2. Một dòng họ có nhiều vị Đại khoa ở một làng ven đô (TBHNH 2003)
MỘT DÒNG HỌ CÓ NHIỀU VỊ
ĐẠI KHOA Ở MỘT LÀNG CỔ VEN ĐÔ
THẾ ANH
Đống Đa - Hà Nội
Là một trong bốn vùng có nhiều nhà khoa bảng nổi tiếng của huyện Từ Liêm “Mỗ, La, Canh, Cót - tứ danh hương”, làng Cót (nay là phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy) nằm sát cửa ngõ phía Tây thủ đô, là một vùng đất cổ - theo Bạch Liên khảo ký(1) thì vùng này đã có cư dân sinh sống từ đời nhà Đường. Cuốn sách có ghi “... Đến đời Mục Tông nhà Đường đô hộ, Cao Biền đắp thành Đại La, đào sông Tô Lịch, sắp xếp cư dân, bấy giờ làng ta mới được yên chỗ ở”. Lúc đầu làng này có 4 họ: Nguyễn, Hoàng, Quản, Doãn, về sau có thêm Trần, Phạm, Lê, Ngô. Từ lâu vùng đất này đã có truyền thống hiếu học, theo thống kê của địa phương thì từ đời Trần (thế kỷ 14) đến đời Nguyễn (thế kỷ 20) đã có 20 người đậu đại khoa trong đó họ Nguyễn có 5 người. Vị khai khoa đầu tiên cho làng là Hoàng Quán Chi (黃貫之) đỗ Thái học sinh khoa Quý Dởu, năm Trần Thuận Tông Quang Thái thứ 6 (1393) làm quan đến Thượng thư bộ Hình và bộ Lễ.
Cụ Tổ đồng thời là vị đại khoa đầu tiên của họ Nguyễn là Nguyễn Như Uyên (阮如淵). Gia phả họ Nguyễn có ghi rõ: Ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng Giáp) năm 33 tuổi đời Lê Thánh Tông năm Quang Thuận thứ 10 (1469). Lần theo các tư liệu như Bạch Liên khảo ký, Đăng Khoa bị khảo, Đại Việt sử ký toàn thư thì Nguyễn Như Uyên đã trải qua nhiều chức danh quan trọng dưới triều Lê như Tham tụng, Lại bộ Thượng thư, chưởng Lục bộ sự, Quốc tử giám tế tửu (bảng ghi danh sách các Tế tửu, Tư nghiệp Quốc tử giám có tên ông được treo trang trọng ở nhà Thái học Quốc tử giám). Nhập thị Kinh diên, hàm chánh nhất phẩm, khi về trí sĩ được phong Thái bảo Liêm quận công. Có thể nói ông là một vị công thần tột đỉnh vinh hoa lúc bấy giờ. Nguyễn Như Uyên còn được nhà vua tin dùng và giao trọng trách trên mặt trận quân sự. Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì ngày 23 tháng 8 băn Kỷ Hợi (1479) Nguyễn Như Uyên được cử làm Hành quân Chư doanh ký lục đi đánh Ai Lao, Bồn Man và Lão Qua. Vua trực tiếp chỉ dụ “Trên từ tướng súy, dưới đến quân lính, người nào chăm chỉ được việc hay lười biếng ngu đần, kẻ nào dám nhút nhát, hết thảy phải ghi chép cho rõ để tâu lên”. Tóm lại ông là người có công trị nước và đào tạo nhân tài trong thời kỳ thịnh trị nhất của chế độ phong kiến.
Người thứ hai của họ Nguyễn đỗ đại khoa là Nguyễn Xuân Nham (阮春巖) cháu nhà chú bác với Nguyễn Như Uyên đỗ Đồng tam giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Mùi, năm Cảnh Thống thứ hai (1499), làm quan tới chức Hình bộ Đô cấp sự trung.
Vị đại khoa thứ ba của dòng họ là Nguyễn Khiêm Quang (阮謙光) tự là Dưỡng Hối, thụy là Lỗ Khê, đỗ Tiến sĩ khoa Quý Mùi, niên hiệu Thống Nguyên năm thứ hai (1523) triều Lê, làm quan tới chức Mậu lâm lang Phụng trí đại phu, Lạng Sơn xứ tán trị, Thừa chánh sứ ti, Thừa chánh sứ, tham dự triều chính.
Vị đại khoa thứ tư của họ Nguyễn là Nguyễn Nhật Tráng (阮日壯) - có một số tài liệu chép nhầm chữ Nhật (日) ra chữ Viết (曰) - ông là cháu nội cụ Nguyễn Khiêm Quang, đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp) khoa ất Mùi - niên hiệu Quang Hưng năm thứ 18 (1595). Theo văn bia Quốc tử giám thì đây là khoa Tiến sĩ thứ 5 đời Trung hưng, một khoa thi lớn, sĩ tử về bộ Lễ dự thi có trên 3000 người, nhưng chỉ lấy đậu có 6 người (trong đó có hai vị Hoàng giáp là Nguyễn Nhật Tráng và Nguyễn Thực). Nguyễn Nhật Tráng làm quan tới chức Đô cấp sự trung, tá lý công thần, Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại phu. Khi mất được vua Lê truy phong là Bỉnh trung đại vương, Kiệt tiết công thần vcà cho lập đền thờ. ở thôn Trung Kính Thượng trước đây có ngôi miếu thờ ông gọi là Quán ông Nghè. ở làng Cót còn lưu truyền nhiều chuyện giai thoại lý thú về nhân vật lịch sử này.
Vị đại khoa thứ năm của dòng họ Nguyễn Như Uyên là Nguyễn Vinh Thịnh (阮文盛) cháu 4 đời của Nguyễn Nhật Tráng, đỗ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Hợi niên hiệu Vĩnh Thọ năm thứ 2 (1659) đời Lê Thần Tông, thăng Mậu lâm lang Thẩm hình viện đề hình, giám sát ngự sử.
Ngoài các vị đại khoa trên đây, dòng họ Nguyễn Như Uyên còn có trên ba chục người đậu Cử nhân và Tú tài, nhiều người đã ra làm quan hoặc ở nhà mở trường dạy học. Phát huy truyền thống hiếu học và tinh thần yêu nước của cha ông, ngày nay dòng họ đã có nhiều đóng góp tích cực cho đất nước và quê hương trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục,... Trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại, dòng họ đã có hàng trăm chiến sĩ tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và nhiều người đã hy sinh, có gia đình cả hai bố con đều là liệt sĩ, nhiều người tham gia cách mạng từ trước ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.
Hiện nay ở làng Cót còn có nhà thờ họ Nguyễn Như Uyên được xây dựng trên một khu đất đẹp có lũy tre xanh bao bọc và một ao nước tạo cảnh quan tĩnh mịch và thiêng liêng cho nơi thờ cúng, gian giữa nhà thờ có bốn chữ Liêm quận công từ. Trong nhà thờ còn có một số hoành phi và câu đối nhắc đến truyền thống của quê hương, công lao và sự nghiệp của vị khai khoa làm rạng danh cho dòng họ. Cạnh nhà thờ còn có 3 ngôi mộ tưởng niệm với những tấm bia ghi tên 3 vị đại khoa Nguyễn Như Uyên, Nguyễn Nhật Tráng, Nguyễn Vinh Thịnh. Từ năm 1994 Ban quản lý di tích Sở Văn hóa thông tin Hà Nội đã lập hồ sơ và có biên bản đề nghị xét công nhận di tích, năm 1996 đã tổ chức Hội thảo ở địa phương khảo sát thực trạng di tích gồm các chuyên gia, một số giáo sư đầu ngành có liên quan và đại diện Sở Văn hóa thông tin Hà Nội, có nhiều bài viết về vấn đề này cũng đã được đăng tải trên các báo, nhưng đến nay sự việc hầu như đã bị lãng quên và khu đất nhà thờ họ Nguyễn - nơi tưởng niệm các vị đại khoa thì ngày một thu hẹp do bị lấn chiếm.
Chú thích:
(1) Bạch Liên khảo ký là một cuốn xã chí do Nguyễn Quang Địch sống dưới triều Minh Mạng biên soạn (Bản dịch của nhà nghiên cứu Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm 1966 - chưa in).
Thông báo Hán Nôm học 2003, tr.16-19