VI | EN
22. Đền thờ tổ ca trù ở Phượng Cách (TBHNH 2005)
TBHNH 2005

ĐỀN THỜ TỔ CA TRÙ Ở PHƯỢNG CÁCH

YÊN GIANG

Hội Văn học Nghệ Thuật Hà Tây

Trong lời phát biểu về giải xuất sắc trao cho tiết mục Hát ca trù của Việt Nam tại Cuộc thi băng từ Ca nhạc dân tộc Châu Á ở Triều Tiên năm 1984”. Tiến sĩ, Viện sĩ Trần Văn Khê - ủy viên danh dự Hội đồng quốc tế âm nhạc thuộc UNESCO, nhận xét về ca trù - dòng nghệ thuật dân gian, là “Một đặc thù âm nhạc đồng Bắc bộ”.

Mười năm sau, Tiến sĩ lại khẳng định: “Ca trù là sản phẩm âm nhạc vô vùng độc đáo và đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam mà không có một dân tộc nào trên thế giới có được”.

Gần đây (tháng 11 năm 2005), trong chuyến đi khảo sát các tỉnh đồng bằng sông Hồng về thực trạng ca trù để lập Hồ sơ trình UNESCO xét công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quý hiếm của nhân loại. Đoàn nghiên cứu của Viện âm nhạc do Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan dẫn đầu, đã đánh giá: “Hà Tây là vùng đậm đặc nhất về ca trù...”.

Góp phần tạo nên những giá trị quý hiếm của ca trù Việt Nam - nói chung, và ca trù Hà Tây - nói riêng, có ấn tượng đẹp khi Đoàn về thăm Đền thờ tổ Ca trù ở xã Phượng Cách huyện Quốc Oai. Ngôi đền do dòng họ Nguyễn Thế - dòng họ kế truyền giữ nghệ ca trù ở Phượng Cách, dựng lên và chăm nom thờ cúng.

Ngôi đền có tên gọi là Đền bá Vương.

Sự tích ngôi đền, theo ngọc phả và truyện kể truyền miệng trong dân gian, tóm lược như sau:

Vào thời vua Lê Kính Tông (1599-1619), đào nương Nguyễn Thị Tạo ở giáo phường Phượng Cách, nhờ có nhan sắc và tài nghệ nhất vùng, nên được tuyển vào cung làm thứ phi.

Gặp khi triều chính có loạn - Vua Lê lập mưu giết Trịnh Tùng bại lộ, bị họ Trịnh bức tử ngày 12 tháng 5 năm Kỷ Mùi 1619, Bà lui về quê lánh nạn.

Một lần, Bà xin làng cho đặt hậu, dựng sẵn nhà thờ để có người cúng giỗ sau này, nhưng vì phong tục của dân “sống quê cha, chết làm ma quê chồng”, nên bị từ chối.

Vừa tủi vừa giận, Bà đổ hết số tiền chinh dành để làm nhà thờ xuống cái ao trước cửa Đền bây giờ (Đến nay gặp khi giở trời, mặt nước vẫn sủi bọt đen); rồi khăn gói sang quê mẹ ở làng Phú Thị (Gia Lâm) dựng chùa Sùng Phúc tu hành cho đến khi mất mới gần 40 tuổi.

Dân làng Phú Thị nhớ công đức Bà, bảo nhau lập đền, dựng bia để thờ phụng. Nhưng lạ thay, tấm bia được dựng lên hôm trước, sáng hôm sau lại đổ kềnh về hướng Phượng Cách. Cứ thế, dựng đi dựng lại mấy lần không được.

Trong khi ấy ở Phượng Cách tự nhiên cử xẩy ra nạn cháy nhà, trâu bò theo nhau ngã bệnh, dân tình rất hoang mang. Nhiều người lại nhìn thấy trên bầu trời núi chùa ven làng, chiều chiều khi chạng vạng tối có bóng dáng một thiếu phụ mặc áo tứ thân, đội nón quai thao bay lượn, mắt hướng về làng.

Có người già trong làng chợt nhớ lại lời nguyền cũ của Bà Vương Phi. Bà nguyền rằng: “Khi ta đi khỏi, con trai làng làm ăn sẽ thất bát, con gái làng nếu được con thì mất của, được của thì mất con...”.

Nghĩ rằng lời nguyền ấy hẳn đã ứng nghiệm; lại cảm động trước nguyện vọng được về quê cha đất tổ của anh linh Bà, các bô lão đã họp dân quyết định xoá bỏ lệ xưa và xây ngôi đền này để sớm hôm thờ cúng. Từ khi ngôi đền được xây xong, làng xóm trở nên yên bình, nhà nhà làm ăn phát đạt.

Ngôi đền ba gian có chuôi vồ làm hậu cung, khung bằng gỗ lim, mái lợp ngói di. Chính điện thờ Vương phi Nguyễn Thị Tạo được tạc tượng đặt trong khám. Cửa khám treo bức hoành phi đề mỹ tự ghi trong sắc phong năm Dương Hòa nhị niên (1637):

Quỳnh Dương công chúa

Cửa điện treo đôi câu đối:

Phượng yết tiên bà thiên cổ kính

Cầu lưu hậu trạch vạn niên tư.

Tạm dịch:

Cảnh đền như tiên soi gương, Phượng vẫy cánh

Ơn dày thấm nhuần lưu lại vạn năm tưởng nhớ.

Gian bên trái là ban thờ hai vị tổ nghề Ca trù: Đinh Dự và Mãn Đường Hoa công chúa. Tượng bà đặt bên trái, đầu đội mũ cánh phượng tay phải cầm quạt. Tượng ông đặt bên phải, đầu đội mũ cánh chuồn.

Hàng cột trong treo đôi câu đối:

Nam quốc tôn sư thùy giáo quần phương ca vũ

Bắc phương chính khí tạo di vạn cổ sắt cầm

Tạm dịch:

Nước Nam tôn là bậc thày đã dạy cho khắp nơi ca múa

Phương Bắc coi là bậc chính khí để lại muôn đời tiếng đàn).

Gian bên phải là ban thờ đào nương, sau là chủ tướng Nguyễn Thị Sáu (tục gọi là Đào Nhu). Truyện rằng, cuối năm 1883 (Tự Đức thứ 3) thành Sơn Tây bị thất thủ, một phòng binh là Dương Hữu Quang (còn gọi là Tự So) chạy về làng Sơn Lộ (Kẻ So) chiêu tập thủ hạ tổ chức chống Pháp.

Trước đó do hợp duyên trai tài gái sắc, Đào Sáu và Dương Hữu Quang đã gá nghĩa trăm năm. Khi Tự So bị nội phản ám hại, Đào Nhu đã đứng lên thay chồng tiếp tục cuộc chống Pháp, tiếng tăm vang khắp xứ Đoài.

Cửa ban treo đôi câu đối:

Nhất đại trung tâm chinh Pháp tặc

Thiên thu khí tiết khởi trù thanh.

Tạm dịch:

Cả một đời giữ lòng trung đánh Pháp

Nghìn thu khí tiết khởi lên từ tiếng hát ca trù.

Cùng với các pho tượng quý và các đồ tế tự vẫn giữ được vẻ tôn nghiêm, Đền Bà Vương còn bảo lưu được các văn bản chữ Hán quý như:

- Bản Ngọc phả về Đức Bà Vương viết trên 8 trang giấy dó vàng hoa văn tím nhạt. Chính bản soạn năm Dương Hoà nhị niên (1637), sao lại Duy Tân bát niên (1914).

- Sắc phong cho Đức Bà Vương, Cảnh Hưng thứ 13 (1752).

- Sắc phong cho Đinh Dự, Khải Định thứ 9 (1924)

- Sắc phong cho Mãn Đường Hoa Công chúa (như trên)

- Bản ghi các bài văn tế chính, soạn năm Duy Tân thứ 10 (1916).

- Bản chép các tư liệu về ca trù trên 10 trang giấy trắng, soạn năm Duy Tân thứ 10 (1916)...

Theo các thư tịch trên thì Đền Bà Vương ước tính đã được xây dựng từ hơn ba trăm năm trước. Trải bao biến cố, thiên tai địch họa; đến nay ngôi đền vẫn được cháu con dòng họ Nguyễn Thế giữ gìn toàn vẹn, hương khói quanh năm.

Thế mới biết, lòng dân chính là nơi bền vững nhất.

Người đào nương cuối cùng của giáo phường Ca trù dòng họ Nguyễn Thế là con dâu họ Nguyễn - cụ Dương Thị Ngọ. Cụ đã ra đi năm 2001 hưởng thọ 91 tuổi. Đương thời cụ cùng lớp với nghệ nhân Quách Thị Hồ, từng nổi tiếng nơi giáo phường Thái Hà, Khâm Thiên (Hà Nội).

Hôm nay, người xưa không còn nhưng cảnh cũ vẫn trường tồn, in đậm vẻ vàng son.

Hy vọng, cùng với việc gìn giữ, tu tạo tiếp Đền Bà Vương - ngôi đền thờ tổ nghệ ca trù có thể coi là quý hiếm trên toàn vùng châu thổ, việc khôi phục lại nghệ diễn xướng ca trù ở Phượng Cách sẽ được khởi sự trong mùa xuân tới.

Thông báo Hán Nôm học 2005 (tr.248-252)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm