VI | EN
17. Trí tuệ Nho giáo với cuộc sống con người thời hiện đại (Quan niệm "Thiên nhân hợp nhất" của Nho giáo và vấn đề bảo vệ môi trường) (TBHNH 2011)
(TBHNH 2011)

TRÍ TUỆ NHO GIÁO VỚI CUỘC SỐNG CON NGƯỜI THỜI HIỆN ĐẠI (QUAN NIỆM “THIÊN NHÂN HỢP NHẤT” CỦA NHO GIÁO VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG)

NGUYỄN THANH HÀ

Học viện Khoa học Quân sự

việc khai thác và phát huy quan niệm “Thiên nhân hợp nhất” và các khái niệm về môi trường sinh thái bắt nguồn từ tư tưởng này là một nhiệm vụ quan trọng mà lịch sử đang đặt ra cho nhân loại hôm nay.

Trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên (Thiên - Nhân) theo tư tưởng Nho gia tuy có sự phân biệt rạch ròi hai đối tượng nhưng tư tưởng “Thiên nhân hợp nhất” (con người và tự nhiên hòa làm một) luôn giữ vị trí chủ đạo trong hệ thống lý luận Nho học Trung Hoa cổ đại. Nhìn từ khía cạnh đạo đức, “Thiên nhân hợp nhất” là mệnh đề khẳng định con người và tự nhiên đều có giá trị tồn tại độc lập của mình và cho rằng giữa tự nhiên và con người nên hình thành quan hệ hài hòa và thống nhất. Chỉ có sự hài hòa và thống nhất trong quan hệ giữa con người với tự nhiên mới có thể tạo cho con người một môi trường lí tưởng để sinh tồn và phát triển.

“Thiên nhân hợp đức” là hình thức biểu hiện đầu tiên của tư tưởng “Thiên nhân hợp nhất” mà Nho gia đề xuất, được Khổng Tử phát biểu ngay từ thời Xuân Thu. Ông cho rằng quan hệ giữa con người và giới tự nhiên nên là mối quan hệ “Duy thiên vi đại, duy Nghiêu tắc chi” (Chỉ có tự nhiên là vĩ đại, chỉ có vua Nghiêu là biết noi theo).

Trong thực tiễn cuộc sống, sinh hoạt và sản xuất của nhân loại, Nho gia không những nhận thức được động thực vật là cái gốc của sự sinh tồn và phát triển của loài người, nói cách khác là việc ăn, mặc, ở, đi lại của con người không thể tách dời giới tự nhiên đồng thời còn hiểu được những tài nguyên thiên nhiên trên không phải là vô tận. Xuất phát từ mâu thuẫn giữa tính hữu hạn của tài nguyên thiên nhiên với nhu cầu vô hạn của con người, từ nguyên tắc phát triển bền vững, khai thác lâu dài, Nho gia đã tổng kết những kinh nghiệm của người xưa và dần hình thành quan niệm đạo đức về môi trường sinh thái yêu vạn vật. Các nhà kinh điển Nho giáo đề xướng, hô hào bảo vệ động thực vật, chủ trương khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, phản đối sự khai thác bừa bãi mang tính phá huỷ nguồn tài nguyên sinh vật.

Nho giáo đề cao đạo đức cá nhân là điều ai ai cũng biết, nhưng họ có đề cập đến khái niệm đạo đức về môi trường sinh thái hay không thì mỗi người có một quan điểm riêng. Sinh thời, Khổng Tử rất yêu tự nhiên, yêu sự sống, ông rất thích ăn các loại ngũ cốc, rau dưa và hoa quả nhưng khi chúng còn chưa chín thì ông không ăn. Khổng Tử rất ghét các hành vi khai thác tự nhiên quá mức kiểu như giết gà lấy trứng, tát hồ bắt cá. Tuân Tử đã kết hợp đạo đức cá nhân với đạo đức về sinh thái, phát triển từ đạo đức cá nhân lên đạo đức đối với vạn vật trong vũ trụ và coi đó là hai mặt của một chỉnh thể thống nhất. Điều đó cho thấy các nhà kinh điển Nho giáo đã đưa ra quan niệm đạo đức về môi trường sinh thái với những tư tưởng “ái vật”- yêu vạn vật, “hậu đức đãi vật” - hãy cư xử có đạo đức đối với vạn vật.

Làm thế nào để biến tư tưởng thương yêu vạn vật thành hiện thực? Dựa trên quan điểm phù hợp với quy luật của tạo hóa, tuân theo thứ tự của bốn mùa, các học giả Nho giáo đã đưa ra rất nhiều biện pháp phong phú nhằm thực hiện có hiệu quả chủ trương bảo vệ môi trường sinh thái. Khổng Tử chủ trương phản đối và lên án mạnh mẽ hiện tượng khai thác đánh bắt động vật quá mức với những dụng cụ mang tính hủy diệt, kêu gọi khai thác bền vững, làm sao để khai thác mà không làm cạn kiệt tài nguyên. Sang thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra mệnh đề “Thủ vật dĩ thuận thời” - khai thác đánh bắt động vật cũng phải thuận theo thời vụ. Cuối thời Chiến Quốc, Tuân Tử tiếp tục kế thừa và phát triển tư tưởng Khổng Mạnh, đề cập một cách khá hệ thống và bài bản nguyên lý bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên thuận theo thời. Ông đưa ra những quy định khá chặt chẽ đối với bộ máy thực hiện công việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, theo đó Tư không coi sóc các việc tu bổ đê điều, nạo vét kênh mương, tích nước chống hạn, thoát nước tiêu úng để người nông dân có thể cấy cày; Tư điền có nhiệm vụ phân tích loại đất trồng, lựa chọn cây con phù hợp, cải tiến canh tác nhằm giảm sức lao động mà người nông dân phải bỏ ra. Tuân Tử chỉ ra rằng khi nào cơ quan này và người duy trì thực hiện nghiêm những chính sách nêu trên thì muôn dân mới thực sự no ấm, vạn vật được sinh sôi, con người và thiên nhiên chung sống hài hòa, làm cho nguồn thức ăn dồi dào vô tận. Đây hoàn toàn là một bức tranh về môi trường sinh thái trong một xã hội thuần nông nghiệp, đó là cảnh giới cao nhất về xã hội mà Nho giáo theo đuổi.

Quan niệm về giá trị thiên nhân hợp đức mà Nho giáo đề cập cũng như những tư tưởng khai thác tài nguyên phải theo mùa vụ, cấm khai thác cạn kiệt cho đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị. Gần trăm năm nay, quan niệm nhân định thắng thiên (sức người ắt thắng sức trời) đã khiến cho con người khắp nơi trên tinh cầu đã chặt phá rừng không thương tiếc, động thực vật bị khai thác tới mức cạn kiệt dẫn tới hiện tượng mất cân bằng sinh thái.Trên phạm vi quốc tế, tạp chí Tiêu đề của Brazil số ra ngày 09/5/1992 cho biết trong vòng gần 20 năm, bình quân mỗi năm trái đất của chúng ta mất đi 2000 ha rừng do con người tàn phá, riêng khu vực châu Á là 470 ha/năm, châu Phi 370 ha/năm, rừng nguyên sinh ở châu Âu gần như không còn. Mỗi ngày ước có khoảng 300 km2 diện tích rừng nhiệt đới bị con người xóa sổ, những tình hình tương tự như vậy khiến cho độ che phủ của lá phổi xanh giảm đi trông thấy. Toàn thế giới có tất cả 5.000 loài động vật đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng, mỗi ngày có khoảng 3 loài sinh vật vĩnh viễn biến khỏi trái đất, đến thời điểm đó số động thực vật đã hoàn toàn biến mất mà con người thống kê được đã lên tới 20%. Trước thực tế phũ phàng đó, việc quay lại với các giá trị bảo vệ môi trường sinh thái mà hàng ngàn năm trước đây những nhà kinh điển của Nho giáo đã đề cập là việc làm quan trọng và rất có ý nghĩa, chúng ta hôm nay có thể học được rất nhiều điều hữu ích từ những quan điểm tư tưởng đó để đưa ra các biện pháp thiết thực nhằm bảo vệ và gìn giữ môi trường sinh thái mà vẫn có thể phát triển kinh tế bền vững.

Cảnh giới cái tôi chung với quan niệm “Thiên địa vạn vật vi nhất thể” về căn bản thì đó chính là một chỉnh thể hữu cơ trong đó cái tôi đó phải có trách nhiệm với cả vũ trụ và vạn vật mà bỏ qua cái tôi cá nhân, bỏ qua lợi ích cá nhân. Trong bản tuyên bố Vancouver về sự sinh tồn trong thế kỉ XXI của tổ chức Khoa học giáo dục liên hợp quốc công bố tháng 9 năm 1989 đã chỉ ra rằng: chủ nghĩa ích kỷ cá nhân chính là thủ phạm số một gây ra sự mất cân bằng giữa con người với con người và giữa con người với giới tự nhiên. Do đó, việc bảo vệ môi trường sinh thái đầu tiên cần kêu gọi và xây dựng một ý thức toàn cầu cho mỗi người, nói cách khác chính là xây dựng ý thức về cái tôi chung. Sự nghiệp bảo vệ môi trường sinh thái trái đất là nhiệm vụ chung của toàn cầu chứ không phải của riêng bất cứ quốc gia nào, nó có những đặc điểm xuyên biên giới, vượt mọi khoảng cách. Nếu như chỉ chăm chút cho lợi ích hẹp hòi của quốc gia dân tộc mình như nhiều nước phát triển hiện nay không ngừng tuôn chất thải công nghiệp vào khí quyển, gây ra các hiện tượng mưa axit, thậm chí chất thải được họ đổ trực tiếp ra sông biển gây ô nhiễm và ảnh hưởng nghiêm trọng tới quốc gia khác. Hành vi vô đạo đức đó chính là kết quả, là sự thể hiện tư tưởng của cái tôi cá nhân hẹp hòi. Muốn bảo vệ các đại dương cũng như các dòng sông thoát khỏi ô nhiễm, một quốc gia nỗ lực là không đủ mà nó cần sự cố gắng của mọi thành viên trong cộng đồng quốc tế.

Như vậy có thể thấy rằng, tư tưởng “Thiên địa vạn vật vi nhất thể” mà Nho giáo đề xuất không những có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc xử lý các vấn đề về môi trường sinh thái hiện đại mà còn giữ một vai trò quan trọng trong xây dựng hệ thống lý luận về bảo vệ môi trường sinh thái của trái đất hiện nay. Thiết nghĩ, đây cũng là một vấn đề mà ngành Hán Nôm có thể khai thác để tuyên truyền ứng dụng tri thức của người xưa góp phần vào xây dựng cuộc sống hiện đại của chúng ta ngày hôm nay./.

(Thông báo Hán Nôm học 2011, tr.590-594)

Nguyễn Thanh Hà
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm