viết công tín tu tạo khánh tịnh thạch tòa vi tam bảo”. (Dịch: Ngày 12 tháng 2 năm Đinh Mão niên hiệu Xương Phù thứ 10 (1388) điền chủ học chi hầu Nguyễn Chiêu và vợ là Nguyễn Thị Sửu tên tự Công Tín cung tiến khánh đá tòa tam bảo).

Ô số 4 mặt trước bệ đá ghi: “Sử đài điền ngự thư hà chính thư Nguyễn Nạp tự viết Đạo Cư Sĩ cộng tạo ban thạch hoàng tòa cư tam bảo”. (Dịch: Sử đài điền ngự thư hà chính thư tên là Nguyễn Nạp tự là Đạo Cư Sĩ cùng cung tiến tòa đá tam bảo vào chùa).

b. Chữ Hán, Nôm có trên chất liệu đồng ở di tích

* Chuông có niên đại thời Lê 1 chiếc

Chuông chùa Kim Cương, xã Vĩnh Lại: Dương Trù hồng chung Kim Cương tự ký (đúc chuông lớn ghi công đức chùa Kim Cương) tạo năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707), niên hiệu của vua Lê Dụ Tông.

* Chuông có niên đại thời Nguyễn 12 chiếc

- Chuông chùa Phúc Ân, xã Sơn Vi, tạo năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) niên hiệu của vua Nguyễn Thánh Tổ.

- Chuông chùa Phổ Quang, xã Xuân Lũng: Phổ Quang tự chung tạo năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), niên hiệu của vua Nguyễn Thánh Tổ.

- Chuông chùa Phúc Long, xã Thạch Sơn: Phúc Long tự chung tạo năm Minh Mệnh thứ 20 (1839) niên hiệu của vua Nguyễn Thánh Tổ.

- Chuông chùa Bồ Đề, xã Vĩnh Lại: Bồ Đề tự chung tạo năm Minh Mệnh thứ 20 (1839) niên hiệu của vua Nguyễn Thánh Tổ.

- Chuông chùa Khánh Nghiêm, xã Kinh Kệ: Khánh Nghiêm tự chung tạo năm Tự Đức Giáp Thân (1852), niên hiệu của vua Nguyễn Dực Tông.

- Chuông chùa Sơn Lôi, xã Cao Xá: Sơn Lôi tự chung tạo năm Tự Đức thứ 4 (1853), niên hiệu của vua Nguyễn Dực Tông.

- Chuông chùa Quan Thánh, xã Bản Nguyên: Quan Thánh tự chung tạo năm Khải Định thứ 6 (1921), niên hiệu của vua Nguyễn Khải Định.

- Chuông chùa Vân, xã Tứ Xã: Thắng Sơn tự chung tạo năm Khải Định thứ 10 (1925), niên hiệu của vua Nguyễn Khải Định.

- Chuông chùa Vĩnh Ninh, xã Sơn Vi: Vĩnh Ninh tự chung không có niên đại.

- Chuông chùa Thiên Quang - Đền Hùng, xã Hy Cương, không có niên đại chỉ khắc ghi: “Đại Việt quốc, Sơn Tây đạo, Lâm Thao phủ, Sơn Vi huyện, Hy Cương xã, Cổ Tích thôn Cư Phụng”.

- Chuông chùa Linh Quang, xã Vĩnh Lại: Kỷ Hợi niên chế đúc năm Kỷ Hợi (?)

- Chuông chùa Trình, xã Vĩnh Lại: Trình Xá tự chung tạo Minh Mệnh, năm 1821 (hiện đang lưu giữ tại Thư viện KHTH tỉnh)

* Khánh đồng có niên đại thời Nguyễn 3 chiếc

- Khánh chùa Kim Cương, xã Vĩnh Lại: Kim Cương tự, Khánh lục ký (khánh ghi chép công đức chùa Kim Cương) tạo năm Cảnh Thịnh thứ 8 (1800), niên hiệu của vua Nguyễn Quang Toản.

- Khánh chùa Phổ Quang, xã Vĩnh Lại: Phổ Quang tự khánh tạo năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), niên hiệu của vua Nguyễn Thánh Tổ.

- Khánh chùa Phúc Ân, xã Sơn Vi: Phúc Ân tự khánh tạo năm Minh Mệnh thứ 13 (1839), niên hiệu của vua Nguyễn Thánh Tổ.

* Chữ Hán, Nôm còn trên chất liệu gỗ ở di tích

+ Mộc bản Đền Nguyễn Đình Tương, xã Xuân Lũng lập năm Tự Đức thứ 20 (1867), niên hiệu của vua Lê Dụ Tông.

+ Mộc bản chùa Kim Cương, xã Vĩnh Lại lập năm Quý Mùi (1883).

+ Mộc bản sớ Phật, kinh vu lan chùa Sơn Dương, xã Sơn Dương không có niên đại.

- Hoành phi (đại tự gỗ) 48 chiếc

- Câu đối 71 đôi trong đó câu đối gỗ cổ 36 đôi, còn lại là câu đối khắc tường.

Thượng lương, câu đầu ghi niên đại xây dựng, trùng tu, sửa chữa có 31 di tích có niên đại trên câu đầu trong đó có 19 di tích có niên đại tu sửa và xây dựng thời Lê như Đền Lời xã Vĩnh Lại, Chùa Nghiêm Quang xã Kinh Kệ, Đình Bình Chính - Đông Chấn… Còn lại là xây dựng và tu sửa thời Nguyễn.

+ Câu đầu: ghi các sao chiếu, ngày tốt như: “Tử vi tinh chính chiếu, hoàng đạo nhật quang lâm”…

d. Chữ Hán, Nôm trên chất liệu giấy ở di tích

+ Ngọc phả, thần tích kiểm kê được 37 cuốn, có 19 cuốn ngọc phả liên quan tới vua Hùng và các tướng lĩnh, 7 cuốn các vị Thành hoàng làng, 11 cuốn liên quan tới tướng lĩnh 2 Bà Trưng. Các ngọc phả, thần tích đều giữ được nguyên bản gốc, được Nguyễn Bính soạn, thời Hồng Phúc nguyên niên 1572 và sao lại năm Vĩnh Hựu 2 (1736), niên hiệu vua Lê Ý Tông, ngoài ra còn 9 cuốn sách nhà Phật chủ yếu là sách cúng và kinh phật đã được kiểm kê.

+ Sắc phong 112 đạo trong đó có 32 đạo sắc Lê, 3 đạo sắc Quang Trung, còn lại là sắc thời Nguyễn. Các sắc phong và ngọc phả, thần tích được bảo quản tốt./.

Thông báo Hán Nôm học 2004 (tr.76-82)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm