2. Bài văn bia “Hành cung Tĩnh Viêm” của vua Khải Định, người phát hiện khu du lịch Lăng Cô (TBHNH 2001)
BÀI VĂN BIA “HÀNH CUNG TĨNH VIÊM” CỦA VUA KHẢI ĐỊNH, NGƯỜI PHÁT HIỆN KHU DU LỊCH LĂNG CÔ
PHAN THUẬN AN
Nhà nghiên cứu - Huế
Nhân dân vùng Huế đang phát huy tiềm năng văn hoá du lịch của địa phương mình để nâng cao dần đời sống kinh tế. Ngoài các thành quách, cung điện, lăng tẩm của vua chúa ngày xưa, vùng này còn có nhiều danh lam thắng cảnh, những khu du lịch nghỉ mát ở núi đồi và bờ biển.
Một trong những khu du lịch và nghỉ mát nổi tiếng hiện nay ở vùng Huế là Lăng Cô, nơi còn bảo lưu được tấm bia đá khắc bài minh văn do vua Khải Định "ngự chế" cách đây hơn 80 năm.
Tấm bia vẫn ở nguyên tại chỗ: khu vực Lăng Cô (sát chân phía bắc của đèo Hải Vân) nay thuộc thôn An Cư Đông 1, xã Lộc Hải, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế, cách trung tâm thành phố Huế 66,5km về phía nam.
Bia được tạo tác bằng đá màu xanh nhạt (thường gọi là đá thanh, tức đá lấy từ Thanh Hoá); mang dạng và phong cách nghệ thuật chung của bia thời Nguyễn ở vùng Huế; gồm hai phần: tấm bia và đế bia.
Tấm bia cao 160cm, rộng 63cm, dày 12cm, có đầu bia, tai trên và tai dưới, được chạm trổ công phu.
Đế bia cao 32cm, rộng 66cm, dài 96cm, làm theo dạng sập gụ trổ chân quỳ.
Cách đây 10 năm, chính quyền xã sở tại đã tôn cao cả bia lẫn đế lên trên một bệ xây bằng xi - măng cao 20cm, rộng 113cm, dài 146cm. Mặt trước của bệ được khắc ba dòng chữ quốc ngữ:
"TTVH xã Lộc Hải
đại sùng tu [sic]
16 - 6 - 1991".
Nhìn chung, bia và đế đều còn tốt, nét chữ rõ ràng. Nay xin chép lại bài minh văn trong lòng bia như sau:
啟定御製靜炎行宮碑銘
朕即政之初年夏六月循省觀風鑾轝南指所經山川靡不周覽適逢此地地從富嶺沙嶼橫催水接海洋江沱環遶重巒淩宵拘其後臣壑無際臨其前前南夾雲關北連陽口幽村僻塢處處碧樹紅霞鳧渚鶴汀往往樵聲漁棹觀乎山則奇雲出岫如蓬舞諸仙取於水則清風激濤如海朝萬馬於是停與四顧查目娛觀而氣佳而風和而景熙而物秀鐘眸良久不覺滿身生涼炎亢都靜陶然觸景而興懷回鑾之日即敕工部柢處相立營建行宮命名曰靜炎行宮為盛夏乘涼之所以辰奉兩宮御臨避暑並奉觀奇覽勝幸奉嘉娛則非惟朕承歡清職之一助而乘涼勝致亦宜留紀於以勒石為銘
啟定肆年貳月貳拾肆日
Dịch nghĩa:
Bài văn bia HÀNH CUNG TĨNH VIÊM(1) do vua Khải Định "ngự chế".
Vào tháng sáu mùa hè năm đầu, trẫm mới lên ngôi (1916), nhân dịp đi tuần du trong tỉnh để xem xét phong tục, xe loan hướng về phía nam, vượt qua sông núi, không đâu không nhìn ngắm kỹ, bỗng gặp được chốn này.
Ở đây, đất liền núi Phú (2), bãi cát giăng ngang; nước tiếp đại dương, sông chảy quanh quất. Núi non cao ngất ôm phía sau, đầm nước trải dài về phía trước. Phía nam giáp với Hải Vân Quan, phía bắc liền với cửa biển Cảnh Dương. Thôn yên đảo vắng, nơi nơi cây biếc ráng hồng; bãi hạc đầm cò, thỉnh thoảng vọng tiếng tiều phu và nhịp chèo ngư phủ. Trông về núi thì thấy những cụm mây kỳ ảo bay lên từ hang hốc như các tiên nữ đang múa ở non bồng; nhìn xuống nước thì gió trong xua sóng chạy, như muôn ngựa cùng chầu về trên biển. Bấy giờ mới dừng xe loan trông ra bốn phía, nhìn rõ càng vui mắt, thấy nào là khí lành, nào là gió dịu, nào là cảnh vui, nào là vật đẹp. Đắm nhìn một hồi lâu, bất giác cả người mát rượi, sự nóng nực tan biến, lòng thấy hớn hở hẳn ra, và xúc cảnh sinh tình.
Đến ngày quay xe trở về, liền ban sắc bảo Bộ Công đến đó xây dựng hành cung, đặt tên là Hành cung Tĩnh Viêm, để làm nơi nghỉ mát giữa mùa hè, và thỉnh thoảng rước hai Hoàng thái hậu(3) về tránh nóng và ngắm cảnh. Khi đến đó, các vị cũng cảm thấy hài lòng.
Vậy thì đây không phải chỉ là nơi giúp riêng một mình trẫm vui thú lúc rảnh rang, mà còn cần phải ghi chép để lưu lại về sau một nơi nghỉ mát và một thắng cảnh. Vì thế cho nên làm bài văn này để khắc vào bia đá.
Ngày 24 tháng 2 năm Khải Định thứ 4(4).
Nội dung bài văn bia cho thấy chính vua Khải Đinh (1916 - 1925) là người đã phát hiện ra khu du lịch nghỉ mát Lăng Cô. Chúng ta có thể khẳng định điều này khi biết được những nơi mà nhà vua đã đặt chân đến.
Có thể nói rằng Khải Định là ông vua thích đi du lịch nhất trong số 13 ông vua nhà Nguyễn (1802 - 1945). Trong đời mình, ông đã đi du lãm nhiều nơi trong nước và cả nước ngoài nữa.
Vua Khải Định sinh năm 1885, lên ngôi năm 1916 và chết vì bệnh năm 1925. Ngay từ khi còn là hoàng tử, vào năm 1909, ở tuổi 25, ông đã vào trong Nam để đi tham quan Sài Gòn, Chợ Lớn, Thủ Đức, Biên Hoà... Sau khi lên ngôi hai tháng, vào tháng 7 - 1916, ông liền mở một cuộc "tuần tỉnh quan phong" ở những huyện từ Kinh thành Huế đến đèo Hải Vân. Chính trong chuyến đi này, ông đã phát hiện ra khu nghỉ mát ở bãi biển Lăng Cô. Tháng 9 năm ấy, ông đi thăm tỉnh Quảng Nam(5): vua đến tham quan Đà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ, mỏ vàng Bồng Miêu...
Sau đó hai năm, vào tháng 4 và 5 - 1918, ông mở một cuộc tuần du dài ngày hơn ở các tỉnh thành phía bắc miền Trung và miền Bắc. Trong chuyến Bắc tuần này, ông đã ghé thăm một số cơ sở sản xuất, danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử ở Quảng Trị; ở Đồng Hới, Luỹ Thầy (Quảng Bình); Hà Tĩnh (đi đến biên giới Lào); bái yết lăng miếu tổ tiên nhà Nguyễn ở Gia Miêu Ngoại Trang, thăm Phố Cát (Thanh Hoá); Văn Miếu, Trường Viễn Đông Bác Cổ, Nhà Hát Lớn (Hà Nội); Sơn Tây; Bắc Ninh; Bắc Giang; Hang động Kỳ Lừa, Nhị Thanh, Tam Thanh, Đồng Đăng (Lạng Sơn); Hải Dương; Hải Phòng, vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long,...(6).
Hai năm sau, vào tháng 8 - 1920, vua Khải Định lại "ngự giá" vào Đà Nẵng để xem các chiến hạm của Pháp(7).
Vào năm 1922, nhân cuộc "Đấu xảo Thuộc địa" (Exposition Coloniale) được tổ chức tại Marseille (Pháp), vua Khải Định đã thực hiện một chuyến Tây du từ tháng 5 đến tháng 9 để đi thăm thú nhiều nơi, kể cả Paris(8).
Như vậy, lúc sinh thời, vua Khải Định đã đi du lịch ở nhiều nơi, trong đó có 3 Di sản Văn hoá và Thiên nhiên thế giới của Việt Nam ngày nay là Huế, Hội An và vịnh Hạ Long. Và, dù ông đã bị nhiều người lên án về lập trường thân Pháp lúc bấy giờ, nhưng, với bài văn bia có giá trị thực tiễn lâu dài trên đây, chí ít, vua Khải Định cũng đáng được công nhận là người phát hiện ra khu nghỉ mát Lăng Cô, một khu du lịch lý tưởng và nổi tiếng mà hiện nay ngành du lịch Thừa Thiên - Huế đang phát huy tác dụng một cách tích cực và có hiệu quả.
Chú thích:
1. Tĩnh Viêm: nghĩa đen là làm dịu sự nóng nực.
2. Núi Phú: tức là núi Phú Gia, nơi có đèo Phú Gia trên quốc lộ 1A.
3. Hai Hoàng thái hậu: dịch từ chữ Lưỡng cung, nghĩa đen là hai toà cung điện. Hai bà Thánh cung (Nguyễn Thị Nhàn) và Tiên cung (Dương Thị Thục) đều là vợ của vua Đồng Khánh (1886 - 1888), thân phụ của vua Khải Định.
5. Nguyễn Bá Trác, Hoàng Việt Giáp Tý niên biểu, bản dịch của Bửu Cầm và các cộng tác viên, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr.361.
6. Richard Orband, Voyage de S.M Khải Định dans le Nord - Annam et au Tonkin, B.A.V.H, 1918, tr.139 - 182.
7. Nguyễn Bá Trác, sách đã dẫn, tr.366.
8. A.Salles, Visite de l'Empereur d'Annam à la Société de Géographie, BAVH, 1922, tr.321 - 336.
Thông báo Hán Nôm học 2001, tr.8-14