VI | EN
2. Nói lại tấm bia “Phụng vãng Bắc sứ tả ký”. (TBHNH 1998)
TBHNH 1998

NÓI LẠI VỀ TẤM BIA “PHỤNG VÃNG BẮC SỨ TẢ KÝ”

TRẦN KIM ANH

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Kỷ yếu Hội nghị Thông báo Hán Nôm học năm 1997 của Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Nxb. KHXH, H.1998) đã đăng bài Một tấm bia quý nêu việc một sứ thần Việt Nam đi sứ Trung Quốc không may qua đời mới phát hiện ở xã Phúc Tăng huyện Việt Yên tỉnh Hà Bắc của Nguyễn Trọng Cách. Bài viết đã đưa ra những thông tin sai lạc về tấm bia; Bởi vậy, chúng tôi thấy cần phải có đôi lời đính chính.

1. Trước hết, đây không phải là tấm bia mới phát hiện bởi lẽ:

- Bia này đã được Học viện Viễn đông Bác cổ (EFEO) đưa vào bộ sưu tập thác bản văn bia của Học viện từ trước năm 1945. Thác bản hiện được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, mang ký hiệu N9940-9943. Bia 4 mặt. Bản in dập tuyệt đẹp, không in dập phần hoa văn.

- Năm 1993, bia này đã được chọn đưa vào bộ Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (công trình hợp tác giữa Viện Nghiên cứu Hán Nôm và TOYOTA, do GSTS.Nguyễn Quang Hồng chủ biên. Nxb.KHXH, H, 1993) - mục “Bia đình” số thứ tự 149, 150 và 151.

2. Qua thông tin của tác giả Nguyễn Trọng Cách, người đọc sẽ hiểu đây là tấm bia nhỏ 1 mặt, cả thảy chừng 400 chữ, mang tên Tuỳ vãng Bắc sứ tả ký” 隨 往 北 使 左 記 (chẳng hiểu sao chữ 左  tả ở đây được tác giả dịch là tả lại). Nhưng khi khảo sát thác bản chúng tôi nhận thấy:

- Đây là 1 bia 4 mặt. Cả 4 mặt của thác bản bia - tại góc trái phía trên, đều có dòng chữ Hán do EFEO ghi: “Bắc Giang tỉnh Việt Yên huyện Hoàng Mai tổng Phúc Tăng xã đình tứ diện bi chi tiền (hậu, tả, hữu)”. Có nghĩa là: “Mặt trước (sau, phải, trái) của bia 4 mặt ở đình xã Phúc Tăng tổng Hoàng Mai, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang”. Mặt trước và sau của thác bản có kích thước 108 x 23cm.

- Mặt trước của bia khắc chừng 800 chữ Hán, mang tên Phụng sự hậu thần bi kí 奉 事 後 神 碑 記. Nội dung ghi lại tiểu sử của Thái giám Nguyễn Đức Vinh cùng sự việc ông được đi sứ rồi mất trên đường đi và việc bản xã đồng lòng tôn ông làm Hậu thần. Mặt này khắc niên đại Vĩnh Thịnh 13 (1717).

- Mặt sau bia khắc chừng 1000 chữ Hán mang tên Phụng vãng Bắc sứ bi từ 奉 往 北 使 碑 祠 , nội dung nói về việc toàn xã Phúc Tăng họp bàn quy định thể lệ phụng thờ 3 vị hậu thần là Thái giám Nguyễn Đức Vinh và cha mẹ ông. Mặt này cũng có niên đại như trên.

- Mặt trái bia khắc chừng 400 chữ Hán, mang tên Phụng vãng Bắc sứ tả ký. Nội dung nói về ông Nguyễn Đức Thành – em ruột Thái giám Nguyễn Đức Vinh - người theo ông Nguyễn Đức Vinh đi sứ và đưa di hài ông về nước cùng việc bản xã đồng lòng tôn ông làm Hậu thần cho phối hưởng bên tả ông Nguyễn Đức Vinh. Mặt này mang niên đại Vĩnh Thịnh 14 (1718).

- Mặt bên phải của bia khắc chừng 200 chữ Hán, mang tên “Tôn vi Trùm trưởng phụng sự bi ký” Nội dung nói về việc bản xã tôn ông Nguyễn Quang Trạch là anh ruột ông Nguyễn Đức Vinh làm Trùm trưởng và cho ông được phối hưởng cùng Hậu thần Nguyễn Đức Vinh. Mặt này cũng mang niên đại Vĩnh Thịnh 14 (1718).

Như vậy, theo niên đại, bia này đã được khắc làm 2 lần, cách nhau 1 năm. Nhưng tuy cách nhau như vậy cả 4 mặt bia vẫn nằm trong cùng một nội dung là xã Phúc Tăng đồng lòng tôn bầu và đặt thể lệ phụng thờ 5 vị hậu thần, mà 5 vị này có quan hệ ruột thịt với nhau. Việc tác giả Nguyễn Trọng Cách tách riêng mặt bên trái của bia ra rồi dịch và thông tin như một tấm bia riêng biệt là không đúng.

3. Trong bài báo, tác giả Nguyễn Trọng Cách viết: “Ông Nguyễn Đức Thành vừa đặt chân đến dịch sở Hoài Âm… thì lại bị đột ngột qua đời…”. Như vậy là ông Cách đã nhầm, người đi sứ và qua đời ở Hoài Âm là ông Nguyễn Đức Vinh chứ không phải là Nguyễn Đức Thánh – em ruột ông. Ở đây, chính bởi nội dung của 4 mặt bia có liên quan đến nhau nên khi tách mặt bia này riêng ra, ông Cách đã không hiểu đúng được nội dung của mặt bia đó nên dịch sai và thông tin sai.

Vậy Thái giám Nguyễn Đức Vinh là ai? Việc ông và người em ruột đi sứ ra sao? Để giúp bạn đọc có những thông tin đầy đủ hơn, dưới đây chúng tôi xin lược dịch 2 mặt bia nói về việc này là mặt trước, mang tên Phụng sự hậu thần bi ký và mặt bên trái, mang tên Phụng vãng Bắc sứ tả ký.

BÀI KÝ BIA PHỤNG THỜ HẬU THẦN

Thường nói, chính khí bàng bạc khắp không gian. Những người bẩm thụ được chính khí thì sống được làm người, chết được làm thần. Chính khí biểu hiện trong sử sách của quan Thái sử nước Tề ở khí tiết của Tô Vũ nhà Hán, sánh ngang trời đất, thấu suốt nhật nguyệt, thật đáng kính trọng, thật đáng tôn thờ! Lẽ trời như vậy, chỉ ở lòng người không dung chứa nổi mà thôi! Nay Nguyễn Tướng công, huý Đức Vinh là người xã Phúc Tăng huyện Yên Dũng. Trước đây ngài được ban các chức hàm là Tán trị công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Thiêm tri thị nội thư tả Thuỷ binh phiên, Tả thiếu giám Ti lễ giám, khi mất được truy tặng Thái giám, tước Tăng Thọ hầu. Ngài sinh vào giờ Thìn ngày 27 tháng 3 năm Đinh Mùi (1667), vốn là người, tiết tháo khảng khái nhờ khí đất đúc nên, phong thái chính trực do trời vun thành tính. Bởi trước kia khi còn ở Bắc ti, ngài theo hầu Tấn Quang Vương(1) bôn tẩu, được tấu lên tuyên dương công trạng, lúc nhận mệnh đi sứ lại xứng đáng với trọng trách, làm việc mẫn cán, cẩn thận sát sao nên đã được Chúa thượng(2) từ khi còn ở nhà Tiềm để ý và quí mến(3). Đến lúc Chúa thượng lên ngôi, trọng nhậm người cũ, vẫn để cho ngài làm Nội sai ở Binh Phiên, quản các đại Nội tượng và Hậu tượng. Chức vụ nắm giữ ngày càng nhiều, ân sủng ngày càng nặng. Tổ phụ rạng rỡ vì được ấm phong theo chức hàm của ngài. Năm Kỷ Sửu (1709), ngài vâng chỉ kính giữ chức Thiêm tri Thuỷ sư quản nắm các thuyền Hầu Trung, Hầu Tả, Ưu tả. Ngài làm việc chăm chỉ, ngày đêm ở tại nhiệm sở tuyên rao, xuất nộp, vâng dạ. Bạn bè đồng liêu đều thua ngài về sự công bằng trong sạch. Những người trong phủ chúa đều kém ngài về sự minh bạch rõ ràng. Năm Giáp Ngọ (1714) vừa đúng đến kì tuế công, ngài đã 48 tuổi, vâng được đặc chỉ cho làm Nội sai ở Giáp bộ(4) đi sứ phương Bắc. Ngày từ biệt lên đường, ngài được Chúa thượng ban tặng một bài thơ Nôm Ngự chế. Ân ý đặc biệt ấy trước nay chưa từng có, đã làm bừng lên trong ngài chí trung nghĩa. Ngựa xe ruổi rong không ngại mệt, chỉ cốt sao cho việc nước được vẹn tròn. Sự gắng gỏi đó dẫn đến chuyện bi thương. Ngày mồng 6 tháng 11 năm Ất Mùi (1715), đúng lúc đến quán dịch Hoài Âm thì ngài bất hạnh qua đời, phải gửi quàn tạm tại ngôi chùa nọ ven sông. Đến năm Bính Thân (1716) Sứ thần trở về mới giúp đưa quan tài của ngài về nước. Quan san muôn dặm xa xôi, trải nhiều gian nan cay đắng. Vậy mà, vượt sông Hoàng Hà không gặp sóng gió, trèo núi Quảng Lĩnh như đi trên đất bằng. Hồn yêu phách hoả, toàn vẹn trở về quê hương… (chúng tôi lược bớt). Trẻ già nơi bản quán thường ngày vẫn kính trọng tiết tháo của ngài, cảm ân huệ của ngài. Nay bởi ngày qua đời trong khi làm việc công, chính khí không tan, mới cùng nhau bàn bạc tôn ngài làm Hậu thần để nêu cao tiết lớn của ngài và biểu đạt sự chí tình của quê hương… (đoạn dưới chúng tôi lược bớt).

Nước Đại Việt, triều Lê, niên hiệu Vĩnh Thịnh 13 (1717). Ngày lành tiết tháng 12 năm Đinh Dậu.

BÀI KÍ VỀ VỊ THEO ĐI SỨ PHƯƠNG BẮC ĐƯỢC THỜ PHÍA BÊN TẢ

Quang tiến Thận lộc Đại phu Huyện thừa huyện Kim Hoa tước Phúc Thọ Nam - Nguyễn Đức Thành là em ruột của Tướng công người xã Phúc Tăng huyện Yên Dũng. Do được ấm chức quan viên tử, vào năm Giáp Ngọ (1714), gặp lúc người anh vâng mệnh triều đình sai đi sứ như vậy, ông đã tình nguyện làm tuỳ nhân và được cho phép. Người anh vốn là người xem tiền tài như cỏ đất, coi anh em là tâm phúc. Anh đối với em như bạn, em cung kính với anh, hoà thuận như khi còn ở nhà. Anh xe em ngựa, tùng bách một đoàn.

Vào thượng tuần tháng 11 năm Ất Mùi (1715), vừa đến quán dịch Hoài Âm huyện Sơn Dương tỉnh Giang Nam, vốn là một chốn địa linh, người anh đột ngột qua đời. Ông theo lễ tạm gửi quàn rồi ngày đềm phụng thờ không quên. Người anh luôn phù hộ cho ông được khỏe mạnh. Năm Bính Thân (1716) công việc xong xuôi, sứ bộ trở về, ông mới đem thân mình cõng di hài anh về nước. Đường xá xa xôi, trời rét căm căm. Vậy mà đi đường thuỷ thuyền không gặp sóng gió, đi đường bộ xe không bị lật. Chẳng phải trời kia đã xem xét đến tấm lòng trung trinh của ông nên mới được như vậy sao?

Đến năm Đinh Dậu, xét thấy ông theo đi sứ có công, nên chúa thượng ban chỉ cho ông được miễn trừ(5) và cho nhậm chức Huyện thừa huyện Kim Hoa, tước Nam. Rồi lại ban hàm Quang tiến lộc đại phu… (chúng tôi lược bớt).

Hoàng triều niên hiệu Vĩnh Thịnh 14 (1718), ngày lành tiết tháng tư.

Vừa qua, Câu lạc bộ Văn hoá gia đình thuộc Hiệp hội câu lạc bộ UNESCO đã cho in dập lại bia này theo yêu cầu của dòng họ Nguyễn Đức. Theo thông tin của Câu lạc bộ, hiện bia này vẫn được bảo quản khá tốt tại nhà thờ họ Nguyễn Đức ở xã Phúc Tăng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Chú thích:

1. Tấn Quang vương: tức Trịnh Bính, cha của Trịnh Cương.

2. Đây nói về chúa Trịnh Cương. An Đô vương Trịnh Cương.

3. Nhà Tiềm để: phủ Thế tử, nơi Thế tử ở để học tập rèn luyện chờ kế vị.

4. Giáp bộ: Sứ bộ được cử đi trước.

5. Miễn trừ: được miễn trừ, không cần thi đỗ cũng được ban chức.

Thông báo Hán Nôm học 1998 (tr.13-18)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm