VI | EN
21. Về những bài thơ Nôm Lê Thánh Tông trong Lê triều danh nhân thi tập (TBHNH 2011)
(TBHNH 2011)

VỀ NHỮNG BÀI THƠ NÔM CỦA LÊ THÁNH TÔNG TRONG
LÊ TRIỀU DANH NHÂN THI TẬP

TRẦN THỊ GIÁNG HOA

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Lê triều danh nhân(1) kí hiệu VNv.152, gồm 52 tờ, khổ 21.5x13cm. Sách chép tay, chép thơ chữ Hán và chữ Nôm của nhiều tác giả đời Lê như Lê Thánh Tông, Lương Thế Vinh, Trịnh Huệ, Trịnh Tĩnh Vương,… đề vịnh danh lam thắng cảnh: cửa biển Thần Phù, cửa biển Nhật Lệ, cửa biển Tư Dung, chùa Bà Đanh, núi Ngọc Nữ, núi Phật Tích,… Đây là tập thơ do người đời sau biên tập, có nhiều sự lầm lẫn về tác giả và tác phẩm. Ngoài ra, tập thơ này qua thời gian đã bị rách nát mất một số trang, và khi tu bổ có sai sót như đóng lộn trang, gây không ít khó khăn cho người đọc, tìm hiểu nội dung.

Những bài thơ chữ Hán của Lê Thánh Tông ở đây, chủ yếu được chép từ Minh lương cẩm tú và kèm theo một số thơ họa của Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Đào Cử, Ngô Luân, Lương Thế Vinh,…

Thơ chữ Nôm ở văn bản này được chép trong mục Thánh Tông ngự chế, có tổng cộng 37 bài. Tuy nhiên khi khảo cứu thấy có sự chép lẫn thơ của các tác giả khác. Để hiểu rõ hơn về thực trạng thơ Nôm của Lê Thánh Tông trong tập thơ này, chúng tôi lập bảng đối chiếu với Hồng Đức quốc âm và một số thi tập.

 

TT

Tên bài

HĐQATT

Ghi chú

Tác giả Lê Thánh Tông

1

2

3

4

5

1

(Thần Phù thi)

+

Bài Thần Phù thi trong Hồng Đức quốc âm

ü

 

2

(Phật Tích sơn)

+

Bài Phật Tích sơn tự trong Hồng Đức quốc âm

ü

3

(Tiêu sơn)

_

Dị bản bài Núi Tử Tiêu trong Hải Dương phong vật; Tử Tiêu sơn trong Thiên Nam hình thắng

(

4

御製想是仙人 (Ngự chế Tưởng thị tiên nhân)

_

 

_

5

雪 山 洞 (Tuyết sơn động)

_

Dị bản bài Đăng Tuyết sơn hữu hứng của Trịnh Sâm đề trên vách núi chùa Tuyết Sơn xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức. Bia có thác bản tại Kho sách Viện NC Hán Nôm, kí hiệu No.194

_

6

又 (Hựu Tuyết Sơn động)

_

 

_

7

雪天閒望(Tuyết thiên nhàn vọng)

_

Bài Tuyết thiên nhàn vọng tờ [15a] sách Sứ trình tân truyện kí hiệu AB.155 của Nguyễn Tông Khuê

_

8

舟程冬夜 (Chu trình đông dạ)

_

Bài Chu trình đông dạ tờ [3a] sách Sứ trình tân truyện kí hiệu AB.155 của Nguyễn Tông Khuê

_

9

瀟湘春晚 (Tiêu Tương xuân vãn)

_

Bài Tiêu Tương xuân vãn tờ [7a] sách Sứ trình tân truyện kí hiệu AB.155 của Nguyễn Tông Khuê

_

10

獨 秀 (山 Độc Tú sơn)

_

Bài Đề Độc Tú sơn tờ [6a] sách Sứ trình tân truyện kí hiệu AB.155 của Nguyễn Tông Khuê

_

11

題 三 烈 庙 (Đề Tam Liệt miếu)

_

Bài Điếu Lưu tam liệt miếu tờ [5a] sách Sứ trình tân truyện kí hiệu AB.155 của Nguyễn Tông Khuê

_

12

题 三 義 廟 (Đề Tam Nghĩa miếu)

_

Bài Đề Tam Nghĩa từ tờ [14b] sách Sứ trình tân truyện kí hiệu AB.155 của Nguyễn Tông Khuê

_

13

隻𥮊山 (Chiếc Đũa sơn)

+

dị bản bài Chiếc Đũa sơn trong Hồng Đức quốc âm, ngoài ra còn chép trong Thiên tải, Hải Dương phong vật

_

14

玉 女 山 (Ngọc Nữ sơn)

+

Còn chép trong Thiên tải

_

15

玩春遊月興 (Ngoạn xuân du nguyệt hứng)

_

 

_

16

又迴文格(Hựu Hồi văn cách)

_

Theo nguyên chú tác giả là Lương Thế Vinh

_

17

懷春憶怨 (Hoài xuân ức oán)

_

Bài Ức hữu trong Nhàn ngâm.

_

18

(Hoa nguyệt tranh kỳ)

_

Bài Hoa nguyệt trong Nhàn ngâm.

_

19

𧋟 (Vịnh muỗi)

+

Bài Văn (Con muỗi) trong Hồng Đức quốc âm

?

20

(Ngư)

_

Trùng vận với bài Ngư nhân thuyền tờ [36a] Hồng Đức quốc âm, dị bản bài Ngư thú trong Thi ca phú

_

21

(Tiều)

_

Trùng vận với bài Tiều [35a] Hồng Đức quốc âm, dị bản bài Sơn tiều chép trong Thi ca phú

_

22

(Canh)

+

Dị bản của bài Canh [35b] Hồng Đức quốc âm

?

23

(Mục)

_

Dị bản của Mục đồng nhàn thưởng chép trong Thi ca phú

_

24

(Bà Đanh tự)

_

 

_

25

(Thầy Quỳnh tác nhất thủ)

_

Dị bản bài Bà Banh tự trong Nhàn ngâm

­_

26

文武官詩 (Văn vũ quan thi)

_

Nguyên chú: Quan Thượng quận Kinh [] tác.

_

27

丐亙打饒 (Cái cắng đánh nhau)

_

Bài này khắc in trong Xuân Hương kí hiệu VNb.21 và một số văn bản chép thơ Nôm Hồ Xuân Hương, nhưng theo nguyên chú, tác giả là quan Bảng nhãn Hà Tông Huân.

_

28

𥆾 (Bù nhìn thi)

+

Bài Cảo nhân trong Hồng Đức quốc âm

?

29

重咱詩 (Trùng thính thi)

_

Theo nguyên chú tác giả là Thầy [ ] đời vua Cảnh Hưng.

_

30

(Ngự đề Đèo ông đèo bà thi)

-

Dị bản bài Đèo Ba Dội trong Xuân Hương kí hiệu VNb.21, và một số văn bản khác chép thơ Nôm của tác giả Hồ Xuân Hương, nhưng theo nguyên chú là của Hà Tông Huân.

_

31

𢚸𠊛 (Tới đây một cảnh một thầy, tuy vui đạo Bụt chửa khuây lòng người thi)

_

một vài văn bản chép bài này của Lê Thánh Tông

_

32

- (Ngự đề vịnh tứ ẩn – Ngư)

_

Trùng vận với bài Ngư tờ [33a] Hồng Đức quốc âm

_

33

(Tiều)

_

Trùng vận với bài Tiều tờ [33a] Hồng Đức quốc âm

_

34

(Canh)

-

Trùng vận với bài Canh tờ [33b] Hồng Đức quốc âm

_

35

(Mục)

-

Trùng vận với bài Mục tờ [33b] Hồng Đức quốc âm

_

36

(Hạng Vương thi)

+

Có 4 câu, giống 4 câu bài Hạng Vũ trong Hồng Đức quốc âm

?

37

(Hán Vương thi)

+

Có 4 câu, giống bài Hán Cao Tổ trong Hồng Đức quốc âm. Trong Xuân Hương thi vịnh sách Bách liêu thi văn tập với đề là Thái Tổ Cao Hoàng Đế, trong Liệt truyện thi ngâm với đề là Hán kỷ Thái Tổ Cao Hoàng Đế, và trong Chư gia ca vịnh sách Quốc âm thi tuyển, Xuân Hương thi tập với đề Cao Tổ.

