VI | EN
2.Những thể thơ truyền thống của Việt Nam viết bằng chữ Hán (TBHNH 2002)
TBHNH2002

NHỮNG THỂ THƠ TRUYỀN THỐNG CỦA
VIỆT NAM VIẾT BẰNG CHỮ HÁN

THẾ ANH

Láng Thượng, Đống Đa, Hà Nội

     Tiếng Việt và tiếng Hán là những ngôn ngữ đã có một lịch sử lâu đời. Trong quá trình tiếp xúc, tiếng Việt đã tiếp nhận một số lượng lớn tiếng Hán, làm giàu thêm cho kho từ vựng của mình. Khi du nhập vào Việt Nam tiếng Hán đã bị Việt hoá về mặt âm đọc mà ngày nay chúng ta gọi là cách đọc Hán Việt – một dạng ngữ âm tiếng Hán thời Đường được bảo lưu đến hôm nay. Đó là kho tài sản riêng vô cùng quý báu của chúng ta mà ngay cả Trung Quốc - đất nước đã sản sinh ra chữ Hán cũng không có được. Một điều hiển nhiên là ngày nay chúng ta đọc hoặc ngâm những bài thơ Đường được sáng tác cách đây trên một ngàn năm mà âm điệu vẫn du dương truyền cảm, bằng trắc, niêm luật trong câu thơ vẫn hài hoà, tề chỉnh khác với cách đọc theo âm Bắc Kinh hiện đại, bởi lẽ ngữ âm tiếng Hán qua một chặng đường dài từ đời Đường đến nay đã có nhiều biến đổi, một âm bằng thời Đường, ngày nay có thể biến thành trắc và ngược lại. Do đó chúng ta thường thấy có một số tuyển tập thơ Đường in ở Trung Quốc được ghi ký hiệu bằng, trắc (vòng tròn trắng là bằng, đen là trắc) để giúp cho người đọc ngày nay nắm được thanh luật đời Đường. Tiếng Việt và tiếng Hán là ngôn ngữ cùng loại hình đơn lập và có một số đặc điểm chung là không có thì, có cách, không có giống số, không có từ loại cố định như nhiều thứ tiếng khác. Từ trong tiếng Việt và tiếng Hán có thể tham gia vào việc cấu tạo câu rất linh hoạt, đảm đương nhiều chức năng, có khi là danh từ làm định ngữ, có khi là động từ làm vị ngữ... Mặt khác do những nét tương đồng về mặt văn hoá nên việc cảm nhận và thưởng thức văn chương cũng có nhiều thuận lợi, người Việt không xa lạ với những hình tượng có tính chất ước lệ như phong, hoa, tuyết, nguyệt; tùng, cúc, trúc, mai; cầm, kỳ, thi, hoạ... hoặc dương liễu, phù dung, ngô đồng... trong thơ văn Trung Quốc.

     Có những câu thơ Đường đọc lên theo âm Hán Việt không cần dịch, người Việt Nam vẫn hiểu và cảm nhận được, dù cho là người “ít chữ Hán” chẳng hạn:

- Thương nhân trọng lợi, khinh biệt ly,

- Tương phùng hà tất tằng tương thức.

(Tỳ bà hành – Bạch Cư Dị)

- Cung nữ như hoa mãn xuân điện.

(Việt trung lãm cổ – Lý Bạch)

     Điều này giải thích tại sao nhiều nhà thơ của Việt Nam trước đây (trong đó có một số nhà khoa bảng) đã dùng chữ Hán để làm thơ lục bát và song thất lục bát là những thể thơ thuần tuý của Việt Nam mà âm điệu vẫn du dương, nội dung vẫn hàm súc, cô đọng mà không hề gượng ép. Trong khi sáng tác trên 3000 câu thơ Truyện Kiều bất hủ có lẽ Nguyễn Du cũng không để ý là mình đã viết hai câu lục bát hoàn toàn bằng chữ Hán là:

Hồ Công quyết kế thừa cơ,

Lễ tiên binh hậu khắc cờ tập công.

mà người đọc vẫn cảm nhận được cái hay, cái đẹp của thanh âm, nhịp điệu và coi như câu thơ tiếng Việt bình thường không ai bắt bẻ và chẳng có ảnh hưởng gì đến vấn đề thưởng thức. Có người đã dịch toàn bộ Truyện Kiều ra thơ chữ Hán theo nguyên thể lục bát. Xin trích một vài đoạn:

Tương giang nhất thuỷ phân cừ

Quân ư giang vĩ thiếp ư giang đầu.

Cao tường tuyết ủng sương câu

Xuân hoa âm tín dục đầu bất thông.

Du du tịch nguyệt thần phong,

Sơ hồng mật lục xuân tòng thử qua.

Hạnh phùng sinh nhật ngoại gia,

Xuân huyên tỉ muội bôn ba viễn hành.

Y quan xa mã cù doanh,

Chỉnh tu hậu lễ biểu minh thốn thành

(Sông Tương một dải nông sờ,

Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia.

Một tường tuyết trở sương che,

Tin xuân đâu dễ đi về cho năng.

Lần lần ngày gió đêm trăng,

Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua.

Ngày vừa sinh nhật ngoại gia,

Trên hai đường dưới nữa là hai em.

Tưng bừng sắm sửa áo xiêm,

Biện dâng một lễ xa đem tấc thành).

Thuỷ thiên nhất sắc y hi,

Ảnh lung hoàng lĩnh yên vi bích thành.

Mã tiên ký phất thượng hành,

Hương xa thư diệc thuận trình ninh quy.

(Long lanh đáy nước in trời,

Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.

Roi câu vừa gióng dặm trường,

Xe hương nàng cũng thuận đường quy ninh).

Liên tàn cúc dĩ khai hoa,

Tình trường nhật đoản hạ qua thu hồi.

Cố nhân hà xứ tầm lai,

Quy ư định số dĩ bài thương tâm.

Tha hương phong cảnh tình thâm,

Tư hương sinh thỉ lộ tầm quy hương.

(Sen tàn cúc lại nở hoa,

Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân.

Tìm đâu cho thấy cố nhân?

Lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương.

Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương

Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê).

Lê Dụ dịch

     Nguyễn Huy Oánh (1713-1789) đậu Thám hoa, làm quan đến Thượng thư bộ Hộ dưới triều Lê Hiển Tông cũng đã viết bài Phụng sứ Yên Đài tổng ca dài 368 câu lục bát bằng chữ Hán kể lại cuộc hành trình của mình khi sang sứ nhà Thanh. Bài thơ mở đầu bằng mấy câu:

Cảnh Hưng nhị thập thất niên,

Tuế phùng Bính Tuất nhật triền tâu tư.

Mã duy kỳ bí như ti (tư)

Chu đạo uy trì ngã xuất ngã xa.

Ly câu thanh náo hành ca,

Triêu độ Nhị Hà, trú Ái Mộ thôn.

Thể thần dao ngưỡng hồng ân,

Đinh ninh sổ ngữ ôn tồn nhất chương.

     Bài Thanh bình ca điệu do Ngô Mạnh Cầu sáng tác năm Tự Đức thứ 27 (1874) ca ngợi cuộc đời Phạm Văn Nghị có những câu:

Phạm gia bách hữu dư niên

Mạch thừa nhân hậu thế truyền hiếu trung

Hàn môn năng tự cố cùng

Nho phong thanh bạch âm công triệu bồi.

     Đoạn Phạm Văn Nghị về hang núi Trường Yên (Ninh Bình) ở ẩn có những câu:

Thanh u biệt thự kính thâm

Liễu thuỳ ngoại hộ liên âm tiền trì

Tả Phật tự, hữu thần từ

Triêu minh chung đáo, mộ phi điểu hoàn

    
     Ngay cả những bài Trường ca về địa lý hoặc lịch sử đôi khi các tác giả cũng dùng chữ Hán viết theo thể lục bát như bài mô tả về huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương của một tác giả Vô danh hoặc bài Sử ca kể lại chuyện lịch sử Trung Quốc từ đời Bàn Cổ đến đời Minh của Nguyễn Đăng Tuyển.
      Những người ở lứa tuổi trên 70 trước đây đã từng học qua bậc Cao đẳng tiểu học (tương đương cấp phổ thông cơ sở hiện nay) hẳn còn nhớ nhiều đoạn trong bài Thu dạ lữ hoài ngâm viết bằng chữ Hán theo thể thơ song thất lục bát được trích giảng trong những giờ Hán văn ít ỏi ở lớp. Bài thơ dễ thuộc chẳng những nhờ âm điệu du dương bay bổng mà còn mang một nội dung sâu sắc. Tác giả bài thơ là Tiến sĩ Đinh Nhật Thận (1815-1866), bà con ở quê hương Thanh Chương, Nghệ An vẫn gọi nhà thơ bằng một cái tên trìu mến – cụ Nghè Đinh. Đinh Nhật Thận thường giao du với những danh sĩ đương thời như Cao Bá Quát, Nguyễn Hàm Ninh... Về sau họ Cao dấy binh chống triều Nguyễn, ông bị tình nghi có liên quan và bị quản thúc. Trong thời gian này ông viết bài Thu dạ lữ hoài ngâm dài 140 câu để bày tỏ nỗi niềm tâm sự đối với gia đình, quê hương..., lời thơ bóng bẩy, cảm động, ai oán, toát lên một nỗi buồn da diết. Bài thơ tuy chỉ bộc bạch tâm sự cá nhân, nhưng người đọc vẫn thấy được ý nghĩa tố cáo xã hội sâu sắc trong đó:

Thi tứ tuyệt di du nhã ái,

Tửu tam bôi tiêu sái ly hoài.

Đăng tiền độc đối thư trai,

Thương tâm khách địa hữu hoài cố nhân.

(Thơ nhã ái bốn câu buông vận,

Rượu ly hoài ba chén làm khuây.

Trước đèn trong chốn thư trai,

Não lòng đất khách ngậm ngùi người xưa).

Ta khách địa vu oanh tâm sự,

Thán khuê nhân tình tự khả liên

Canh thâm đăng diệt án tiền,

Hàm tình yểm phiến không huyền nguyệt minh.

(Than đất khách não nùng tâm sự,

Thương người quê tình tự bấy giờ.

Đèn khuya cơn tỏ cơn mờ,

Ngậm sầu che quạt luống chờ bóng trăng).

     Mấy câu kết của bài thơ thật cảm động:

Tương hà nhật cánh tương đối ngữ

Tự khuê tình hựu tự khách trung

Nhi kim thu nguyệt thu phong

Thu ngâm thu ẩm tình trung giả thuỳ

Đối ly cảnh, lệ thuỳ song nhãn

Cố hương quan, lộ hạn trùng san

Tửu tàn độc ỷ lan can

Giác lai nhãn khán dạ hoàn thê lương.

(Đến bao giờ cùng ngồi kể chuyện

Kể hương tình cho đến khách trung

Mà nay nào nguyệt nào phong

Nào thi nào tửu biết cùng ai hay

Sầu ly biệt tuôn đầy hai mắt

Bóng hương quan xa khuất dặm ngàn

Rượu rồi ngồi tựa lan can

Chiêm bao tỉnh giấc đêm tàn về thu...

(Tương truyền tác giả tự dịch)

     Kỳ Đồng – một tài năng xuất chúng cũng lấy chủ đề Thu dạ lữ hoài ngâm và dùng chữ Hán viết theo thể song thất lục bát như Đinh Nhật Thận để thể hiện lòng căm thù giặc Pháp và mong mỏi có ngày khôi phục đất nước:

...

Hào đỗ vũ thiên thôn tịch mịch,

Tức trùng thanh tứ bích thê lương.

Khả lân tự cổ chiến trường,

Đài phong kim thốc ô nhương cô hồn.

Quần hùng trục hoành bôn chi lộc,

Tứ hải chiêm chỉ ốc chi ô.

Thiên tâm vị yếm Hồ sô,

Thuỷ thâm hoả nhiệt lai tô giả thuỳ.

(Tiếng quyên bổng một trời khắc khoải,

Lại bốn bề dế gọi đau thương.

Buồn thay cảnh cũ chiến trường,

Cô hồn quạ cúng, tên vàng bám rêu!

Hươu một con ùa theo bao kẻ,

Quạ một bầy bốn bể đều trông.

Giặc Hồ trời hãy còn dong,

Nước sâu lửa đỏ dễ hòng kêu ai?

....

(Học Canh dịch)

Thức thời vụ tại hồ tuấn kiệt,

Tinh cạnh quang nhi nguyệt vị minh.

Phong trần hà nhật tảo thanh,

Long nhương thủ khởi Cốc thành vũ phi.

(Người tuấn kiệt biết chờ thời vụ,

Sao long lanh để úa vầng trăng.

Bao giờ đạp đổ bất bằng,

Cất đầu vỗ cánh dặm băng vẫy vùng.

...

(H.C dịch)

     Nhà chí sĩ Phan Bội Châu cũng có bài thơ Tư hữu ngâm theo thể song thất lục bát. Nội dung nói lên lòng mong nhớ người bạn đồng tâm (có thể là Nguyễn Thượng Hiền):

... Song tiền vọng nghi quân hốt đáo,

Bộc môn nghênh không báo tinh kỳ.

Viện thâm thử cảnh cọng thuỳ,

Trùng minh thanh xướng thanh tuỳ đông viên.

Đăng khiêu tận vị thành miên,

Thanh sơn hồi thủ minh tiên mộng tần.

Trướng trung vọng nghi quân chí chỉ,

Đệ liêm phi thuyết vị văn xa.

Kim tôn trường đối đăng hoa,

Liên ngâm, ngâm tận, phục ca, ca tàn.

(Trông trước song ngờ anh bổng đến,

Ra cửa nghênh, nào bóng tinh kỳ.

Nhà sâu cảnh ấy cùng ai.

Tiếng trùng non nỉ, vọng từ vườn đông.

Đèn khêu cạn, giấc chưa thành.

Non xanh quay lại mơ từng thét roi.

Trông trong trướng ngờ anh đến đó,

Nhưng vén rèm rõ chửa nghe xe.

Chén vàng đối mãi hoa đèn,

Tạm ngâm, ngâm hết, lại ca, ca tàn).

     Xin lưu ý là về tiết tấu và nhịp điệu của câu thất trong song thất lục bát và câu thất trong thất ngôn Đường luật cũng không giống nhau. Câu thất trong song thất lục bát bao giờ cũng ngắt nhịp theo lối 3-4:

Thi tứ tuyệt / di du nhã ái,

Tửu tam bôi / tiêu sái ly hoài

     Còn trong thơ Đường luật thì thường ngắt nhịp theo lối 4-3:

Lưỡng cá hoàng ly/ minh thúy liễu,

Nhất hàng bạch lộ / thướng thanh thiên.

(Đỗ Phủ)

     Ngoài hai thể thơ lục bát và song thất lục bát quen thuộc với mọi người còn có một thể loại văn học thuần tuý của Việt Nam cũng được các nhà thơ dùng chữ Hán để sáng tác. Đó là thơ ca trù (hát nói) – một thể thơ được viết cho các đào nương hát. Thể thơ này ít được phổ biến, nên chúng tôi xin phép được mở ngoặc nói thêm: Một bài hát nói thường gồm 11 câu, nhưng đôi khi cũng có thể kéo dài. Số chữ trong câu thơ cũng không có quy định chặt chẽ mà tuỳ theo sở thích của tác giả và người hát. Câu thơ cuối cùng thông thường là 6 chữ. Cách gieo vần trong một bài hát nói cũng khác với thể thơ lục bát và song thất lục bát. Vần được gieo ở cuối câu, lần lượt hai câu bằng rồi hai câu trắc cho đến hết bài. Xin nêu một bài làm dẫn chứng:

Tô Đông Pha du Xích Bích

Phong thanh nguyệt bạch

Tô Đông Pha Xích Bích chi du

Tích phùng thu, kim hựu phùng thu

Thiên cổ hào tình nhân vị lão

Ngô đồng nguyệt thướng hoài trung chiếu

Dương liễu phong lai diện thượng xuy

Vấn Nam lâu kim dạ hà kỳ

Giang thôn chỉ kiến thiên biên nhạn

Ngọc địch nhất thanh hàn đăng nhất trản

Hoài giai nhân hề bất năng vương

Thu phong lan tú cúc phương

Vô danh

(Gió mát trăng trong

Tô Đông Pha đi chơi sông Xích Bích

Ngày xưa gặp mùa thu, nay lại gặp mùa thu

Kẻ hào tình nghìn xưa chưa già

Trăng cây ngô đồng soi vào trong lòng

Gió cây dương liễu thổi vào trên mặt

Hỏi thú Nam lâu đêm nay hẹn nơi nào?

Chốn Giang thôn chỉ thấy nhạn bay trên trời

Sáo ngọc một tiếng, đèn lạnh một ngọn

Nhớ người đẹp chẳng lúc nào quên

Gió thu lan tốt cúc thơm)

     Trong những bài ca trù viết bằng chữ Hán các tác giả thường dùng những điển cố và những câu thơ nổi tiếng của các thi nhân Trung Quốc có cải biên ít nhiều cho phù hợp với nội dung và hình thức của thể loại. Ví dụ trong bài Thoát quy điền lý (Quay về quê hương) thì phần nhiều lấy ý trong bài Quy khứ lai từ của Đào Tiềm đời Tấn hoặc lấy điển lư khoái (gỏi cá lô): Cố hương lư khoái mộng sơ hàn (vừa mơ thấy gỏi cá lô ở chốn cố hương – Trương Hàn đời Nam Tề quê ở Ngô quận, làm quan ở xa thấy gió thu thổi nhớ đến gỏi cá lô ở cố hương bèn làm bài Thu phong từ rồi bỏ quan về quê). Trong bài Cẩm Giang xuân sắc có câu Tiếu đông phong y cựu đào hoa là đảo ngược câu Đào hoa y cựu tiếu đông phong của Thôi Hộ, thậm chí lấy nguyên cả câu thơ trong bài U Châu tân tuế tác của Trương Thuyết:

Khứ tuế Kinh Nam mai tự tuyết,

Kim niên Kế Bắc tuyết như mai.

(Kinh Nam năm ngoái mai như tuyết,

Kế Bắc giờ đây tuyết tựa mai).

     Nguyễn Khuyến cũng viết hai bài Hát nói bằng chữ Hán là Bùi viên cựu trạch ca Bùi viên đối ẩm trích cú ca rồi dịch ra quốc âm theo thể ca trù. Nhà thơ cũng lấy nguyên câu thơ của Lý Bạch trong bài Tương tiến tửu:

Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch,

Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh

(Đời trước thánh hiền đều vắng vẻ

Có người say rượu tiếng còn nay)

N.K

     Vấn đề là ở chỗ các tác giả đã khéo vận dụng điển cố và kết hợp những câu thơ có sẵn vào bài thơ của mình một cách nhuần nhuyễn, không hề gượng ép và nâng cao được hiệu quả nghệ thuật.

     Những thể thơ truyền thống viết bằng chữ Hán là sản phẩm độc đáo của Việt Nam tuy không phổ biến như thơ Đường luật, nhưng nhiều nhà thơ đã vận dụng một cách sáng tạo và đã có những thành công nhất định, nó đã đáp ứng được nhu cầu thưởng thức của một số người trước đây và đã góp phần làm phong phú thêm mảng thơ chữ Hán trong kho tàng văn học của nước nhà.

Thông báo Hán Nôm học 2002, tr.17-29

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm