19. Giới thiệu tấm bia Nguyễn Thượng thư từ bi kí tại đền Trung Nghĩa (TBHNH 2012)
19. Giới thiệu tấm bia Nguyễn Thượng thư từ bi kí tại đền Trung Nghĩa (TBHNH 2012)
GIỚI THIỆU TẤM BIA
NGUYỄN THƯỢNG THƯ TỪ BI KÍ TẠI ĐỀN TRUNG NGHĨA
LÊ VĂN CƯỜNG
Đại học KHXH & NV Hà Nội
®ền Trung Nghĩa 忠義祠 hay còn gọi là từ đường họ Nguyễn Đình toạ lạc tại xã Vĩnh Trị, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Nơi đây, khởi nguyên là chốn thờ tự Thượng thư Nguyễn Đình Giản 阮亭簡 (1734 - 1788). Theo như nội dung văn bia đền được khởi công xây dựng mới vào năm Tự Đức thứ 9 (1856) trên nền cũ. Hiện đền vẫn còn bảo lưu nhiều giá trị kiến trúc đặc sắc thời Nguyễn. Bức đại tự treo ở gian giữa ghi 3 chữ lớn “Trung nghĩa từ 忠義祠/ Đền thờ bậc trung nghĩa”.
Nguyễn Thượng thư tức Nguyễn Đình Giản 阮亭簡, tự là Cư Kính 居敬, thuỵ Trung Lượng 忠諒, huý Đình Giản 亭簡. Ông thi đỗ Đệ Tam giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Kỉ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng thứ 30 (1769) đời Lê Hiển Tông, làm quan tới chức Binh bộ Thượng thư, Ngự sử đài hành, Đô Ngự sử, Bút Phong hầu, Bình chương quân quốc trọng sự. Ông là người nổi tiếng cương trực, khảng khái, trung nghĩa thời hậu Lê, dốc lòng phò Lê chống lại nhà Tây Sơn.
Tại đền thờ ông vẫn còn lưu giữ một tấm bia, được đặt trên khối đá vuông. Bia một mặt, kích thước 90 x 60 cm. Trán bia và diềm bia trang trí hoa văn dây leo. Nội dung văn bia ghi bằng chữ Hán, không có chữ Nôm. Tổng cộng 19 hàng, mỗi hàng khoảng 27 chữ, chữ chân phương, dễ đọc.
Trong phạm vi bài Thông báo Hán Nôm, chúng tôi xin giới thiệu sơ bộ nội dung bài văn bia. Với hi vọng, cung cấp thêm cho độc giả và những nhà nghiên cứu những tư liệu về cuộc đời và hành trạng của ông.
Nguyên văn
阮上書祠碑記
公姓阮諱亭簡’弘化永治人也。為人慷慨’尚氣節’登黎景興己丑進士’歷官太原督鎮。歲丙午西山賊祀升龍’公將兵勤王’保衛京城’授兵部上書平章國重事。迨西山兵再來’黎帝幸相失’不及從鞠乃潜於西山立石、不拨間,結土豪’謀討賊。未及發’其女為賊所楼’甚嬖之追女書以招’公正色曰『以兒女故乱君臣之義耶!天不祚黎唯有死耳』賊以兵襲生獲之’錮于獄’利誘威脅。終不屈’遂遇害其在禁。述懷有『恨無王蠋忠臣劍’浪誦文山正氣歌』之句。後黎節義錄詳矣 。
國朝嗣德初’臺臣以旌表請命列進皇覽嘉焉。
欽賜通謚’建祠于昇龍合祀之職等’初事館閣閱’其事嘗牡公之志高公節也。近承乏斯土以公事過’其邑見祠所蕭踈’惻然有感’謀共損俸營之府’縣佐属轄紳願以資助’邑族請幹其役’因以事白制堂琼佐則曰『扶植風教於是乎在此義起也』。於是即公故居建祠三間’材以鉄’覆以瓦’工竣邑族請記之。夫士大夫立身天地間莫大乎!綱常黎之季’文武諸臣或從亡或徇節非可以一二数也。然而隻于其崎嶇志其興復事’苟不就從容就義以身肩有黎三百年綱常之重公其人也。方之有宋文承相亦何多讓哉。噫氣節凌霜萬古瞻仰。越監有史’北城有祠’區區邑祠之有無何足為公輕重’惟吾人一片景行之私。庶幾因祠以達之且雲泥一爪於耳目’所及者誌之風教或有開焉。誠有如制堂所云者。
嗣德十九年十一月初一日。
原清化布政使陞署户部右參知春亭黎亮拨重彙。
須清化按察使安亭裴彩筆心正仝謹誌。
Dịch nghĩa:
Bài kí đền Thượng thư họ Nguyễn
Ông họ Nguyễn, huý Đình Giản người xã Vĩnh Trị, huyện Hoằng Hoá, là người khảng khái, chuộng khí tiết. Đỗ Tiến sĩ khoa Kỉ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng, từng làm Đốc trấn Thái Nguyên. Năm Bính Ngọ (1786) giặc (chỉ quân Tây Sơn) tiến đánh thành Thăng Long, ông đem binh cần vương bảo vệ kinh thành, được trao chức Binh bộ Thượng thư Bình chương quân quốc trọng sự. Kịp lúc quân Tây Sơn lại kéo đến, vua Lê bỏ thành sang cầu viện phương Bắc, ông bị thất lạc, không kịp theo hầu, bèn ẩn vào vùng Lập Thạch, Bất Bạt, trấn Sơn Tây kết nạp hào kiệt, tính mưu dẹp giặc. Trong khi chưa kịp phát động thì con gái yêu của ông bị giặc bắt làm vợ, và chuyển thư của con gái để chiêu dụ ông. Ông nghiêm sắc mắng rằng: “Định dùng con gái yêu của ta để lấy cớ làm loạn nghĩa quân thần chăng! Trời không kéo dài vận nước cho nhà Lê, ta chỉ có chết mà thôi.” Quân Tây Sơn tấn công bắt sống được ông, đem giam trong ngục, dùng lời lẽ ngon ngọt dụ dỗ, uy hiếp, nhưng cuối cùng không khuất phục được ông, bèn giết hại ông trong ngục. Trong bài Thuật hoài của ông có câu: “Hận vô Vương Thục[1] trung thần kiếm, Lãng tụng Văn Sơn[2] Chính khi ca / Hận nỗi gươm thiêng của bậc trung thần Vương Thục không thể báo đáp, Trách vì Chính khí ca của Văn Sơn có thừa”[3]. Thời hậu Lê tinh thần trung nghĩa tiết tháo của ông được ghi lại rất rõ.
Vào buổi ban đầu quốc triều Tự Đức, bề tôi trong nội các đem những việc tiêu biểu mạo muội dâng lên, vua xem và hết lòng khen ngợi ông.
Ban cho tên thuỵ theo thông tục, dựng đền thờ ở Thăng Long để xứng với chức phận mà ông được thờ tự. Buổi đầu sở quan đã xem xét phê duyệt, việc này tỏ rõ sự tôn vinh khí tiết của ông vậy. Khi sắp thực hiện phần đất xây đền ấy lại bị thiếu, việc của ông thì không thể để lâu được, mà đền thờ trong ấp thì hoang sơ, chạnh lòng cảm tiếc, bèn cùng bàn bạc quyên góp tiền trong dinh cơ phủ huyện, Huyện tá trong hạt nguyện xin trợ giúp, bản tộc trong ấp thì tìm mời thợ giỏi về việc ấy, nhân lúc việc đã thông suốt cho việc dựng đền, người giúp đỡ cùng nói: “Vun trồng phong tục giáo hoá là khởi nguồn của việc nghĩa vậy”. Thế là dựa trên nền cũ, dựng được 3 gian, phần gỗ thì dùng lim, phần lợp thì dùng ngói, khi công việc hoàn tất, bản tộc trong ấp mời người ghi lại việc ấy. Ôi! kẻ sĩ đại phu lập thân giữa trời đất chẳng lớn lắm ru! Lẽ cương thường cuối triều Lê, bề tôi văn võ có người bị chết, có người tuẫn tiết, chẳng phải chỉ một hai vậy. Nhưng chẳng may sinh vào buổi loạn lạc, muốn phát huy cái chí của mình để cống hiến, lẽ nào không theo sự bao dung nghĩa cử, đem mình gánh vác trọng trách về lẽ cương thường nhà Lê tới 300 năm, thì ông là người như vậy. Nếu đem so với ông với Văn Thừa tướng nhà Tống sao có thể thấp hơn được. Ôi! khí tiết lưu danh vạn cổ, chiêm ngưỡng thì sử có Việt giám, đền ở Bắc Thành, nếu chỉ có ngôi đền nhỏ trong ấp thì sao có thể thoả hết được công lao lớn nhỏ của ông, mà chỉ có người như ta một mảng riêng tư mới có thể nhìn sâu rộng được. Ngõ hầu, đền thờ cũng đạt được đến đó, vả lại như giọt sương mây ở tai mắt, liệu có thể sánh kịp được phong giáo của bậc chí mà có người được khai sáng từ đó. Chính là thành cẩn như việc dựng đền chăng!
Ngày 01 tháng 11 năm Tự Đức thứ 9 (1856).
Nguyên Thanh Hoá Bố Chánh sứ Thăng thự Hộ bộ Hữu Tham tri Lê Lượng, hiệu Xuân Đình vựng tập.
Tu Thanh Hoá Án sát sứ Bùi Thái hiệu Yên Đình viết chữ, Tâm Chính cùng kính ghi.
Chú thích:
(2). Văn Thiên Tường ban đầu có tên Vân Tôn (雲孫), tự Thiên Tường (天祥), sau đổi thành Tống Thụy (宋瑞) và có tự là Lí Thiện (履善), hiệu Văn Sơn (文山). Ông xuất thân từ Cát Châu Lô Lăng (吉州廬陵), bây giờ là huyện Cát An, tỉnh Giang Tây). Lúc còn nhỏ, Văn Thiên Tường chăm học, đọc nhiều sách, ông thích nhất là những câu chuyện nói về "Trung thần nghĩa sĩ". Tư tưởng yêu nước đã ăn sâu vào tâm hồn ông. Năm 1253, đời vua Tống Lý Tông, Văn Thiên Tường 17 tuổi, tham gia kỳ thi Hương ở Lô Lăng, tên đậu đầu bảng. Lúc đứng trước tượng Âu Dương Tu, ông đã nói : "Sau này tôi chết đi, nếu không được như ông, mọi người tưởng nhớ, thì tôi không phải là bậc đại trượng phu".
(3). Hai câu thơ trong bài Tựu nghĩa thời thi của Nguyễn Đình Giản.
(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.163-168)