VI | EN
12. Kiểm tự - một nguồn tài liệu, một nội dung đáng chú ý trong hệ thống sách dạy chữ Hán cho bậc sơ học ở Việt Nam thời trung đại (TBHNH 2010)
(TBHNH 2010)

KIỂM TỰ - MỘT NGUỒN TÀI LIỆU, MỘT NỘI DUNG ĐÁNG CHÚ Ý TRONG HỆ THỐNG SÁCH DẠY CHỮ HÁN CHO BẬC SƠ HỌC Ở VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI

PHẠM VÂN DUNG

Trường ĐH KHXH & Nhân văn Hà Nội

Trong bài viết “Về truyền thống biên soạn sách dạy chữ Hán ở Việt Nam thế kỉ XVIII- XIX”(1), tác giả Phạm Văn Khoái đã có những phân tích và nhận định sâu sắc về nội dung cũng như phương thức biên soạn sách dạy chữ Hán ở Việt Nam giai đoạn này. Tác giả tổng kết: “Sách dạy chữ Hán Việt Nam nếu xét về phương diện ngôn ngữ có thể được chia làm hai loại: loại đơn ngữ (thuần túy chữ Hán) và loại song ngữ (Hán Việt)”. Loại thứ nhất “theo tinh thần thuần túy dạy những tri thức, đạo lý của Nho giáo, những tri thức này vốn được tổng kết từ Tứ thư, Ngũ kinh hay tính lý của Tống Nho” nhưng “vẫn không quên thực tế lịch sử Việt Nam”. “Loại thứ hai có thể thuần túy các bảng từ đối chiếu Hán Việt, có thể ở dạng từ điển, có thể ở những sách cắt nghĩa chữ Hán bằng chữ Nôm”.

Ở bài viết này, chúng tôi muốn đề cập thêm một nguồn tài liệu, một nội dung khác nữa rất đáng chú ý trong hệ thống sách dạy chữ Hán cho bậc sơ học ở Việt Nam thời trung đại: sách hướng dẫn cách viết chữ Hán cho đúng mà chúng tôi đã chọn một trong những tên sách thuộc loại này làm tên gọi chung là loại sách “kiểm tự” (kiểm xét về chữ).

Sơ bộ khảo sát qua Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu(2), chúng tôi thống kê được một số sách có nội dung thuộc loại này như sau:

1. Cổ Ngu chính ngộ tứ ngôn thi: 1 bản viết, 20 tr., 27x16, mang kí hiệu VHv. 2611.

2. Kiểm tự: Dương Gia Huấn biên soạn, in tại chùa Hưng Phúc năm Thành Thái thứ 7 (1895), 1 bản in, 40 tr., 26x16cm, 1 dẫn, kí hiệu A.2452. Nội dung: Sách hướng dẫn cách viết chính xác 232 chữ Hán, trình bày dưới hình thức những câu văn 4 chữ, có vần.

3. Tự học cầu tinh ca: Đỗ Huy Uyển biên tập, Tô Thúc Đạt hiệu bổ âm nghĩa, Vị Văn đường và Phúc Thọ đường in năm Tự Đức thứ 23 (1879) 3 bản in, 1 tựa, có chữ Nôm, mang kí hiệu A.1567: 38 tr., 27x16cm, Vị Văn Đường tàng bản; A.2401, VHv.2456, Paris. BN.A.17 Vietnamien: 38 tr., 27x15cm, Phúc Thọ Đường tàng bản; MF.2328 (A.2401). Nội dung: Sách học chữ Hán, soạn theo thể 6-8, có hướng dẫn cách viết, và phát âm đúng.

4. Tự học huấn mông: Lê Trực soạn, chép năm Tự Đức thứ 30 (1879), 1 bản viết, 140 tr, 30x24cm, 1 tựa, kí hiệu: A.1138. Nội dung: Bản mẫu chữ viết dùng để hướng dẫn người mới học chữ Hán.

5. Tự học tứ ngôn thi: Lê Trực hiệu Hạc Lộ, tự Cổ Ngu soạn. Chép năm Tự Đức thứ 30 (1882), theo bản Phúc Văn đường, 1 bản viết, 52 tr., 25x15cm, 1 tựa. Kí hiệu A.2495; MF.2331. Nội dung: Cách tự học chữ Hán (sách soạn theo thể thơ 4 chữ). Có chú ý tới các chữ viết, hoặc dễ nhầm lẫn.

Như vậy, so với 13 bộ sách thuộc mục Ngôn ngữ hầu như dành cho học chữ Hán mà nhà Thư mục học Trần Văn Giáp thống kê trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm(3) thì 5 đầu sách và 7 văn bản có nội dung chuyên về văn tự như trên là một tỉ lệ rất đáng chú ý. Các văn bản đều có niên đại biên soạn và lưu hành vào thế kỉ XIX. Nội dung đều tập trung hướng dẫn cách viết chữ cho đúng, và được trình bày dưới dạng “tứ ngôn thi” hoặc thể 6 - 8. Điều đó cho thấy sự chú ý đến phương thức giáo dục sao cho dễ nhớ đối với đối tượng sơ học còn ít tuổi, non kiến thức. Điều đó cũng thể hiện một xu hướng muốn chuẩn hóa cách viết chữ Hán vào giai đoạn nền chính trị nước nhà đầy biến động, nền văn hóa, tư tưởng nước nhà cũng lắm chung chiêng. Đó dường như cũng là những nỗ lực cuối cùng của các nhà Nho muốn văn hồi nền giáo hóa, mà trong đó văn tự cũng là phương tiện đầu tiên để chuyển tải.

Trong số văn bản trên, chúng tôi chú ý tới ba văn bản: Cổ Ngu chính ngộ tứ ngôn thi; Kiểm tựTự học tứ ngôn thi có nội dung khá giống nhau. Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi mới dành thời gian khảo sát trực tiếp và giới thiệu kĩ hơn về ba văn này.

Các văn bản có nội dung và cách thức trình bày khá thống nhất: đều gồm phần chính văn là những câu thơ chữ Hán 4 chữ/câu, mỗi câu hướng dẫn cách viết một chữ Hán. Dưới mỗi câu có phần chú thích kèm theo. Cả ba bản đều có phần thơ chữ Hán giống nhau, chỉ khác nhau đôi chỗ ở phần chú thích, có thể chỉ là cách diễn đạt từ ngữ khác nhau cho cùng một ý hiểu. Chúng ta hãy xem một số ví dụ về cách chú các câu thơ nói về cách viết chữ Hán qua ba văn bản như sau:

 

TT

Chính văn

Cổ Ngu chính ngộ tứ ngôn thi

Kiểm tự

Tự học tứ ngôn thi

1

厚當百子

Hậu đương bách tử

厚從百從子正是百子俗作百是餘一畫誤Hậu tòng bách, tòng tử, chính thị bách tử. Tục tác bách thị dư nhất hoạch, ngộ. (Chữ hậu theo chữ bách, chữ tử, chính là bách tử. Tục viết làm chữ bách thừa một nét là sai.)

候上聲山陵之厚也不薄也. Hậu thượng thanh, sơn lăng chi hậu dã, bất bạc dã. (Chữ hậu đọc thượng thanh, là độ dày của gò núi, là không mỏng vậy.)

 

2

Qui khả kiến phù

規字從見從夫字疏丈夫試用必合規矩故從夫俗作矢誤Qui tự tòng kiến tòng phu tự, sớ trượng phu thí dụng tất hợp qui củ, cố tòng phu, tục tác thỉ, ngộ. (Chữ qui theo chữ kiến, chữ phu, nói trượng phu thi dùng phải hợp với qui củ, cho nên theo chữ phu, tục viết làm chữ thỉ là sai.)

居追切法度也. Cư truy thiết pháp độ dã. (Cư truy thiết âm là qui, phép đo lường.)

規字从見夫字說丈夫識用必合規矩. 故从夫, 俗作矢非Qui tự tòng kiến phu tự thuyết trượng phu thức dụng tất hợp qui củ.Cố tòng phu, tục tác thỉ phi.(Chữ qui theo chữ kiến, chữ phu, nói trượng phu biết dùng ắt hợp với qui củ. Cho nên theo chữ phu, tục viết làm chữ thỉ là sai.)

3

 

疾原挾矢

Tật nguyên hiệp thỉ

 

疾來最急如矢故從矢矢急疾急也. 作失誤Tật lai tối cấp như thỉ, cố tòng thỉ, thỉ cấp tật cấp dã. Tác thất ngộ. (Bệnh đến rất gấp như mũi tên nên theo chữ thỉ. Mũi tên gấp, tật là gấp. Viết làm chữ thất là sai.)

病來急故从矢言急疾也Bệnh lai cấp, cố tòng thỉ, ngôn cấp tật dã. (Bệnh đến gấp, nên theo chữ thỉ. Nói gấp là chữ tật vậy)

病求急故用矢.急疾也, 俗作失非Bệnh cầu cấp, cố dụng thỉ. Thỉ cấp tật dã, tục tác thất phi. (Bệnh cần gấp nên dùng chữ thỉ. Thỉ gấp là chữ tật, tục dùng chữ thất là sai).

4

發要加殳

Phát yếu gia thù

殳音殊作矢誤Thù âm thù, tác thỉ ngộ. (Chữ âm là thù. Viết làm chữ thỉ là sai).

俗平聲殳音殊兵器Tòng tục bình thanh, âm thù, binh khí dã. (Theo tục đọc bình thanh, âm là thù, là binh khí).

殳音殊. 兵器也. 廢字亦, 作矢非Thù âm thù, binh khí dã. Phế tự diệc tòng thử, tục tác thỉ phi. (âm thù, là binh khí. Chữ phế cũng theo như vậy, tục viết làm chữ thỉ là sai).

Nhận xét các cách chú trên, chúng ta thấy, ở văn bản Cổ Ngu chính ngộ tứ ngôn thiTự học tứ ngôn thi giống nhau hơn, chú ý đến cách viết chữ cho chính xác nhiều hơn, đồng thời cũng chú ý đến âm đọc và nghĩa của chữ. Cách chú trong Kiểm tự chú ý nhiều đến âm đọc và nghĩa của chữ. Như vậy, yêu cầu qui chuẩn cách học chữ Hán ở đây được chú ý đến trên cả ba phương diện: tự dạng, âm đọc và ý nghĩa.

Một vấn đề nữa đáng được xem xét là vấn đề văn bản học. Cả ba bản có chung một phần chính văn nhưng không hoàn toàn giống nhau về phần chú giải. Ba văn bản khác nhau về niên đại biên soạn, phát hành cũng như về tác giả. Vậy đâu là tác giả đích thực, và quá trình truyền bản là như thế nào?

Trong lời tiểu dẫn của Cổ Ngu chính tự tứ ngôn thi có cung cấp thông tin về tác giả biên soạn: Thái Cao Dương gia huấn người xã Song Tháp huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh soạn (北寧省慈山府東岸縣雙塔社太皋楊嘉訓譔). Người viết lời dẫn là Phổ Trai ở chùa Hưng Tự, Xuân Lôi vì thấy sách này “không chỉ tiện cho việc học cầu tinh xác của cử tử. Phàm người học sách cũng nên lấy làm kính trọng”(不獨便舉子之學求精. 凡學書者, 亦當奉之為矜式) và đã giao cho thợ khắc in vào năm Thành Thái thứ 7 (1895). Về Dương Gia Huấn, trong Thư mục Hán Nôm mục lục tác giả(4), chỉ cho biết ông đỗ Cử nhân năm Tự Đức thứ 5 (1852), biên tập: Kiểm tự.

Sách Cổ Ngu chính tự tứ ngôn thi, chỉ có một dòng lạc khỏan ở cuối sách cho biết tác giả là Cổ Ngu. Không có thông tin gì về niên đại. Sách Tự học tứ ngôn thi, ở trang đầu có thông tin về người soạn sách: Tiên sinh Cổ Ngu, ở Hạc Lộ, làm Tri huyện Thanh Liêm soạn (青廉縣尹鶴路古愚先生撰). Sách chép vào giờ tốt ngày 11 tháng 2 năm Tự Đức thứ 35 (1882) (嗣德參拾伍年貳月拾壹日吉辰筆). Nhưng phần cuối bài tựa, tác giả cho biết đề vào ngày 24 tháng 4 năm Tự Đức thứ 8 (1855) (嗣德捌年四月二十四日題於昭明之塾) trong thời gian đi dạy học. Bài tựa này tác giả trình bày lý do, mục đích biên soạn sách hoàn toàn trùng với phần đầu trong lời tiểu dẫn của sách Kiểm tự. (古人制字點畫各有意義. 近來沿襲魯魚多. 觀字諸學書則殊謬之弊, 不獨我國然矣. 初學率意謬寫, 尤不勝言. 余於課童之暇, 閱字彙, 取其辰文所嘗用, 及昔所錯誤者, 定為四言詩, 四句一韻. 余以自檢焉耳. 豈敢獻醜同列. 然初學若肯閱之. 眼界所及便已截然. 不復勞於推索. 其亦舉業中之一助云爾. Người xưa chế ra chữ, điểm nét đều có ý nghĩa. Gần đây tập theo sự lầm lẫn như giữa chữ “lỗ” với chữ “ngư” nhiều vậy. Xem chữ ở sách học thì thấy nạn sai sót quá lắm, không chỉ ở nước ta như vậy. Kẻ mới học sơ ý viết sai, thật khôn kể. Ta trong lúc rảnh việc dạy trẻ, xem xét tự vựng, chọn những chỗ thường dùng trong văn thời nay, cho tới chỗ lầm lẫn từ xưa, định làm tứ ngôn thi, bốn câu một vần. Ta dùng tự kiểm xét mà thôi, đâu dám người hay kẻ xấu xếp cùng hàng. Nhưng bậc sơ học nếu chịu xem xét thì tầm hiểu biết rõ ràng cũng theo kịp vậy, không lại phải khó nhọc tìm kiếm nữa. Nó cũng trợ giúp một phần trong việc cử nghiệp. Xét ở việc học chữ cầu tinh xác rất là tốt.) .

Về tác giả Cổ Ngu, theo Trần Văn Giáp: Cổ Ngu là tên tự của Lê Trực. Hiện chưa biết rõ về tiểu truyện của Lê Trực, chỉ biết ông sống vào thời Tự Đức (thế kỉ XIX), người làng Tuân Lộ, huyện Bạch Hạc, Sơn Tây cũ (nay là tỉnh Vĩnh Phúc).

Từ những thông tin trên, chúng tôi tạm thời kết luận: Văn bản ban đầu do Cổ Ngu Lê Trực biên soạn là Tự học tứ ngôn thi. Cổ Ngu chính ngộ tứ ngôn thi cũng là một dị bản đời sau có thể do chính ông chỉnh sửa phần chú được lưu giữ ở nhà nên phần cuối sách có ghi Cổ Ngu đường tự quyển tất 古愚堂字卷畢(Hết quyển chữ của nhà Cổ Ngu). Sách Kiểm tự được Dương Gia Huấn biên tập phần chú, nên sau 40 năm có thể dẫn đến sự nhầm lẫn về tác giả ban đầu của Phổ Trai.

Như vậy, từ thực tế “xem chữ ở sách học thì thấy nạn sai sót quá lắm, không chỉ ở nước ta như vậy. Kẻ mới học sơ ý viết sai, thật khôn kể”, tác giả đã tiến hành “xem xét tự vựng, chọn những chỗ thường dùng trong văn thời nay, cho tới chỗ lầm lẫn từ xưa, định làm tứ ngôn thi, bốn câu một vần” nhằm “dùng tự kiểm xét” cho cá nhân rồi suy ra “nhưng bậc sơ học nếu chịu xem xét thì tầm hiểu biết rõ ràng cũng theo kịp vậy, không lại phải khó nhọc tìm kiếm nữa. Nó cũng trợ giúp một phần trong việc cử nghiệp. Xét ở việc học chữ cầu tinh xác rất là tốt”. Điều đó không chỉ có ý nghĩa trong cái học thời xưa. Với công việc của người giảng dạy Hán Nôm thời nay, chúng tôi nhận thấy nguồn tài liệu này vẫn còn nguyên giá trị.

 

Tài liệu tham khảo

1. Phạm Văn Khoái: Về truyền thống biên soạn sách dạy chữ Hán ở Việt Nam thế kỉ XVIII - XIX trong Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam - GS. Phan Đại Doãn chủ biên, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 1998, tr.233.234.

2. Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu. Trần Nghĩa & đồng chủ biên.

3. Trần Văn Giáp: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, T II, Nxb. KHXH, H. 1990.

4. Thư mục Hán Nôm - Mục lục tác giả - Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Ban Hán Nôm Hà Nội, 1978./.

(Thông báo Hán Nôm hoc, 2010, tr.97-104)

Phạm Vân Dung
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm