15. Thơ thần trí thể và nội dung hai bài thơ trên đồ sứ đặt kiểu triều Nguyễn (TBHNH 2012)
15. Thơ thần trí thể và nội dung hai bài thơ trên đồ sứ đặt kiểu triều Nguyễn (TBHNH 2012)
THƠ THẦN TRÍ THỂ VÀ NỘI DUNG HAI BÀI THƠ TRÊN
ĐỒ SỨ ĐẶT KIỂU TRIỀU NGUYỄN
NGUYỄN VĂN CHIẾN
Ban Tuyên giáo Trung ương
Trong các thú chơi của người xưa thì chơi chữ được xem như một tuyệt thú của người quân tử “Nhất chữ, nhì tranh, tam sành, tứ sứ”; chơi chữ có nhiều cách chơi, chữ viết trên giấy, chữ đắp trên sứ, chữ khắc trên đồng, chữ chạm trên gỗ…, một điều mặc nhiên với người thưởng chữ là họ cần có một số hiểu biết nhất định để tường giải, đọc được những câu chữ đó. Tuy nhiên, không phải lúc nào việc đọc trôi một ý văn, một câu thơ ngắn cũng dễ dàng, nó có thể gây khó khăn ngay cả với người thông chữ nhất nếu không nắm được quy luật cách chơi của chữ đó. Điều này có thể nhận thấy qua kiểu chữ dạng đồ hình, chữ đỉnh và rõ nhất là qua thơ Thần trí thể 神智體. Vậy thơ Thần trí thể là gì, cách thức vận hành thế nào, ai là người đi tiên phong và ra đời từ bao giờ?
Thần trí thể xuất hiện từ đời Tống, tương truyền người đầu tiên sáng tạo ra kiểu thơ này là Tô Đông Pha (1037 - 1101). Trong Từ nguyên có viết: “Trong niên hiệu Hi Ninh đời Tống Thần Tông, sứ giả nước Liêu đến, tự khoe có tài làm thơ, vua sai Tô Thức ra tiếp đãi sứ, sứ Liêu đem thơ vặn hỏi Tô, Tô nói: “Phú thi diệc dị sự dã, quan thi nan sự nhĩ” (Làm thơ cũng là việc dễ, xem thơ mới là việc khó). [Tô Thức] bèn làm bài thơ Vãn thiếu 晚眺để cho sứ Liêu xem...”(1).
Còn trong “Hồi văn loại tụ” 回文類聚, do Chu Tích Hiền 朱舄賢biên tập theo Tang Thế Xương 桑世昌đời Tống có viết. “Khoảng niên hiệu Hi Ninh đời Tống Thần Tông, sứ giả Bắc lỗ đến triều kiến, (người này) rất tự phụ về tài làm thơ nên thách đấu với các danh nho của Hàn lâm, vua sai Đông Pha ra tiếp sứ. Viên sứ ngạo mạn bèn lấy thơ ra vặn hỏi Đông Pha, Đông Pha nói “Phú thi diệc dị sự dã, quan thi nan sự nhĩ” (Làm thơ cũng là việc dễ, xem thơ mới là việc khó), (Đông Pha) bèn làm bài thơ “Vãn thiếu”, đưa cho viên sứ xem, viên sứ ngạo mạn hoảng hồn không hiểu gì, từ đó về sau không dám nói đến thơ nữa”(2).
Trong “Đông Pha vấn đáp lục” 東坡問答錄 lại ghi “Đông Pha viết ý chữ thành thơ. Sứ Bắc lỗ đến, tự khoe có tài làm thơ, triều đình bàn bạc cho Đông Pha ra tiếp sứ, sứ giả hỏi về chất thơ phú. Pha nói “Phú thi dị sự, quan thi sao nan nhĩ” (Làm thơ cũng là việc dễ, cách xem thơ mới là việc khó), nhân đó làm bài Trường đình 長亭(3), đưa cho sứ xem”(4). Thể thơ mà Tô Đông Pha làm cho sứ Liêu xem, sau này được gọi là thơ Thần trí thể.
Thần trí thể có thể hiểu là một kiểu triết tự từng cá thể, từng phân nhánh của chữ sau hội lại thì mang đầy đủ nội dung một bài thơ mà người viết muốn truyền tải. Đây cũng được coi là một loại câu đố nên còn có tên gọi là “Hình ý thi” 形意詩; “Mê tượng thi”謎象詩hoặc “Quái tự thi” 怪字詩. Người Đài Loan thì quen dùng với hai thuật ngữ là “Đồ tượng thi” 圖象詩và “Thị giác thi” 視覺詩.Loại thơ bí ẩn này quan niệm: “Dĩ ý tả đồ, linh nhân tự ngộ” 以意寫圖,令人自悟(lấy ý vẽ hình, khiến người khác tự hiểu). Tức là, người sáng tác vẽ một đồ hình bằng chữ theo ý tưởng của mình những chữ ấy giúp người đọc hiểu rõ ý của tác giả, nhân đó làm nảy sinh những ý mới lạ cho người xem. Từ đó, giúp khai thần trí con người cho nên mới gọi là thần trí thể. Trong Từ nguyên lại giải thích ngắn gọn “Thần trí thể: một thể thơ gần với chơi chữ. Do nó có thể làm khởi phát thần trí của người ta nên gọi như vậy”(5). Đặc điểm chính của nó là phương pháp sử dụng “Hình tự đại tiểu, bút họa đa thiểu, vị trí chính phản, bài liệt sơ mật” 字形大小, 筆畫多少, 位置正反, 排列疏蜜(6)(Hình chữ lớn bé, nét bút ít nhiều, vị trí thuận chữ, ngược chữ, bố trí thưa mau)để trình bày văn bản… Hiện nay, kĩ thuật để viết thơ kiểu thần trí thể chủ yếu sử dụng: chữ thuận, chữ ngược, chữ to, chữ nhỏ, chữ ngắn, chữ dài, chữ đảo lộn, chữ nghiêng, chữ mờ, chữ đậm, chữ bẻ gãy, chữ phá… Tuy nhiên, chúng có sự biến hóa nhất định, mục đích là ẩn ý thơ. Thần trí thể có thể phân làm 5 loại sau: tự câu loại 字句類(loại chú ý câu chữ); Bài liệt loại 擺列類(loại chú ý sắp xếp); Khảm tự loại嵌字類(loại chú ý chữ khuyết); Tu từ loại 修辭類(loại chú ý tu từ); Tạp ngôn loại 雜言類(loại tạp ngôn).
Thần trí thể đặc biệt ở điểm: thứ nhất, một chữ có thể biểu đạt hết một ý, thông thường một chữ có thể diễn thành hai, ba chữ, có khi trực tiếp thành một câu thơ. Thứ hai, là mỗi một chữ sẽ độc lập trong một hình, nhưng khi phối hợp với các chữ khác, qua cách sắp xếp các chữ đó sẽ biểu đạt được ý cần viết. Thứ ba, thể hiện để chỉ hàm ý, tính chất của câu đố, vì thế, người xem không thể không tiếp cận thực tế văn bản để đưa ra lời giải. Thứ tư, các bài đều thể hiện các thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt, hoặc thất ngôn tứ tuyệt tương đối cố định theo truyền thống thơ cổ điển…
Thơ thần trí thể “Lợi dụng chữ Hán, âm vần chữ Hán, đặc điểm thư pháp của chữ Hán, cách sắp xếp khéo léo, hiển thị tinh tế của chữ Hán. Từ những yếu tố đó để làm nên cấu trúc hoàn chỉnh”(7). Thần thể trí lấy mười hai đặc điểm biến hình của chữ để tạo thành thể thất ngôn tứ tuyệt, hoặc lấy tám biến hình của chữ để tạo thành thể ngũ ngôn tứ tuyệt. Từ biến hình của chữ, lấy ý biến hình tạo câu, từ câu tạo thành thiên. Tuy nhiên, mỗi một bài thơ lại cần xác định những phá cách để tưởng tượng không gian. Một đặc điểm về biến âm cần ứng dụng là dạng đồng âm như: ti 絲 - tư 思; liên 蓮,連 - liên 憐; ngẫu 偶 - ngẫu 藕… Vì thế, những người khác nhau khi đọc và giải bài thơ có khả năng sẽ không cùng đáp án. Thế nên mới nói “linh nhân tự ngộ” (khiến người khác tự hiểu) là như vậy.
Có thể khái quát một vài cách biểu hiện kiểu thơ Thần trí thể như sau:
Loại thứ nhất, trực tiếp mô tả hình ảnh chữ như: Đại, tiểu 大小: lớn, bé; thô, tế 粗細: thô, nhỏ; nùng, đạm 濃淡: đậm, nhạt; trường, đoản 長短: dài, ngắn; phì, sấu: 肥瘦 mập, gầy; khoan, trách 寬窄: rộng, hẹp; đoạn, tục 斷續: đứt, liền; phương, thiên, viên 方扁圓: vuông, dẹt, tròn… Tùy theo tính chất cường điệu của chữ để đọc.
Chữ viết lớn, đọc là đại 大: Đại sơn, đại hà, đại lão, đại phong, đại vũ…
Chữ viết nhỏ, đọc là tiểu 小: tiểu tâm, tiểu nhân, tiểu hoa, tiểu lộ…
Chữ viết dài, đọc là trường 長: trường lưu, trường dạ, trường giang…
Chữ viết ngắn, đọc là đoản 短: đoản ảnh, đoản mệnh, đoản mộng…
Chữ viết đứt, đọc là đoạn 斷: đoạn hồn, đoạn trường, lộ đoạn…
Chữ viết dẹt, đọc là thiên 扁: thiên chu, thiên nha, thiên nhai…
Chữ viết dính liền, đọc là tục, liên 續, 連: tục tưởng, liên hận, liên quan…
Trong đó các chữ dễ thông nhau là: tiểu 小 và tế 細; phì 肥 và khoan 寬; sấu 瘦 và trách 窄, các chữ có nghĩa gần nhau có thể đọc tùy theo hoàn cảnh, như: tình trường 情長 - trường tình 長情; trường lưu 長流 - lưu trường 流長; trường dạ 長夜 - dạ trường 夜長…
Loại thứ hai, trực tiếp mô tả phương hướng, vị trí như: thượng, hạ 上下: trên, dưới; cao, đê 高低: cao, thấp; tả, hữu 左右: trái, phải; trắc, tà 側斜: ngay ngắn, nghiêng vẹo; chính, phản 正反: chữ xuôi, chữ lộn ngược; điên, đảo, hoành 顛倒橫: nghiêng, lộn, ngang…
Chữ vút phía trên, đọc là thượng 上: lâu thượng, sơn thượng…
Chữ viết thấp phía dưới, đọc là hạ下: sơn hạ, lâu hạ…
Chữ viết cao, đọc là cao 高: cao sơn, cao lâu…
Chữ viết nghiêng, đọc là tà, khuynh 斜, 傾: tà dương, tà nhật, khuynh thành…
Chữ viết ngang, đọc là hoành 橫: hoành lưu, hoành độ…
Chữ viết lộn đầu, đọc là đảo 倒: đảo ảnh, phúc đáo…
Chữ viết lộn ngược, đọc là phản, hồi, phục 反, 回,復: phản thủ, phản tư, hồi tưởng, phục mộng, phục tư…
Tuy nhiên, tùy theo văn bản có thể biến hóa cách đọc như: thượng lâu 上樓 - lâu thượng 樓上, cao sơn 高山 - sơn cao 山高. Hay các kiểu viết tà - trắc - thiên 斜側扁 hoặc hồi - phản 回反…
Nếu một bộ phận của chữ được cường điệu hóa thì phải đọc các bộ phận đó, như: chữ lộ 路 có bộ khẩu 口 viết dài, đọc: lộ khẩu trường 路口長; chữ lưu 流 có bộ thủy氵 gãy, đọc: khúc thủy lưu 曲流水, hoặc chữ ảnh 影, có bộ nhật日 viết mờ nhạt, đọc: tàn nhật ảnh 殘日影. Chữ đăng 燈 viết mờ, đọc: tàn đăng 殘燈; chữ phong 風, chữ liêm 簾 viết cuộn lại, đọc: phong quyển 風捲, quyển liêm 捲簾 …
Loại thứ ba, là thêm hoặc bớt nét, bộ.
Chỉ viết nửa bộ phận của chữ thì có thể đọc thành ba chữ, như: chữ ngữ 語không có bộ ngôn 吾, đọc: vô ngôn ngữ 無言語; chữ lưu 流không có bộ thủy, đọc: thủy không lưu 水空流; chữ tư思không có bộ tâm田, đọc: vô tâm tư 無心思…
Chỉ viết một bộ phận của chữ cũng đọc thành ba chữ, như: chữ văn文, bỏ một nét, đọc: bất thành văn 不成文; chữ lai 來bỏ một chữ nhân 人, đọc: nhân vị lai人未來; chữ ảnh 影bỏ bộ nhật日, đọc: vô nhật ảnh 無日影…
Chỉ viết một bộ phận nhưng vận dụng tình huống để đọc, như: chữ diệu 妙, đọc: thiếu nữ 少女; chữ hà 何, đọc: khả nhân可人…
Các chữ hội số như hai chữ hỷ 喜, đọc: song hỷ 雙喜; năm chữ canh 更, đọc: ngũ canh五更...
Chữ viết rỗng giữa đọc là không 空, như: không tưởng 空想, không vọng 空望 …
Chữ viết khô bút thì đọc là khô 枯, như: khô mộc 枯木, khô thảo 枯草…
Chữ viết phá hình thì tùy theo tình huống để đọc, như: hoa lạc 花落, tàn đăng 殘燈, hương tận 香盡, loạn hồng 亂紅, vân phá 雲破…
Loại thứ tư là dùng màu sắc để viết chữ, loại này thì màu nào đọc theo chữ ấy, như: lục thủy 綠水, hồng nhật 紅日, hoàng long 黃龍…
Tuy nhiên, không phải tất cả các bài thơ thần trí thể đều hội tụ đầy đủ các cách đọc như chúng tôi vừa trình bầy, nhưng có thể khẳng định với mỗi bài thơ thần trí thể thì ít nhất cũng phải hội được tối thiểu vài ba cách thể hiện. Để minh họa cụ thể hơn, chúng tôi xin giới thiệu hai bài thơ theo thể thần trí trên hai đĩa trà đặt kiểu của triều đình nhà Nguyễn.
Tác phẩm 1: là bài thơ viết theo thể thơ thần trí trên đĩa trà đường kính 18cm, niên đại thế kỷ XIX, đặt kiểu dưới triều Nguyễn(8).
Nội dung chính của tác phẩm có 15 khối chữ (15 đồ hình) được thể hiện bằng các cách viết cơ bản như: to - nhỏ, ngắn - dài, hội số, viết ngang - nghiêng, phản bút, liên bút, diễn ý…Sau đây, chúng tôi xin đi vào giải thích từng “mê ngữ” trong bài thơ này như sau:
Ba chữ phiên 翻 nên có thể đọc là: tam phiên 三翻
Năm chữ phúc 覆nên có thể đọc là: ngũ phúc 五覆
Chữ tư思viết phản bút nên có thể đọc: phục tư 復思
Chữ tư 思có hai bộ tâm 心có thể đọc: trùng điệp tâm tư 重疊心思
Chữ bất 不viết dãn cách bất thường nên đọc: bất khai 不開
Chữ tương相viết nghiêng, chữ tư 思viết ngang đọc là: điên đảo tương tư 顛倒相思
Chữ tư 思và chữ hận 恨viết dính liền nhau nên đọc là: tư liên hận 思憐恨
Chữ hà 何và chữ nhật日viết dài nên đọc: trường hà nhật 長何日
Chữ thiên 天nằm trong chữ thai台nên đọc là: nhập thiên thai 入天台
(Riêng câu cuối có thể đọc theo một cách nữa là: chữ tư 思 nhỏ nên có thể đọc là tiểu tư 小思)
Từ cách hiểu như trên nên chúng tôi đọc bài thơ này như sau:
三翻五覆復思來
重疊心思思不開
顛倒相思思憐恨
思長何日入天台
(小思何日入天台)
偶錄寄杜
Phiên âm:
Tam phiên ngũ phúc, phục tư lai,
Trùng điệp tâm tư, tứ bất khai.
Điên đảo(9) tương tư, tư liên hận,
Tư trường hà nhật, nhập Thiên Thai.
(Tiểu tư hà nhật, nhập Thiên Thai)
Ngẫu lục kí Đỗ
Dịch nghĩa:
Ba trăm năm trở nỗi nhớ cứ quay đi quay lại,
Chồng chất trong tim nỗi nhớ thương, ý đó không giãi bày ra được.
Nhớ nhau điên đảo, nhớ, thương rồi giận,
Niềm nhung nhớ đằng đẵng này, ngày nào vào cõi Thiên Thai.
(Nỗi mong nhớ nhỏ bé này, ngày nào mới vào cõi Thiên Thai?)
Chợt (nhớ) viết gửi Đỗ
Tác phẩm 2: là bài thơ viết theo thể thơ thần trí dưới đáy đĩa trà đường kính 18cm, niên đại thế kỷ XIX, đặt kiểu dưới triều Nguyễn.
Tác phẩm trên, phần nội dung chính có tất cả chín khối chữ (chín đồ hình) được thể hiện bằng các cách viết cơ bản như: trên dưới, khuyết bút, phá bút, hội số, viết ngang, diễn ý…Sau đây, chúng tôi xin đi vào giải thích từng “mê ngữ” trong bài thơ này như sau:
Hai chữ lâm 臨 dưới chữ môn 門 nên có thể đọc: song (lưỡng) lâm hạ (há) môn 雙(兩)臨下門.
Chữ hồi 回, khuyết nét ở dưới cùng nên đọc là: khuyết hồi 闕回.
Chữ muộn 悶 viết tựa dọc theo hai chữ lan can 欄杆 nên có thể đọc: muộn ỷ lan can 悶倚欄杆.
Chữ hộ 户viết phá ra làm đôi nên đọc là: phá hộ khai 破户開 .
Năm chữ dạ 夜 nên đọc là: ngũ dạ 五夜.
Hai chữ nguyệt 月 và sắc 色 viết nằm ngang nên đọc là: hoành nguyệt sắc 橫月色.
Giữa năm chữ dạ 夜và nguyệt sắc 月色 có khoảng trống lớn nên có thể đọc là: hư không 虛空.
Chữ lâu 樓 viết cao sát nguyệt sắc đọc là: lâu thượng 樓上.
Hai chữ quân 君, giai 皆 viết liền nhau để trống khoảng đầu, nên quân giai mở đầu câu, đọc trước lâu thượng.
Chữ thiên 天 nằm trong chữ thai 台 nên đọc là: nhập Thiên Thai 入天台.
Từ cách hiểu trên nên chúng tôi đọc bài thơ này như sau:
雙臨下門闕回來
悶倚欄杆破戶開
五夜虛空橫月色
君皆樓上入天台
錄杜氏回句
Phiên âm:
Song lâm hạ môn khuyết(10) hồi lai,
Muộn ỷ lan can phá hộ khai.
Ngũ dạ(11) hư không hoành nguyệt sắc,
Quân giai lâu thượng nhập Thiên Thai(12).
Lục Đỗ thị hồi cú
Dịch nghĩa:
Hai lần xuống đến cửa khuyết rồi lại quay về,
Lòng buồn tựa vào lan can, phá cửa ra ngoài.
Năm canh ánh trăng vắt ngang bầu không,
Mong cùng anh lên lầu đến cõi Thiên Thai.
Họ Đỗ viết câu trả lời
Qua bài thơ trên, có thể thấy, thơ thần trí thể chưa khắt khe và bó buộc bởi luật tạo hình chữ cụ thể, tùy theo yêu cầu mà có thể ứng dụng, bởi từ văn tự mà sinh ý thơ, từ ý thơ mà hoàn thiện bài thơ. Trước đây, Tô Đông Pha sáng tác thơ thần trí thể, truyền đến đời sau được rất nhiều người biết và tán thưởng. Đến nay, các quốc gia từng dùng hệ Hán ngữ đã lưu truyền khá phổ biến thể thơ này và Việt Nam cũng nằm trong trào lưu đó mà hai bài thơ chúng tôi vừa giới thiệu ở trên là một minh chứng.
Thần trí thể được xem là mê ngữ, người giỏi về thể thơ này được phong là “mê thánh”(13). Vì vậy, giải cho đúng một câu đố theo thể thơ thần trí không phải lúc nào cũng dễ dàng với người đọc và chúng tôi cũng vậy. Hai bài thơ dù rằng đã được chúng tôi giải thích cách đọc theo ý hiểu của mình nhưng đây không phải là cách giải duy nhất. Do đó, chúng tôi rất mong nhận được sự trao đổi từ những người quan tâm đến vấn đề này và có cùng đam mê với thơ thần trí thể.
Chú thích:
(1). Từnguyên辭源, Bắc Kinh: Thương vụ ấn thư quán, 1998, tr. 2275, cột 3.
(2). Tang Thế Xương 桑世昌, Hồi văn loại tụ, quyển 3 (Vãn thiếu) “回文類聚”,卷三,晚眺, ghi trong tập 7 “Tứ khố toàn thư trân bản”, “四庫全書珍本七集”, Đài Bắc: Đài Loan thương vụ ấn thư quán, 1997, tr5 (臺北,臺灣商務印書館,1977),頁5.
(3). Ngoài tên Vãn thiếu 晚眺thì bài thơ còn được gọi là Trường đình 長亭.
(5). Từ nguyên 辭源, Bắc Kinh: Thương vụ ấn thư quán, 1998, tr. 2275, cột 3.
(6). Trần Vọng Đạo陳望道 Hồi cố về thơ Thị giác truyền thống Trung Quốc中國傳統視覺詩的回顧, Trung Hoa nhật báo, số 10, tháng 12/1984.
(7). Trần Thế Kiệt, Luận về vẻ đẹp, kết cấu thú vị của thơ, Học báo Đại học Trung Xuyên, số 21 (2004), tr 53.
(9). Điên đảo: là mê cuồng mất sáng suốt, thấy mọi vật lộn ngược trái hiện thực.
(10). Cái cổng hai tầng có hai cái đai ngoài cửa, trên làm cái lầu, ở giữa bỏ trống để làm lối đi gọi là “khuyết”, cho nên gọi cửa to là “khuyết”. Cũng có khi gọi là “tượng nguỵ” 象魏.
(11). Có thể hiểu như ngũ canh 五更.
(12). Chốn tiên giới, liên quan đến chuyên hai chàng Lưu, Nguyễn lạc vào cõi Thiên Thai
(13). Trương Khởi Nam (1878-1924) tự Vị Lư 味鱸, hiệu Thác Viên 橐園, người huyện Vĩnh Định, tỉnh Phúc Kiến, đời sau xưng tụng ông là “mê thánh” “mê ngữ đại sư”. Tác phẩm có: Thác viên xuân đăng thoại “橐园春灯话”, Xuân đăng độc thoại, “春灯续话”, Thác viên xuân đăng lục “橐园春灯录”.
Tài liệu tham khảo:
Phùng Nghệ Siêu, Nghiên cứu thơ thần trí thể, Tạp chí Đông Hoa Hán học, kỳ 10, tháng 12/2009, tr. 21-60.
1.Tiền Nam Dương, Mê sử, Đài Bắc: Nxb. Phúc Lộc đồ thư, 1982, tr. 45.
2.Chu Xuân Tập, Kho sách cổ cơ bản của Trung Quốc, mục nghệ văn, văn học bình luận, Nxb. Hoàng Sơn, 2008, tr40.
3.Lưu Diệp, Nghiên cứu Đồ tượng thi, một thể thơ trong truyền thống thi họa của Trung Quốc, “Tổng quan mỹ thuật”, 12/2005, tr.11.
4.Đổng Sùng Tuyển, Nguyên lý của thơ Thị giác, kỷ yếu Hội thảo nghiên cứu về văn học và đồ tượng toàn quốc lần thứ 5, tr.85-97.
5.Trương Triều Hà, Sự phân chia và công năng thể thơ Thị giác, Học báo Học viện Hàm Ninh, kỳ 5, tháng 10/2008, tr.97-98.
6.Trần Đình Sơn, Những nét đan thanh, TPHCM: Nxb. Văn nghệ, 2007, tr.68- 69.
7.Hải Trung, Chơi chữ Hán Nôm những bài thơ độc đáo, Huế: Nxb. Thuận Hoá, 2002, tr.48-54.
8.http://tuancuonghn.blogspot.com/2011/06/than-tri-choi-chu-kieu-to-ong-pha-bai.html.
9.漢語線上論壇(www.4uup.com/bbs).
10.奇詩怪詞論壇(www.qsgcw.cn/).
(Thông báo Hán Nôm học 2012, tr.121-134)