VI | EN
22. Hai tờ phiến chẩn bệnh cho vua Gia Long của Nguyễn Quang Lượng (TBHNH 2009)
(TBHNH 2009)

HAI TỜ PHIẾN CHẨN BỆNH CHO VUA GIA LONG CỦA NGUYỄN QUANG LƯỢNG

NGUYỄN THỊ DƯƠNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Tìm hiểu tài liệu Đông y Việt Nam, dễ nhận ra một điều đáng tiếc là hầu hết các danh y có trước thuật chỉ để lại các tác phẩm có tính chất kinh điển hay có phần thực tiễn hơn là các phương thuốc chứ hầu như không mấy ai để lại những ghi chép về thực tiễn lâm sàng, trong khi hệ thống tư liệu “y án” này mới thực sự phản ánh trình độ chẩn bệnh và điều trị của các y gia, một hệ thống làm nên nét độc đáo của Đông y Việt Nam ngày trước. Hai tờ phiến chẩn bệnh cho vua Gia Long của Nguyễn Quang Lượng là một trong những ngoại lệ hiếm hoi nói trên.

Nguyễn Quang Lượng (1777-1847) húy là Lượng, biệt danh là Trần Quang Chiếu, sau khi theo nghiệp y tự hiệu là Lượng Trai Y sinh, rồi đổi hiệu Thanh Trai. Thuở nhỏ ông theo học Tri huyện Thanh Lâm La Khê công, sau lớn theo học Hoàng giáp Bối Khê, có tài văn chương, nhưng đi thi nhiều lần không đỗ. Do thể chất yếu đuối, ông được người bác là Nguyễn Quang Tuân - từng giữ chức Thị nội Thái y viện Đại sứ triều Lê truyền dạy cho nghề y, với các sách nền tảng là Linh khu, Tố vấn, Cảnh Nhạc (toàn thư), Phùng thị (cẩm nang). Ông mau chóng lĩnh hội được yếu chỉ của Đông y, đặc biệt về phương diện “điền hư bổ tổn” thì nổi tiếng một thời, chữa trị cho nhiều người, được tôn là Nho - Y tiên sinh.

Năm Gia Long 18 (1819) vua Gia Long bệnh không dự triều, ông được Chưởng Hậu quân Tổng trấn Bắc thành Lê Chất dâng sớ tiến cử vào kinh, được chỉ truyền vào hầu chẩn ngự mạch. Sau khi phụng mệnh chẩn mạch, ông làm phiến tâu về bệnh tình nhà vua, quả đúng như lời ông nói (tháng 11 ông khám bệnh xem mạch, tới ngày mười chín tháng 12 thì vua băng). Sau đó các ngự y đều bị trách phạt, riêng ông được miễn. Vua kế vị là Minh Mạng ra chỉ dụ bổ ông vào Thái y viện nhưng vốn không muốn làm quan, ông lấy cớ chăm sóc mẹ già xin lui về. Lúc thư nhàn ông thích ngâm vịnh, ông giỏi về quốc âm, có trước thuật.

Về trước tác của Nguyễn Quang Lượng hiện còn Nam dược tập nghiệm quốc âm ca, ngoài ra theo bản La Khê Nguyễn thị gia phả(1) thì ông còn trước tác các sách: Lý tục phú, Tụ tam đổ phú, Huấn điều giải âm diễn ca, Tam tự kinh diễn âm ca, Sơ học vấn tân giải âm diễn ca, Âm chất văn diễn ca. Trong gia phả có phần Di văn thu lục, chép lại các tờ phiến tấu của Nguyễn Quang Lượng (bấy giờ lấy tên là Trần Quang Chiếu) dâng lên Gia Long và Minh Mạng. Đây là những tư liệu y học quý, thể hiện trình độ chẩn trị của Nho - Y tiên sinh, nhất là bấy giờ các ngự y chăm sóc cho Gia Long đều đã tỏ ra bất lực(2). Sau đây là toàn văn hai tờ phiến tấu của Nguyễn Quang Lượng khi được triệu vào chẩn bệnh cho Gia Long.

Tạm dịch:

Y sĩ Bắc Thành thần Trần Quang Chiếu chắp tay cúi đầu trăm lạy, kính cẩn dâng khải tâu trần.

Chứng bệnh đi lỏng khi mới phát tác, dùng phương bình thường là đỡ; bệnh đã lâu ngày thì đa phần do tỳ thận hỏa hư hàn gây nên, nhưng nếu nguyên nhân tại tỳ thì bệnh ở phần nông, nguyên nhân tại thận thì bệnh đã vào sâu. Gốc của hậu thiên ở tỳ, còn gốc của tiên thiên là ở thận. Xem sách Cảnh Nhạc viết: [Khi] Xuân khí bắt đầu sau, Tam dương(3) từ đất dấy lên thì vạn vật được hóa sinh, lẽ nào chẳng phải là dương khí của mệnh môn ở dưới, chính là mẹ của tỳ thận đó sao. Lại viết: Ngũ tạng bị tổn thương, xét đến cùng ắt tại thận. Lại viết: Rốt cuộc chớ có quên thận, thận chính là chủ(4) của tiên thiên; chữa chứng tiết tả lâu ngày mà không biết điều trị thận thì chẳng phải là đạo tìm gốc vậy. Là bởi chứng bệnh này vốn là do thiếu hỏa hạ suy gây nên, vì thế vào mùa xuân, mùa hạ, có được dương khí vượng nên bệnh giảm; tới mùa thu mùa đông lạnh giá, bệnh lại tăng lên. Nay thần phỏng đoán, trị chứng tiết tả lâu ngày không ngoài việc trị tỳ thận cho khá lên rồi mới bắt đầu dùng phép bồi bổ tỳ; vào giờ Mão, Dậu nên dùng bài cổ truyền Sâm phụ thang(5), gia thêm 5 tiền Phục linh để tẩm thấm trung châu; gia thêm 7 phân Ngũ vị để trợ giúp quyền thu nhiếp. Có khi thay dùng bài Lục vị hồi dương ẩm(6), Thục địa sao thơm. Còn như phép bổ thận hỏa, nếu thấy hạ hãm hậu trọng(7) thì vào giờ Tý, giờ Ngọ nên dùng thang Bát vị(8), giảm Mẫu đơn, tăng Hoài sơn, gia thêm Ngũ vị, Phá cố, đó là phương bổ thận hỏa mà mang cái lẽ khai hợp thăng giáng. Nếu thấy đi ngoài quá lỏng, khó kiềm chế được thì nên đổi dùng bài Hữu quy(9) bỏ (Lộc giác) giao, (Đương) quy, gia thêm Ngũ vị, đó là phương bổ thận hỏa mà lại có công dụng phong chấp bế tàng. Mối quan hệ giữa tỳ và thận như vậy càng nên xin [nhà vua] tiết chế ẩm thực, chú ý chuyện nghỉ ngơi thì việc điều trị chứng đi ngoài không phải lo lắng gì nữa.

Thần học thuật thô thiển, nay vâng mệnh được tới hỏi tường tận bệnh tình, thần đâu dám không tỏ lòng ngu trung, may ra trong ngàn điều nghĩ trúng một điều, ngàn vạn lần trông ngóng. Thần xin kính cẩn dâng khải.

Ngày tháng 11 năm Gia Long thứ 18 (1819).

 

Tạm dịch:

Y sĩ Bắc Thành thần Trần Quang Chiếu chắp tay cúi đầu trăm lạy, kính tâu trần việc phụng chẩn ngự mạch.

Mạch bộ Quan bên tả thuộc can mộc, có phần hơi lấn lướt tỳ thổ; mạch bộ Quan bên hữu cùng với bộ Xích hai bên thì vi, trầm, thiếu lực, ý phỏng âm dương đều hư mà chân dương (hư) lại càng trầm trọng, e rằng vào mùa xuân mộc vượng (ngày hai mươi mốt tháng chạp năm đó là Lập xuân), can mộc lấn át tỳ, ắt sẽ thấy bệnh phát nặng. Thần vô cùng sợ hãi, run rẩy kính cẩn tâu bày (Vua băng ngày 19 tháng 12 năm ấy)(10).

Ngày tháng 11 năm Gia Long thứ 18 (1819).

Trong tờ phiến ông không chỉ phân tích kỹ lưỡng nguyên nhân bệnh trạng nhà vua mà còn đưa ra đường hướng trị liệu cụ thể: đó là trị tỳ thận cho khá lên rồi mới dùng phép bổ tỳ (thang Cổ sâm phụ hoặc thay dùng bằng Lục vị hồi dương); còn bổ thận hỏa thì dùng Hữu quy hoặc Bát vị tùy theo triệu chứng đi kèm và còn đưa cả giờ giấc cụ thể dùng từng loại thuốc.

Giở xem lại phần Ngự dược nhật ký trong Châu bản triều Nguyễn thì thấy khác với những tháng trước nhật ký tháng 11 gần như là ngày nào cũng chép, thậm chí có ngày còn chép hai lần, có lẽ do bệnh tình Gia Long đã trở nặng. Theo nhật ký thì từ ngày 1/11 tới ngày 13/11 các bài thuốc dùng là Thất vịThọ tỳ; từ ngày 14/11 tới ngày 19/11 là các bài Bát vịThọ tỳ; từ ngày 20/11 tới ngày 30/11 là Bát vịLý trung (có thêm vị). Có thể thấy các ngự y trong cung lần lượt kê đơn thuốc cho Gia Long khác với Nguyễn Quang Lượng, đến ngày 12 tháng 12 mới thấy ghi thang Sâm phụ và ngày 13 tháng 12 dùng thang Lục vị hồi dương ẩm. Điều này chứng tỏ đơn thuốc Nguyễn Quang Lượng dâng lên trong tháng 11 đã không được Ngự y viện thực hiện ngay, mà mãi tới gần tới ngày cuối đời của Gia Long mới thấy ghi hai phương thuốc mà ông đề cập. Cần nhắc lại rằng theo Nguyễn Quang Lượng dự đoán trong tờ phiến thì tới Lập xuân tức ngày 21 tháng giêng năm đó, bệnh vua sẽ phát nặng, quả nhiên tới ngày 19 Gia Long qua đời. Có thể chính vì thế mà sau khi Gia Long chết, các ngự y trong cung đều bị trách phạt, chỉ riêng ông được miễn.