?

(Ở cột 3: dấu (+) và dấu (-) lần lượt biểu thị sự có mặt, không có mặt trong Hồng Đức quốc âm. Ở cột 5: dấu (ü): chỉ những bài thơ xác định của Lê Thánh Tông, dấu (-) chỉ những bài thơ không phải của Lê Thánh Tông, dấu (?): giành cho những bài thơ còn tồn nghi).

Bảng so sánh cho thấy, trong số 37 bài thơ Nôm nằm trong Thánh Tông ngự chế, có 13 bài của tác giả khác, như Nguyễn Tông Khuê (1693-1767), Hà Tông Huân (1697-1766), Trịnh Sâm (? - 1782)… đều là những tác giả sống chủ yếu dưới thời Lê Cảnh Hưng. Các khảo cứu, đối chiếu khác cũng cho kết quả:

- Bài Tới đây một cảnh một thầy, tuy vui đạo Bụt chửa khuây lòng người thi chép trong nhiều sách. Bài thơ này gắn với giai thoại văn học liên quan đến Lê Thánh Tông và các văn thần đương thời, tiêu biểu là Thân Nhân Trung: có tài liệu cho rằng bài thơ này do Lê Thánh Tông sáng tác, có tài liệu lại cho rằng Thân Nhân Trung mới là tác giả. Hơn nữa, trong sử sách chưa từng chép việc Lê thánh Tông có làm bài thơ này. Từ các cứ liệu nêu trên, chúng tôi không đưa bài thơ này vào danh sách thơ Nôm của Lê Thánh Tông.

- Trong cuốn Chúa Trịnh qua những áng thơ văn - Thịnh vương Trịnh Sâm soạn giả Trịnh Xuân Tiến có giới thiệu bài thơ Nôm Vịnh cảnh Tuyết Sơn, đây cũng chính là bài Hựu (Tuyết sơn động) trong Lê triều danh nhân. Như vậy, cùng với bài Tuyết sơn động, đây là hai bài thơ của chúa Trịnh Sâm vịnh cảnh động Tuyết Sơn trong quần thể di tích Hương thuộc huyện Mỹ Đức mà không phải là thơ của Lê Thánh Tông.

Và những bài Ngự chế tưởng thị tiên nhân, Ngoạn xuân du nguyệt hứng, Bà Đanh tự, dựa vào nội dung, phong cách và ngôn ngữ thể hiện, chúng tôi cũng không xếp các bài này vào danh mục thơ Nôm của Lê Thánh Tông.

Đặc biệt, trong văn bản có 7 bài chỉ trùng vận với thơ Nôm của Lê Thánh Tông chép trong Hồng Đức quốc âm Thi ca phú, nhưng xét về nội dung, cách sử dụng ngôn từ, có thể xác định những bài thơ này có khả năng là thơ của người khác họa lại, không phải thơ của Lê Thánh Tông.

- Bài Tiêu sơn có nhiều cách gọi khác nhau: trong Hải Dương phong vật với tên Núi Tử Tiêu, trong Thiên Nam hình thắng với tên là Tử Tiêu sơn. Tuy không được Hồng Đức quốc âm ghi chép lại, nhưng bài thơ có nhiều khả năng của Lê Thánh Tông, với lí do: Trần Công Hiến - người biên soạn Hải Dương phong vật là người rất cẩn trọng trong việc sưu tầm, lưu truyền tư liệu cổ, nên khó có sự nhầm lẫn.

Lê triều danh nhân là tập thơ thứ hai tính về số lượng thơ Nôm của Lê Thánh Tông. Kết quả đối chiếu cho thấy, tổng số 37 bài có tới 13 bài chép trong Hồng Đức quốc âm, đúng ra đây là con số đáng mừng để làm cơ sở xác định thơ của Lê Thánh Tông. Tuy nhiên, các bài Hoài xuân ức oán, Hoa nguyệt tranh kỳ, Bà Đanh thuộc Nhàn ngâm(2), không phải thơ của Lê Thánh Tông. Các bài Canh, Vịnh Muỗi, Bù nhìn thi, Hạng Vương thi, Hán Vương thi từ lâu đã được thừa nhận là thơ của Lê Thánh Tông. Tuy nhiên, sau khi tìm hiểu hệ thống văn bản thơ Lê Thánh Tông, chúng tôi cho rằng cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng hơn nữa vì sự què quặt thiếu hụt về nội dung, và chắp nhặt, manh mún. Chúng tôi tạm thời xếp những bài thơ này vào mục tồn nghi.

- Mai Xuân Hải trong công trình nghiên cứu thơ chữ Hán Lê Thánh Tông đã chỉ rõ Thần Phù hải môn thi là của Hiến Tông chứ không phải của Thánh Tông. Sách Thiên Nam dư hạ ký hiệu A.334/8, tờ 84b-85a ghi tên bài này là Ngự chế phiếm Thần Phù hải. Bài Ngự chế phiếm Thần Phù hải, Đăng Chích Trợ sơn lưu đề nhất thủ cùng với một bài thơ Nôm khác được Thiên Nam dư hạ đề rõ tác giả là Thượng Dương động chủ đề (tên hiệu của vua Lê Hiến Tông), sáng tác năm Cảnh Thống tứ niên, tuế thứ Tân Dậu thập nhất nguyệt (Tháng 11 năm Tân Dậu, niên hiệu Cảnh Thống thứ 4 tức năm 1501).

Ngoài ra, các sách Minh lương cẩm tú ký hiệu A.254, Thanh Hóa kỷ thắng ký hiệu VHv.1242 cũng xác định hai bài thơ đề vịnh núi Chích Trợ (một chữ Hán và một chữ Nôm) như trên là của Lê Hiến Tông.

+ Liên quan đến núi Chích Trợ và cửa biển Thần Phù: Theo khảo sát của chúng tôi, tại Kho sách Viện NC Hán Nôm có 19 văn bản chép thơ Nôm Lê Thánh Tông kể cả Hồng Đức quốc âm, trong đó có 7 văn bản ghi nhận bài thơ Chiếc Đũa sơn (hay còn gọi Chích Trợ sơn) là của Lê Thánh Tông. Điều đáng chú ý là nhóm tư liệu địa chí có 5 sách với 6 văn bản thì có 5 văn bản ghi nhận điều này. Sách Thiên tải ký hiệu A.584, tờ 27a có đoạn ghi chép về cửa biển Thần Phù: “Thần Phù môn có cửa Lẫm Cảng thông với Hổ Hà, bên phải có núi đá nhọn gọi là núi Chiếc Đũa… Năm Canh Dần niên hiệu Hồng Đức thứ nhất (1470), nhà vua xuống phía Nam chinh phạt Chiêm Thành đóng quân ở đây, ngự chế làm bài thơ chữ Hán:

“Xuyên vân dư kinh nhất điều vu

Trùng giá thiều xa tác viễn du.

Địa tuấn giang đà thông thượng quốc

Thiên tương để trụ chướng đồi lưu.

Chương hoàng tải mãn điền hà thạch

La Viện quải thừa áp lãng chu.

Thử khứ hải môn tam thập cửu

Kế trình hà nhật đáo Ô châu”.

 

Dịch nghĩa:

Con đường núi vòng vèo chui vào trong mây,

Xa giá nhà vua một lần nữa làm cuộc viễn du.

Đất khơi sông lớn thông với thượng du,

Trời dựng cột đá chắn giữa dòng nước.

Chương Hoàng chở đá lấp kín lòng sông,

La Viện cưỡi thuyền nhẹ nhàng đè sóng.

Chuyến đi này vượt qua ba mươi chín cửa biển,

Tính đoạn đường, biết ngày nào mới tới Ô Châu.

(Bản dịch của Mai Xuân Hải)

Bài thơ này chính là bài Thần Phù hải môn lữ thứ nằm trong chùm thơ vịnh 14 cửa biển của Lê Thánh Tông,được chép trong các văn bản Minh lương cẩm tú, Cúc Đường bách vịnh,….

+ Cũng ghi chép về địa danh cửa biển Thần Phù và địa danh núi Chiếc Đũa, tờ 27b sách Thiên tải lại có đoạn chép: “Vua ngự giá bái yết lăng tẩm, qua cửa Thần Phù, lên núi Chiếc Đũa ngẫu tác một bài thơ Đường luật:

Phàn vân tọa nhược tĩnh quan lan,

Ngật lập trung lưu chúng sở nan.

Đâu suất tây liên phù thủy thượng,

Bồng lai tả cổ tại nhân gian.

Lục ngao bất động khôn duy tráng,

Vạn phái xu triều hải tạng khoan.

Kình lãng thu kỳ kim dĩ tức,

Anh hùng nhất mục tiểu trần hoàn.

 

Dịch nghĩa:

Vén mây ngồi tĩnh lặng nhìn sóng đưa,

Sừng sững giữa dòng thực là việc gian khó đối với hết thảy người ta.

[Núi ấy] tựa như đóa sen đất Phật nơi trời Đâu Suất nổi trên mặt nước,

Cũng giống như chỗ dựa bên trái chốn Bồng Lai giữa cõi người.

Sáu cõi không còn dấy động, đất đai được ổn định lớn mạnh,

Muôn nẻo sông đều đổ về biển rộng bao dung.

Cá kình cá ngạc dậy sóng đến nay đều đã bặt,

Bậc anh hùng chỉ một nhìn qua đã gom cõi trần hoàn thành một nắm nhỏ nhoi.

Và một bài quốc âm:

Cắm chặt nam minh nẻo thuở xưa,

Đời Nghiêu nước cả ngập hay chưa.

Sớm tuôn dòng xuống tanh nhơ sạch,

Hôm dãy triều lên mặn ngọt ưa.

Xúc xương kình tăm chẳng động,

Dò rốn bể sóng khôn lừa.

Thiên đình để An Nam mượn,

Vạch chước bình Ngô mới mới vừa

Như vậy, hai bài thơ này của nhà vua làm trong chuyến đi bái yết lăng tẩm. Tuy nhiên là vị vua nào, các ghi chép trong sách không cho ta biết rõ. Vậy liệu có phải thơ của vua Lê Thánh Tông hay không? Chúng tôi tiếp tục tìm hiểu các ghi chép trong Thiên Nam dư hạ thì được biết hai bài thơ này của Thượng Dương động chủ (tên hiệu của vua Lê Hiến Tông), sáng tác vào thời điểm tháng 11 năm Tân Dậu, niên hiệu Cảnh Thống thứ 4 tức năm 1501. Sự kiện này được ghi rõ trong Đại Việt sử ký toàn thư: “Năm Tân Dậu, niên hiệu Cảnh Thống năm thứ 4 (1501), mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 1 vua ngự về Tây Kinh…”.

Sự kiện vua ngự giá bái yết lăng tẩm, qua cửa Thần Phù rồi lên núi Chiếc Đũa ngẫu tác thơ xảy ra vào năm Tân Dậu niên hiệu Cảnh Thống thứ 4 (1501) đời vua Lê Hiến Tông. Giữa hai sự kiện, có sự nhầm lẫn về thời điểm, giữa tháng giêng và tháng mười một. Kết quả chứng minh nêu trên kết hợp với ghi chép trong Đại Việt sử ký cũng góp đính chính một sự nhầm lẫn đáng tiếc trong thi tập của Vương Duy Trinh. Nguyên do Thanh Hóa kỷ thắng do Vương Duy Trinh biên soạn và khắc in năm Thành Thái thứ 16 (năm 1904), ký hiệu thư viện VHv.1242, tờ 8b-9a-9b, mục biên chép về núi Chích Trợ có ghi: “… 黎 景 興 四 年 憲 尊 皇 帝 泛 神 符 海 口 過 此 御 製 進 退 格 詩 云 [] 又 國 音 云 []. (Lê Cảnh Hưng tứ niên Hiến Tôn Hoàng đế phiếm Thần Phù hải khẩu, quá thử ngự chế tiến thoái cách thi vân []. Hựu quốc âm vân: []”. Nghĩa là: … Năm Cảnh Hưng thứ tư, Hiến Tôn Hoàng đế đi thuyền qua cửa biển Thần Phù, qua đây ngự chế bài thơ theo thể tiến thoái cách [bằng chữ Hán] và một bài quốc âm). Ở đây có sự nhầm lẫn giữa chữ hưng và chữ thống. Đúng ra, hiệu của Hiến Tông Hoàng đế là Cảnh Thống chứ không phải Cảnh Hưng(3). Vương Duy Trinh là người chịu trách nhiệm biên soạn sách này, tuy là người rất cẩn trọng nhưng trong quá trình san khắc không tránh khỏi sơ xuất.

Dựa vào những chứng cứ trên, chúng tôi cho rằng, vua Lê Thánh Tông đã sáng tác bài Thần Phù hải môn lữ thứ vào năm Canh Dần niên hiệu Hồng Đức thứ nhất (tức năm 1470) trong dịp chinh phạt phương Nam, và hai bài thơ Ngự chế phiếm Thần Phù hải, Đăng Chích Trợ sơn lưu đề cùng bài thơ Nôm là của vua Lê Hiến Tông sáng tác trong chuyến đi bái yết lăng tẩm năm Cảnh Thống thứ 4 (1501).

- Bài thơ Ngọc Nữ sơn:

Cắm trời Nam một cột xưa,

Biết bao nhiêu tuổi có chồng chưa.

Giồi thức ngọc khi sương rụng,

Thoảng mùi hương thuở gió đưa.

Gương mượn trăng soi mù lại tỏ,

Tỏ nhờ mây vịn nhặt thời thưa.

Cấu thiêng lượng rộng càn khôn gộp,

Ngọc đá bao nhiêu chứ chẳng từ.

bài thơ này còn được chép trong Hồng Đức quốc âm Thiên tải. Khi phiên âm, giới thiệu Hồng Đức quốc âm thi tập, các soạn giả Phạm Trọng Điềm, Bùi Văn Nguyên cho rằng: Núi Ngọc Nữ này ở phía Bắc núi Kỳ Lân thuộc xã Nam Mật huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa. Nhưng trong Thiên Nam hình thắng đoạn ghi chép về đỉnh Ngọc Nữ: Núi này thuộc địa phận xã Bố Vệ, huyện Quảng Điền, phủ Tĩnh Gia, trấn Thanh Hóa. Trên thực tế, Ngọc Nữ là một đỉnh thuộc dãy núi Kỳ Lân, trước đây nằm ở vị trí tiếp giáp giữa hai huyện Đông Sơn và huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa. Từ năm 1971, các xã Đông Vệ, Đông Hương, Đông Hải thuộc huyện Đông Sơn và xã Quảng Thắng thuộc huyện Quảng Xương sát nhập vào thị xã Thanh Hóa. Do thay đổi địa danh hành chính, ngày nay núi Kỳ Lân (hay Mật Sơn) thuộc địa phận phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa.

Thanh Hóa kỷ thắng ký hiệu VHv.1242, tờ 39b-40a-40b có ghi chép về núi Mật Sơn cho biết thêm, Ngọc Nữ là một đỉnh ở phía Bắc của dãy này, trên có tảng đá như hình người đứng quay mặt về hướng Nam. Vua Lê Thuần Hoàng đế có làm bài thơ Nôm, vịnh đỉnh Ngọc Nữ:

Tòa núi ai đem đặt giữa đồng,

Vẻ hình thiếu nữ đứng mà trông.

Phau phau da đá phơi màu phấn,

Phới phới mưa xuân chuốt bụi hồng.

Sớm ngắm gương ô xem dưới nước,

Tối kề hang thỏ chói trên không.

Xuân thu ướm hỏi bao nhiêu tá,

Trành trạnh bền gan chẳng lấy chồng.

Đối chiếu với Hồng Đức quốc âm, bài này là dị bản của bài Quả sơn. Trong bài viết đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 2/1988, Nguyễn Thị Thảo sau khi đối chiếu về vần điệu, và nội dung đã cho rằng bài thơ Quả sơn trong Hồng Đức quốc âm có tên là Ngọc Nữ sơn.

Để xác thực hơn vấn đề này, chúng tôi còn tìm thấy trong sách Thi ca phú kí hiệu VNb.1 chép bài Lê Thần Hoàng đế vịnh Ngọc Nữ phong thi (Bài thơ Lê Thuần Hoàng đế vịnh đỉnh Ngọc Nữ). Nội dung bài thơ này giống như bài Quả sơn trong Hồng Đức quốc âm và bài Lê Thuần Hoàng đế vịnh Ngọc Nữ phong trong Thanh Hóa kỷ thắng. Tuy nhiên, phía trên bài thơ này, soạn giả Thanh Hóa kỷ thắng là Vương Duy Trinh có chua thêm “Độc thử thi ngữ ý thiển chuyết, khủng phi Thuần Hoàng đế chân bút…” (nghĩa là: Đọc bài thơ này thấy ý tứ, ngôn ngữ nông cạn, vụng về, sợ rằng không phải là chân bút của vua Thuần Hoàng đế).

Tuy dựa vào các bàng chứng có thể xác định bài Quả sơn trong Hồng Đức quốc âm có nội dung vịnh tả núi Ngọc Nữ (ngày nay thuộc địa phận phường Đông Vệ thành phố Thanh Hóa), nhưng về tác giả bài thơ, đúng như Vương Duy Trinh đã nhận định thật khó xác định của Lê Thánh Tông.

Trở lại với bài thơ Ngọc Nữ sơn, phần nguyên chú về đỉnh Ngọc Nữ, sách Thiên Nam hình thắng cho biết thêm: Hương Bố Vệ là quê mẹ của Trung Tông Tuấn Hoàng đế(4) triều Lê. Nhà vua sinh trưởng ở đây, cho nên từ Trung hưng về sau xem đất ấy là quý hương, lập miếu điện thờ tự giống như ở Lam Sơn. Phía Tây cầu gần bến sông là núi đá, núi trải khắp xứ nhưng có một đỉnh tách riêng đứng sừng sững, trông từ xa tựa như hình người đội khăn, tục gọi là đỉnh Ngọc Nữ. Khi vua Thần Tông đi tuần phương Nam qua đây, sai người mài đá đề một bài thơ luật bằng quốc âm.

Trấn mé Nam phương nẻo thuở xưa,

Xuân thu đã mấy có chồng chưa.

Lay lay thức bạc khi sương rụng,

Thoảng thoảng mùi hoa buổi gió đưa.

Tuy phần nguyên chú ghi là một bài thơ luật (còn gọi là Đường luật, chỉ những bài thơ ngũ ngôn bát cú hoặc thất ngôn bát cú) nhưng ở đây chỉ thấy bốn câu, có lẽ do sự thiếu sót của người biên chép. Tuy có bốn câu nhưng đủ để xác định đây là một phần của bài thơ Ngọc Nữ sơn trong Hồng Đức quốc âm.

Hồng Đức quốc âm là tập thơ của nhiều tác giả thế kỷ XV, trong đó chủ yếu là thơ của Lê Thánh Tông. Văn bản Hồng Đức quốc âm có đặc điểm chỉ chép nội dung thơ, không có lời tựa hay chú thích cần thiết về tác giả, tác phẩm giúp người đọc có thể tìm hiểu sâu hơn. Với nỗ lực khảo cứu, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra nhiều bài thơ trong đó là của các tác giả sống ở thế kỷ XVII - XVIII. Trong phạm vi tư liệu thu thập được đến nay, chúng tôi thấy duy chỉ có Thiên Nam hình thắng xác định bài thơ Ngọc Nữ sơn là của Lê Thần Tông. Chúng tôi tạm theo đó đưa bài thơ này ra khỏi danh sách những bài thơ của Lê Thánh Tông.

*

* *

Như vậy, sau khi khảo cứu văn bản, có đối chiếu với các văn bản chép thơ Nôm của Lê Thánh Tông; tìm hiểu những thông tin trong các bài thơ kết hợp đối chiếu với ghi chép về các sự kiện trong sử sách, chúng tôi tạm thời đưa ra nhận định Lê triều danh nhân mục Thánh Tông ngự chế có chép 37 bài thơ Nôm, tuy nhiên chỉ còn lại ba bài thơ Nôm: Thần Phù thi, Phật Tích sơnTiêu sơn có nhiều khả năng của Lê Thánh Tông.

 

Chú thích:

(1) Từ đây chúng tôi viết tắt tên tác phẩm:

Lê triều danh nhân thi tập Lê triều danh nhân

Hồng Đức quốc âm thi tập Hồng Đức quốc âm

Hải Dương phong vật chí Hải Dương phong vật

Thi ca phú tạp lục Thi ca phú

Thiên Nam hình thắng minh lương di mặc lục Thiên Nam hình thắng

Thiên tải nhàn đàm Thiên tải.

(2) Nhàn ngâm là một tập thơ chỉ được đóng chung với Hồng Đức quốc âm. Xem thêm Trần Thị Giáng Hoa, Nhàn ngâm chư phẩm thi tập và vấn đề văn bản Hồng Đức quốc âm thi tập, Tạp chí Hán Nôm số 4/2012. Đây là bài Tham luận Hội nghị Thông báo Hán Nôm năm 2011, nhưng đến nay trước khi xuất bản, có bổ sung tư liệu tham khảo nên chúng tôi sửa chữa cho phù hợp.

(3) Cảnh Thống (1497-1504) là niên hiệu vua Lê Hiến Tông, Cảnh Hưng là niên hiệu vua Lê Hiển Tông (1740-1786).

(4) Văn bản chép là Trung Tông Tuấn Hoàng đế, nhưng thực tế Tuấn Hoàng đế là miếu hiệu vua Lê Anh Tông (1532-1573). Và theo Đại Việt sử ký toàn thư, mẹ của vua Anh Tông mới là người hương Bố Vệ. Như vậy, phải là Anh Tông Tuấn Hoàng đế.

Tài liệu tham khảo:

 

· 

海陽風物志, kí hiệu A. 882

· 

使 程 新 傳, kí hiệu AB.155

· 

清化紀勝, kí hiệu VHv.1242

· 

詩歌賦雜錄, kí hiệu VNb.1

· 

天南餘暇, kí hiệu A. 334/8

· 

天南形勝明良遺墨錄, kí hiệu A.952

· 

天 載 閒 談, kí hiệu A.584

· 

Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu, Trần Nghĩa - François Gros (đồng chủ biên), Nxb. KHXH, H. 1993.

· 

Đại Việt sử ký toàn thư, Hoàng Văn Lâu - Ngô Thế Long dịch và chú thích, (tập 2,3), Nxb. KHXH, H. 1998.

· 

Kiều Thu Hoạch, Thơ Nôm Hồ Xuân Hương, Nxb. Văn học, H. 2008.

· 

Lê Thánh Tông Thuần Hoàng đế, Cổ tâm bách vịnh, (Mai Xuân Hải biên khảo, dịch thuật, chú giải) Nxb. Văn học - Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, H. 2000.

· 

Lê Thánh Tông, Hồng Đức quốc âm thi tập, (Phạm Trọng Điềm - Bùi Văn Nguyên phiên âm, chú giải, giới thiệu), Nxb. Văn học, H. 1982.

· 

Lê Thánh Tông về tác gia và tác phẩm (nhiều tác giả), Nxb. Giáo dục, Tp Hồ Chí Minh, 2007.

· 

Nguyễn Thị Lâm: Về ba bài thơ Nôm vịnh cảnh Đông Triều của Lê Thánh Tông, Thông báo Hán Nôm học năm 2006.

· 

Nguyễn Thị Thảo, Bài thơ Nôm núi Ngọc Nữ, Tạp chí Hán Nôm, số 2/1988.

· 

Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông (Tổng tập), Mai Xuân Hải (chủ biên), Nxb. Văn học, H. 2003.

· 

Thơ Nôm Lê Thánh Tông và Hội Tao đàn, Kiều Văn tuyển chọn, Nxb. Đồng Nai, 2000.

· 

Thơ văn Lê Thánh Tông, (Mai Xuân Hải chủ biên), Nxb. KHXH, H. 1986.

· 

Tổng tập văn học Nôm Việt Nam (tập 1,2), Nguyễn Tá Nhí (chủ biên), Nxb. KHXH, H. 2008.

· 

Trần Công Hiến - Trần Huy Phác, Hải Dương phong vật chí, Nguyễn Thị Lâm giới thiệu và dịch, Nxb. Lao động - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, H. 2009.

· 

Trần Văn Giáp, Tìm hiểu Kho sách Hán Nôm - Nguồn tư liệu văn học, sử học Việt Nam, tập II, Nxb. KHXH, H. 1990.

 

(Thông báo Hán Nôm học 2011, tr.617-633)

Trần Thị Giáng Hoa
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm