12. Bảo quản tài liệu, hiện vật Hán Nôm, di sản văn hóa trong bảo tàng, di tích Việt Nam (TBHNH 2012)
12. Bảo quản tài liệu, hiện vật Hán Nôm, di sản văn hóa trong bảo tàng, di tích Việt Nam (TBHNH 2012)
BẢO QUẢN TÀI LIỆU, HIỆN VẬT HÁN NÔM,DI SẢN VĂN HOÁ TRONG BẢO TÀNG, DI TÍCH VIỆT NAM
VŨ NGUYỄN NGỌC CHI
Cục Di sản văn hóa, Bộ VHTTDL
ngành di sản văn hóa Việt Nam hiện đang được nhà nước giao quản lý một khối lượng lớn tài liệu, hiện vật với số lượng hàng triệu đơn vị hiện vật, các di sản văn hóa này hiện đang được trưng bày, lưu giữ trong hệ thống 134 bảo tàng và tại hơn 4 vạn di tích đã được kiểm kê, đây là những di sản văn hóa của dân tộc có giá trị lịch sử, nghệ thuật, khoa học…. trong số đó, có rất nhiều di sản văn hóa là tài liệu, hiện vật Hán Nôm. Trong những năm qua, thực hiện Luật di sản văn hóa, thông qua việc triển khai, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa của Chính phủ và các hoạt động xã hội hóa của nhân dân, việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa trong đó có di sản văn hóa Hán Nôm đã được một số bảo tàng, di tích trong ngành triển khai có hiệu quả với các hoạt động bảo quản, sưu tầm, kiểm kê, trưng bày tài liệu, hiện vật và tôn tạo về cơ sở vật chất của bảo tàng, di tích. Tuy nhiên,với thực trạngngoài một số Bảo tàng lớn có điều kiện thực hiện bảo quản tài liệu, hiện vật do được đầu tư trang thiết bị bảo quản trên trưng bày và tại kho hiện vật, vẫn còn nhiều bảo tàng, di tích của Việt Nam do thiếu điều kiện thực hiện nên chưa đảm trách tốt việc bảo quản cho các tài liệu, hiện vật - trong đó có tài liệu, hiện vật Hán Nôm. Đồng thời, do phần nhiều tài liệu, hiện vật Hán Nôm trong bảo tàng, di tích Việt Nam là hiện vật chất liệu hữu cơ rất đa dạng, phong phú về nội dung và loại hình nên việc bảo quản tài liệu, hiện vật Hán Nôm nói riêng cũng như bảo quản các hiện vật ở bảo tàng, di tích nói chung (cả trên trưng bày và kho bảo quản) trong điều kiện về thiên nhiên và kinh tế xã hội của Việt Nam hiện nay, đây là một công việc cấp bách với nhiều yêu cầu đặt ra, cần vượt qua khó khăn đối với ngành di sản văn hóa và cán bộ làm công tác bảo quản.
1. Về tài liệu, hiện vật Hán Nôm là di sản văn hóa trong bảo tàng và di tích
Di sản văn hóa Hán Nôm trong bảo tàng và di tích Việt Nam, là các tài liệu, hiện vật giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về lịch sử, văn hóa dân tộc, chúng thường là cổ vật, cổ thư, cổ sử và được phân thành 02 mảng chất liệu chính. Thứ nhất, là hiện vật vô cơ (đồng, đá, sứ…) như: văn bia, văn chuông, khánh, bệ, cột mốc, gạch, đồ gốm sứ…Thứ hai, là hiện vật hữu cơ (giấy, vải, gỗ, da…) như: mộc bản, kinh, sử, tập, phật, đạo, châu bản, hoành phi, câu đối, đạo sắc phong, đại tự, bài vị, ngai thờ, thần phả, thần tích, bằng cấp, đinh bạ, điền bạ, địa chí, cổ chí, xã chí, tộc phả, gia phả, khế ước,hương ước, đơn khai, văn tế, trát văn, văn cúng, sách thuốc, di chúc, phân thơ, nhật ký, tuồng, thơ, văn…. Trong đó di sản văn hoá Hán Nôm dạng cổ vật, cổ thư thường có nguồn gốc và gắn liền với các di tích, hệ thống công trình kiến trúc như đình, đền, chùa, miếu, phủ, lăng tẩm. Còn di sản văn hoá Hán Nôm được lưu giữ trong các bảo tàng thường ở dạng cổ vật, cổ thư, cổ sử; đây cũng là đối tượng nghiên cứu khoa học của các ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn như: triết học, sử học, văn học, khảo cổ học, nhân học….
2. Tổng quan về môi trường tồn tại của các tài liệu, hiện vật Hán Nôm tại bảo tàng, di tích
Khí hậuViệt Namvới đặc điểm rất phức tạp do vị trínằm hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới của nửa cầu bắc,và vị trínàyđã tạo cho Việt Nam có một nền nhiệt độ cao (nhiệt độ trung bình năm từ 220C-270C). Tuy nhiên,nhiệt độ trung bình ở từngvùngcóchênh lệchkhác nhau,nhưHà Nội 230C, Thành phố Hồ Chí Minh là 260C, Huế 250C.
Với sốngày mưa ở Việt Namdao độngkhoảngtrên dưới 100 ngày /năm,lượng mưa trung bình năm từ 1500 mm-2000 mm, độ ẩm không khí trên dưới 80%, sốgiờ nắng khoảng 1500 - 2000 giờ/ năm, bức xạ nhiệt trung bình năm 100 kcal /cm2. Sosánhvới các nướctrong khu vực,nhiệt độ ở Việt Nam về mùa đông lạnh hơn và mùa hạ ít nóng hơnvàViệt Namlại cónhiệt độ trung bình thấp hơncácnước khác cùng vĩ độ ởkhu vựcChâu ÁdoViệt Nam chịu sự tác động mạnh của gió mùa Đông Bắc,tác nhân gây sự khác biệt vềnhiệt độ trung bình.
Chịu sựảnh hưởng gió mùa,donằm bên bờ Thái Bình Dương, lại cósự phức tạp về địa hình,nên khí hậu của Việt Nam luôn luôn thay đổi trong năm, từ giữa năm này với năm khác và giữa nơi này với nơi khác (từ miền Bắc trở xuống miềnNam và từđồng bằng dướithấp lênmiền núicao). Khí hậu Việt Nam cũng bất lợi về thời tiết như bão (với dao động từ6đến10 cơn bão và áp thấp nhiệt đới / năm) đãgây ra lũ lụt, hạn hán… thường xuyên đe dọa.Đặc biệt, trong những năm gần đây, do ảnh hưởng biến đổi khí hậu toàn cầu, nhiệt độ lại càng xuất hiện thay đổi bất thường, như tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nơi tập trung - có nhiều bảo tàng, di tích của miền Nam bị ảnh hưởng chung của khu vực vì ngập, lụt do triều cường.Điều kiện khí hậunhư đã nêutrênlà một trong những nguyên nhân tạo ra các hiện tượngtrực tiếp và gián tiếp gây tác hại, làmhư hỏng tài liệu, hiện vậtlưu trữtrong bảo tàng, di tích, đặc biệt là các tài liệu, hiện vật Hán Nôm.
3. Những nhân tố gây ảnh hưởng, rủi ro đối với tài liệu, hiện vật Hán Nôm
Chúng ta có thể nêu ra, các nhân tố gây ảnh hưởng, rủi ro là: điều kiện tự nhiên, ánh sáng, môi trường, côn trùng, nấm mốc, chất hóa học... Trong đó, điều kiện khí hậu, môi trường bảo quản tài liệu, hiện vật ở Việt Nam chính là nguyên nhân khách quan đã gây ra những hư hại, rủi ro cho tài liệu, hiện vật nói chung và trong đó có tài liệu, hiện vật Hán Nôm chịu ảnh hưởng nhiều nhất.
-Nóng và ẩm làm gia tăng tác động của acid, làm mềm độ kết dính, làm yếu hiện vật chất liệu hữu cơ, đây là yếu tố phá hoại mạnh nhất đối vớitài liệu, hiện vật. Khitài liệu, hiện vật hữu cơ bị ẩm thìtài liệu, hiện vật sẽ mục dần.Độ ẩmtương đối nước ta trung bình từ 80 - 90%, vùng núi thìđộ ẩmcàng lớn. Độ ẩmcao tạo điều kiện chất khí trong môi trường và các chất hoá học củatài liệudễ dàng hoà tan, làm cho chữ viết bị hoen nhoè, mực bị bay màu… Ngoài ra,độ ẩm cao còn là môi trường tạo điều kiện cho nấm mốc, vi sinh vật, côn trùng phát triển (hầu hết côn trùng và nấm phát triển và sinh sản tốt trong môi trường nhiệt độ ấm và có độ ẩm). Vì vậy, việc chống ẩm được đặt lênhàngđầu trong công tácbảo quảntài liệu, hiện vật Hán Nôm ở nước ta.Khi nhiệt độ cao sẽ làm cho giấy, vải giòn hơn.Đồng thời, trong việcbảo quản phải coi trọng chếđộ ẩmvànhiệt độthích hợp đối với từng thể loạitài liệu, hiện vật với các loại giấy, chữ viết, mực có thuộc tính hóa học khác nhau. Sự dao động về độ ẩm và nhiệt độ sẽ còn ảnh hưởng tới các loại tài liệu có độ hút ẩm cao, đây là nguyên nhân khiến các tài liệu, hiện vật bị biến dạng.
- Bức xạ ánh sáng là nguyên nhân gây hiện tượng quang hóa sẽ làm cho hiện vật hữu cơ bị yếu đi, mực và màu bị mờ, bạc và làm vàng ố giấy do hiện vật hữu cơ sản xuất từ bột gỗ, các xenlulô tổng hợp….Vì trongánh sángcó tia tử ngoại, tia này sẽ làm biến đổi cấu trúc của sợi giấy, cấu trúc của phân tử mực và chất kết dính. Trong trưng bày,bảo quảntài liệu, hiện vật hữu cơ chúng ta không nên đểánh sángchiếu trực tiếp vàotài liệu, hiện vật.
- Bụi sản sinh từ trong không khí, bào tử nấm mốc, bụi chứa trong các loại vật liệu dùng trong trưng bày, bảo quản dễ làm hiện vật bị hoen, gỉ.Bụi là mộtnhântố phá hoại đáng kể, nhất là ở nước ta khi nhiều bảo tàng, di tích nằm tại các trung tâm thành phố, khu du lịch nơi điều kiện vệ sinh môi trường kém và đặc biệt các thành phố nằm theo các bãi cát vùng biển như Quảng Ninh, Thanh Hoá, Huế, Đà Nẵng đặc biệt là Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Phú Yên, Bình Định và các khucông nghiệplớn như Hà Nội, Việt Trì, Thái Nguyên… Thêm nữa do cấu tạo của địa hình bờ biển trải dài nên gió ở nước ta rất mạnh, nhiều cơn gió xoáy manghàngtrăm tấn bụi trên không trung và chui vào khắp mọi nơi. Bụi gồm nhiều loại: bụi cơ khí, bụi sinh vật… Bụi cơ khí bám vàotài liệu, hiện vật gây nên cọ sát làm thành các vết xước hư hạitài liệu, hiện vật. Bụi vi sinh vật mang theo nhiều bào tử nấm, mốc, côn trùng sẽ bám vàotài liệu, hiện vật và khi đó những bào tử đó khi có điều kiện, cơ hội nảy nởphát triển sẽ phá hoạitài liệu, hiện vật.
- Nấm và mốc tạo ra acid phá hủy tài liệu, hiện vật, ảnh hưởng đặc biệt tới giá trị của tài liệu, hiện vật Hán Nôm, khiến cho tài liệu, hiện vật dễ bị phá hủy và biến màu, tuần hoàn trở lại trong môi trường có tính acid nấm và mốc rất phát triển.
- Acid là nguyên nhân của thủy phân acid (acid hydrolysis) - là hiện tượng của việc hiện vật hữu cơ bị phá hủy, giấy - hiện vật hữu cơ bị yếu đi. Các nguồn acid có trên chất liệu giấy, vải được sản sinh là từ quá trình sản xuất giấy, ở mực, ở kho chứa, ở vật liệu làm khung trưng bày và do ô nhiễm không khí.
- Các loại côn trùng và loại gặm nhấm (đa dạng về nơi cư trú, nguồn gốc thức ăn và tập tính hoạt động) là kẻ thù nguy hiểm củatài liệu, hiện vật Hán Nôm trong bảo tàng, di tích, thiệt hại do chúng gây ra đối với tài liệu, hiện vật là rất nhanh, hậu quả thiệt hại lớn và không thể khôi phục được. Những côn trùng thường gặp trên các hiện vật hữu cơ là mối, mọt, nhậy, bọ bạc, bọ cánh cứng,… Các loài gặm nhấm là gián, chuột, thường cắntài liệu, hiện vật, và chúng còn làm hỏng phương tiện trưng bày, bảo quản. Vì vậy, việc phòng, chống côn trùng và các loài gặm nhấm trên trưng bày,bảo quảntài liệu, hiện vật cũng là vấn đề tại bảo tàng, di tích hiện nay.
- Con người làm bẩn tài liệu, hiện vật trong quá trình bảo quản, phát huy giá trị (cầm, tác động đến tình trạng vật lý, dùng bút viết mực, dính, ghim tài liệu, hiện vật…).
- Điều kiện kho bảo quản kém, do thiếu phương tiện, thiết bị kỹ thuật, thiếu diện tích, phương tiện kệ, giá, tủ khiến tài liệu, hiện vật trưng bày, bảo quản đã bị nhồi, xếp chặt, đặc biệt là khi lưu trữ các hiện vật giấy có khổ lớn….
- Rủi ro khácdo thiên nhiên, bão, lũ lụt…đặc biệt là những trận lụt bão lớn lịch sử liên tiếp trong những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 như: 1971, 1985, 1989, 1999, 2001, 2003, 2008, 2010. Ngoài ra còn là những biến cố về chính trị, chiến tranh vũ trang xảy trong lịch sử cũng gây nên những tổn thất đáng kể cho tài liệu, hiện vật Hán Nôm.
4. Những trường hợp hư hại, mất mát đối với các tài liệu, hiện vật là di sản văn hóa Hán Nôm
- Tài liệu, hiện vật Hán Nôm bị biến dạng, biến đổi về chất do khí hậu: như chúng ta đã biết, ánh sáng, nhiệt độ và độ ẩm có tác động rất lớn đối với các chất liệu hiện vật, nếu độ ẩm cao trong thời gian dài (độ ẩm trên 70%) thì sẽ gây nên tình trạng nấm và mốc hình thành trên những bề mặt của hiện vật là chất vô cơ và chất hữu cơ; thay đổi tình trạng làm giãn, nở các chiều của các hiện vật có chất liệu xenlulô, prôtêin,…; khoáng hóa những hiện vật, bột hóa bề mặt hiện vật là đá, gốm và làm mờ, mất hoa văn chạm khắc; ăn mòn, làm thủng, làm xốp giòn, nứt gãy những hiện vật có chứa chất sắt và các hợp kim đồng; ngưng tụ nước tổng hợp có hại trên bề mặt hiện vật khi nhiệt độ ở xung quanh xuống tới mức dưới độ ngưng...Với trường hợp những ngày có nhiệt độ cao và nắng nóng sẽ làm khô và giòn những tài liệu, hiện vật có chất liệu xenlulô, prôtêin và làm cong vênh đồ gỗ hay đồ sơn thếp có chứa gỗ, gây ra nứt và vỡ; làm khô những lớp keo, lớp sơn thếp và những bổ trợ trên hiện vật. Hoặc nếu nhiệt độ và độ ẩm luôn luôn dao động hay chuyển đổi quá đột ngột, các tài liệu, hiện vật bằng giấy như sách, tài liệu, báo sẽ bị bay chữ, biến màu, mủn, giòn và dễ gãy; các hiện vật thuộc nhóm chất hữu cơ sẽ bị thay đổi tính chất, màu sắc, các hiện vật bằng gỗ sẽ bị giãn nở hoặc co, gây ra tình trạng cong vênh, vỡ, nứt, rạn.
- Tài liệu, hiện vật Hán Nôm bị hư hại, hủy hoại do côn trùng, vi khuẩn, ký sinh trùng, loài gặm nhấm: sâu, bọ, gián, chuột, mối, đục lỗ, ăn ruỗng tài liệu giấy, gỗ; bào tử nấm mốc làm biến màu, chuyển màu tài liệu, hiện vật đặc biệt là các tài liệu, hiện vật là cổ thư, cổ sử.
- Tài liệu, hiện vật Hán Nôm bị hư hại, hủy hoại do thiếu phương tiện kỹ thuật cho trưng bày, bảo quản: tại các bảo tàng, đã phần nào được đầu tư trang thiết bị kỹ thuật cho trưng bày, bảo quản tài liệu, hiện vật, tuy nhiên, tại các di tích, phương tiện bảo quản chưa được quan tâm đầu tư nên tàiliệu, hiện vật Hán Nôm chưa được bảo quản tốt, còn sơ sài (như sắc phong, thần phả, sách… thường được đựng trong ống giấy, gỗ, tre hoặc chỉ cuốn lại với giấy bao bên ngoài, trưng bày trong khung bị mọt, bị hư hỏng do ẩm, côn trùng phá hoại…, bia, khánh, bệ, mốc… không có mái che, còn để ngoài môi trường thiên nhiên…).
- Tài liệu, hiện vật Hán Nôm bị mất trộm do thiếu phương tiện an ninh, bảo vệ hoặc do tổ chức, cá nhân được giao lưu giữ, bảo quản thiếu hiểu biết về giá trị của tài liệu, hiện vật.
5. Một số nguyên tắc trong bảo quản các tài liệu, hiện vật là di sản văn hóa Hán Nôm
Một trong những nguyên tắc đầu tiên là cần phải bảo quảntài liệu, hiện vậtHán Nômtrongđiều kiện môi trường tốt. Đó là cần kiểm soát ánh sáng, giữ tài liệu, hiện vật Hán Nôm xa ánh sáng tự nhiên chiếu trực tiếp vào tài liệu, hiện vật và không để điều kiện nhiệt độ bị duy trì ở mức quá nóng hoặc quá lạnh, môi trường cần sạch bụi. Nhiệt độ và độ ẩm lý lưởng cần duy trì là130C-180C/độ ẩm dưới 65%.Nếu không có điều kiện thì cũng cần tạo môi trường thông thoáng, tránh để trong môi trường có độ ẩm cao. Là cần kiểm soát côn trùng, nguồn dinh dưỡng của côn trùng, chất liệu mà côn trùng sẽ xâm nhập đối với tài liệu, hiện vật (giấy, vải, gỗ..), kiểm soát sự phát triển - lan truyền của côn trùng, phát hiện và xử lý sự lây nhiễm của chúng. Nhận dạng côn trùng để có chính sách can thiệp, xử lý. Là cần lựa chọn và sử dụng thiết bị, phương tiện bảo quản phù hợp với môi trường, khí hậu, tài liệu, hiện vật và tài chính (thiết bị điều tiết môi trường, phòng chống rủi ro, đo các thông số kỹ thuật, thiết kế hệ thống - phương tiện trưng bày, bảo quản…). Là phải xây dựng kế hoạch kiểm tra định kỳ và đề xuất các biện pháp xử lý tình huống. Là tổ chức bảo quản phòng ngừa đối với tài liệu, hiện vật cả trưng bày trong nhà và trưng bày ngoài trời. Và lập hồ sơ bảo quản để đảm bảo tính khoa học trong quá trình bảo quản.
Khi thực hiện xử lý các hư hại của tài liệu, hiện vật Hán Nôm, do bất kỳ nguyên nhân nào tài liệu, hiện vật cũng cần phải được bảo quản hoặc tham khảo ý kiến bảo quản bởi những cán bộ chuyên ngành bảo quản, những người được đào tạo chuyên về kỹ thuật bảo quản.
6. Giải pháp cần thiết cho việc bảo quản các tài liệu, hiện vật là di sản văn hóa Hán Nôm
Thứ nhất,cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về Luật di sản văn hóa và những quy định của pháp luật về di sản văn hóa đến nhân dân nhằm làm thay đổi nhận thức của toàn xã hội trong đó có các cán bộ, các đối tượng đang giữ gìn các di sản văn hóa Hán Nôm tại bảo tàng, di tích… làm cho họ thấy sự cần thiết của việc thực hiện công tác bảo quản đối với những tài liệu, hiện vật Hán Nôm như đã nêu trên.
Thứ hai,cần tổ chức tổng kiểm kêphân loại tài liệu, hiện vật Hán Nôm trong hệ thống bảo tàng, di tích để phân loại, đánh giá và xây dựng kế hoạch bảo quản.
Thứ ba,thực hiện kế hoạch tư liệu hóa tài liệu, hiện vật Hán Nôm thông qua lưu trữ bằng vật mang tin khác: vi phim, đĩa quang học CD-ROM… bằng phương pháp quét, sao chụp toàn văn các tài liệu, hiện vật.
Thứ tư,ban hành các quy chế sử dụng, bảo quản các loại tài liệu, hiện vật Hán Nôm đặc biệt là các tài liệu quý, hiếm tại bảo tàng, di tích.
Thứ năm,đầu tư về kinh phí của nhà nước và huy động nguồn xã hội hóa để thực hiện việc bảo quản, phục hồi các tài liệu, hiện vật Hán Nôm…
Thứ sáu,tăng cường trang thiết bị kỹ thuật để bảo quản tài liệu, hiện vật Hán Nôm, đặc biệt là các tài liệu, hiện vật chất hữu cơ; nâng cao chất lượng công tác đào tạo cán bộ làm công tác bảo quản tại các cơ sở đào tạo như trường đại học và các cơ quan nghiên cứu về bảo quản tài liệu, hiện vật Hán Nôm
Thứ bảy,cần có sự giúp đỡ, hợp tác của quốc tế trong việc bảo quản tài liệu, hiện vật Hán Nôm. Thông qua sự giúp đỡ này, trình độ nghiệp vụ về bảo quản tài liệu, hiện vật Hán Nôm của các cán bộ chuyên môn trong ngành di sản văn hóa nói chung, tại các bảo tàng, di tích nói riêng sẽ được nâng cao và đáp ứng sự hội nhập quốc tế về chuyên môn, nghiệp vụ.
Kết luận
Bảo quảntài liệu, hiện vật Hán Nôm, di sản văn hóa ở bảo tàng, di tích Việt Nam là một công việc thường xuyên và mãi mãi của ngành di sản văn hóa, cơ quan bảo vệ và phát huy giá trị di sản của dân tộc. Công việc này rất cầnsự quan tâm của toàn xã hội thông qua việc đầu tư bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa nói chung, sự quan tâm này, không chỉ là đầu tư cho các công trình kiến trúc bảo tàng, di tích, mà rất cần đầu tư cho việc bảo quản và phát huy giá trị các tài liệu, hiện vật trong đó có các tài liệu, hiện vật Hán Nôm tại bảo tàng, di tích. Có như thế, chúng ta mới chặn đứng được nguy cơ bị mất hoặc những tác động rủi ro sẽ phá hủy tài liệu, hiện vật Hán Nôm, góp phần bảo vệ, lưu giữ một cách khoa học, bền vững cho muôn đời sau loại hình di sản quý giá, tài sản quốc gia, dân tộc mà cha ông ta đã sáng tạo lưu truyền cho hậu thế./.
(Thông báo Hán Nôm học 2012, tr.99-109)