Trước nay khi nghiên cứu về Đông y Việt Nam, nhiều người chỉ chú trọng tới các trước tác kinh điển nặng về lý thuyết, nhưng thật ra các trước tác ấy vẫn chưa thoát ra khỏi bóng râm của lý thuyết Đông y Trung Hoa. Những tài liệu “y án” loại hai tờ phiến tấu nói trên của Nguyễn Quang Lượng mới thực sự cho thấy trình độ y học và bản lĩnh nghề nghiệp của Đông y giới Việt Nam thời phong kiến nói chung. Việc đi sâu tìm hiểu mảng tư liệu nhiều năm qua gần như đã bị quên lãng này do đó có thể góp phần soi rọi nhiều khía cạnh quan trọng trong lịch sử Đông y Việt Nam.

 

Chú thích:

(1) Tài liệu chữ Hán chép tay, ký hiệu A.1039, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

(2) Trong Châu bản triều Nguyễn có phần Ngự dược nhật ký chép về việc chẩn mạch khám bệnh chăm sóc cho vua Gia Long của các Ngự y trong cung từ lúc vua nhuốm bệnh cho tới khi qua đời. Xin xem Nguyễn Thị Dương, Giới thiệu một số Châu bản triều Nguyễn với việc chăm sóc sức khỏe vua Gia Long, Thông báo Hán Nôm học 2007, H. 2008, tr.173-184.

(3) Tam dương: tức tam dương khai thái. Bắt đầu từ sau tiết Đông chí là Nhất dương. Sau tiết Tiểu hàn là Nhị dương. Sau tiết Đại hàn là Tam dương khoảng 15, 16 ngày đến tiết Lập xuân.

(4) Nguyên văn “bắc khuyết”.

(5) Sâm phụ thang: trong sách Thế y đắc hiệu phương, có công dụng trị âm dương khí huyết bạo thoát, thượng khí suyễn cấp, ra mồ hôi trộm, đầu váng vất, chân tay lạnh (quyết nghịch), đại tiện tự lợi hoặc bụng rốn đau, nấc nhiều không ăn được, hoặc mồ hôi nhiều, co gân; đổ mồ hôi sau khi sinh, đầu gáy cứng đơ, lưng uốn cong và trường hợp mắc bệnh đậu, dương khí hư hàn, nghiến răng, run lạnh, chân tay đều lạnh, đi ngoài, uống nước sôi không thấy nóng…(Trung Quốc y học đại từ điển, Thương vụ ấn thư quán, In lần thứ 4, Thượng Hải 1957, tr.2450)

(6) Chép trong sách Nghiệm phương, có công dụng đại bổ nguyên khí, trị tiểu nhi khí huyết vốn hư, đậu sang hoặc uống nhầm phải lương dược, ẩu thổ tiết tả, sắp thành mạn kinh, nguy cơ chỉ trong khoảnh khắc (tr.433).

(7) Chỉ việc đi ngoài khó khăn, như bị hãm lại, muốn đi mà phân không ra được.

(8) Bát vị: tên phương, chủ trị mệnh môn hỏa suy và thận hư, hoặc mệnh môn hỏa suy và tỳ hư, hoặc đi lỏng, ăn vào khó tiêu hóa…

(9) Hữu quy: ở đây tức Hữu quy hoàn 右归丸 có tác dụng bổ thận, điều tinh, trị chứng thận dương bất túc, thành phần bài thuốc gồm phụ tử, nhục quế, lộc giác giao, thục địa, sơn thù du, câu kỷ tử, sơn dược, thố ty tử, đỗ trọng, đương quy.

(10) Theo La Khê Nguyễn thị gia phả, trang 3-34. Trong tờ phiến thứ hai có hai câu “Thị niên… Lập xuân” và “Đế băng… cửu nhật” có lẽ là chú thích của người chép hai tờ phiến này trong nguyên bản, ở đây chúng tôi phân biệt bằng cách để vào giữa hai ngoặc đơn.

Tài liệu tham khảo:

- La Khê Nguyễn thị gia phả, bản chữ Hán, ký hiệu A.1039, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

- Châu bản triều Gia Long, tập 5. Cục Lưu trữ Nhà nước, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Hà Nội.

- Trung Quốc y học đại từ điển, Thương vụ ấn thư quán, In lần thứ 4, Thượng Hải 1957./.

(Thông báo Hán Nôm học 2009; tr.296 -301)

Nguyễn Thị Dương
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm