14. Giới thiệu nguồn tư liệu Hán Nôm đang được lưu giữ trong họ Đào, xã Xuân Thụ, Từ Sơn, Bắc Ninh cùng những giá trị lịch sử. (TBHNH 2012)
14. Giới thiệu nguồn tư liệu Hán Nôm đang được lưu giữ trong họ Đào, xã Xuân Thụ, Từ Sơn, Bắc Ninh cùng những giá trị lịch sử. (TBHNH 2012)
GIỚI THIỆU NGUỒN TƯ LIỆU HÁN NÔM ĐANG ĐƯỢC
LƯU GIỮ TRONG HỌ ĐÀO XÃXUÂN THỤ, TỪ SƠN, BẮC NINH CÙNGNHỮNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ
NGUYỄN PHƯƠNG CHI
NGUYỄN HỮU TÂM - ĐỖ DANH HUẤN
Viện Sử học
Theo yêu cầu và được sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban liên lạc họ Đào, xã Xuân Thụ, Từ Sơn, Bắc Ninh đoàn cán bộ Viện Sử học do PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Chi, Phó Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử làm Trưởng đoàn tiến hành khảo sát, sưu tầm và đánh giá về khối lượng tư liệu Hán Nôm đang được họ Đào bảo quản và lưu giữ.
Chúng tôi đã sưu tầm được 2 tập thư tịch Hán Nôm chép tay về họ Đào, gồm có:
1. 錦湘家譜附餘集(Cẩm Tương gia phả phụ dư tập nghĩa là Tập phụ chép gia phả Cẩm Tương). Sách chép tay, toàn bộ có khoảng hơn 3220 chữ Hán và một số chữ Nôm về tên đất, tên người, chữ viết chân phương, dễ đọc. Bài tựa được chép vào năm Minh Mệnh thứ 4 (1823), phần phụ chép năm Tự Đức thứ 33 (1880).
2. 陶族例薄(Đào tộc lệ bạnghĩa là Sổ chép thể lệ họ Đào). Sách chép tay, toàn bộ có khoảng hơn 1800 chữ gồm chữ Hán và một số chữ Nôm về tên đất, tên người, chữ viết chân phương, dễ đọc. Phần thể lệ được chép vào năm Thành Thái thứ 10 (1899), bài Văn tế chép năm Thành Thái thứ 14 (1903).
Ngoài ra chúng tôi đã chụp ảnh, rập thác bản của 3 tấm bia đá hiện vẫn còn được bảo quản khá tốt, gồm có:
1. 陶族寄忌碑記 (Đào tộc ký kỵ bi ký nghĩa là Bài ký trên bia ghi việc gửi giỗ của họ Đào).
2. 陶族譜記碑 (Đào tộc phả ký bi nghĩa là Bia ghi phả tộc họ Đào).
3. 岸樹醫廟碑記 (Ngạn Thụ y miếu bi ký nghĩa là Bài ký viết trên y miếu xã Xuân Thụ, huyện Đông Ngàn).
Nội dung viết về miếu thờ của gia đình cụ Đào Xuân Mãn, lương y trong làng, theo con cháu cho biết: cụ từng tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa thục đầu thế kỷ XX.
Chúng tôi thật sự bất ngờ trước khối lượng tư liệu Hán Nôm khá phong phú cùng nội dung chứa đựng phản ánh trong đó. Trước hết, số lượng tư liệu Hán Nôm trên không chỉ cung cấp nhiều kiến thức sâu sắc về nguồn gốc họ Đào mà hơn nữa còn giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ thêm vùng đất Xuân Thụ, Từ Sơn, Bắc Ninh.
Chúng ta có thể nhận thấy khi viết về nguồn gốc họ Đào, con cháu họ Đào đã tự hào với công lao khai phá vùng đất Xuân Thụ của các cụ tổ. Ngay trong đôi câu đối mở đầu phần gia phả đã chứng tỏ niềm tự hào to lớn đó:
祖功尊德前丕肇
子孝孫賢後克昌
Dịch nghĩa:
Công lao Tổ tiên, đức hạnh Liệt tông, mở ra gốc lớn từ trước,
Hiếu nghĩa các con, hiền tài cháu chắt, làm cho thịnh vượng đời sau.
Trong phần gia phả chép: “Tiền biên gia phả đại lược viết rằng: từ khi quân họ Ngô khởi binh(1) nhân dân bị tan hoang lưu tán, còn lại hai cụ người họ Đào và họ Nguyễn tên là Đào Quán Không và Nguyễn Vô Vi. Cụ họ Đào gặp thời buổi tao loạn, nhà cửa chưa định cư, gia thất chưa thành, bèn lấy vợ là người thuộc huyện Đương Đạo xứ Sơn Tây. Cụ cùng với cụ họ Nguyễn chiếm riêng một khu đất đẹp tại huyện Đông Ngàn xứ Kinh Bắc. Khu đất này có hình thế như Phượng thành, dòng sông Tương giang nước tràn đầy, thế đất như hạt đậu đặt trên mâm bồng mà chỉ mình đứng cao. Cho nên các Cụ đặt tên cho vùng đất này là thôn Đậu (豆 村), phụ thêm hai thôn của Cẩm Chương. Cho đến sau này thời thế biến đổi, đặt riêng thành 1 xã, tên gọi của xã có khác đi mà tên của thôn không dám thay. Vì thế, mới thêm bộ thốn (寸) vào bên trái, thêm bộ mộc (木) vào bên phải chữ đậu (豆) hợp thành chữ thụ (樹), để thuật lại ý ban đầu của tiền nhân. Người đời sau khi hiểu được ý nghĩa đó, sẽ biết được con cháu của họ Đào ta thịnh vượng, cũng bởi do cây lớn trồng được nơi đắc địa mới có thể đơm hoa kết trái, tuy có tới hàng chục triệu đời cũng không thể thay đổi vậy”(2).
Thông qua nội dung 錦湘家譜附餘集(Cẩm Tương gia phả phụ dư tập) mà niên đại chép bài Tựa được ghi rõ vào năm Minh Mệnh thứ 4 (1823) và Sổ ghi chép thể lệ họ Đào, chúng ta có thể tìm hiểu được ngọn ngành thế thứ trong 5 chi họ Đào, nhiều quy định rõ ràng về việc tế lễ hàng năm, cách thức đương cai phụng thờ... Trong lịch sử, họ Đào đã có hai cụ đã đảm đương chức vụ Thượng thư Bộ Lại và Thượng thư Bộ Hộ, ngoài ra còn có nhiều cụ từng giữ các trọng trách về văn và võ tại triều Lê và triều Nguyễn.
Ba tấm bia đá còn lại đều có niên đại cách ngày nay trên 100 năm, trong đó tấm bia 陶族寄忌碑記(Đào tộc ký kỵ bi ký)được dựng vào năm Tự Đức thứ 18 (1865), tức đã tồn tại 145 năm, tấm bia 陶族譜記碑(Đào tộc phả ký bi), được dựng vào năm Tự Đức thứ 34 (1881), cách ngày nay đã 129 năm. Tấm bia được lập muộn nhất là 岸樹醫廟碑記(Ngạn Thụ y miếu bi ký)cũng có tuổi đời là 111 năm (1909). Có thể khẳng định đây là những tấm bia quý, phản ánh nhiều nội dung về sinh hoạt, thể lệ của họ Đào cách nay hàng trăm năm.
Không những nêu rõ mục đích của việc viết tộc phả nhằm để cho con cháu hiểu được nguồn gốc, nhớ đến công lao của tổ tiên, mà hơn nữa còn muốn hướng hậu duệ làm việc thiện, tu nhân tích đức. Mặt khác, qua nội dung của tộc phả, của bài ký trên bia, các soạn giả cũng muốn giới thiệu về nghề làm thuốc được lưu truyền nhiều đời cùng việc lập Y miếu của họ Đào ở Xuân Thụ.
Chỉ mới vài dòng giới thiệu khái quát, chưa có thể nêu hết được giá trị to lớn và đích thực của khối tư liệu Hán Nôm hiện đang lưu giữ tại xã Xuân Thụ, Từ Sơn, Bắc Ninh. Việc giới thiệu nguồn tư liệu Hán Nôm phong phú này, cũng là nhằm cung cấp cho các nhà nghiên cứu tìm hiểu, đánh giá tương đối toàn diện về sinh hoạt, phụng thờ của một vùng quê cách Thủ đô không xa. Đồng thời, giới nghiên cứu cũng có thể dựa vào các văn bản Hán Nôm để bổ sung thêm những nhận thức về chữ Nôm, cách hành văn, những thể lệ chạp kỵ, việc hợp nhất từ đường trong một họ tộc cách nay hơn 1 thế kỷ. Điều cuối cùng chúng tôi muốn nhắc tới: đó là ý thức bảo tồn của toàn thể họ Đào ở Xuân Thụ đối với việc giữ gìn bảo quản thư tịch cổ vật thể và phi vật thể. Với ý thức coi trọng vốn văn hóa cổ truyền của dòng họ nói riêng và của dân tộc nói chung, con cháu họ Đào sẽ phát huy được những truyền thống tốt đẹp của Tổ tiên ứng dụng vào thực tế cuộc sống đang hàng ngày đổi mới của đất nước trong giai đoạn hiện nay và cả trong tương lai.
Chú thích:
(2) Trích phần dịch Cẩm Tương gia phả phụ dư tập.
(Thông báo Hán Nôm học 2012, tr.116-120)