22. Tìm hiểu các bài diễn Nôm chữa bệnh đậu mùa (TBHN 2008)
TÌM HIỂU CÁC BÀI DIỄN NÔM CHỮA ĐẬU MÙA
LÂM GIANG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Nếu phú Nôm, Tuệ Tĩnh là người đi tiên phong, với bài Nam dược Quốc ngữ phú (Vui đạo dưỡng sinh, hậu học sả tầm nay diệu quyết, toái tiên sư kính đạo tiên sư, thuốc Nam Việt trị người Nam Việt...) thì ca Nôm (tức diễn Nôm), Tuệ Tĩnh cũng là người khởi thủy. Tuy mới diễn Nôm câu đầu trong bài ca thất ngôn tứ cú cho một vị dược liệu (Quán chúng là củ cây rau lang, vi hàn tiểu độc năng thông xướng. Trị chư thất huyết sát chư trùng, thanh nhiệt khử tà hà tích dạng), nhưng nó đặt nền móng cho người đời sau tiếp bước theo phương pháp biên soạn này một cách thuần thục, và trải ra rộng khắp ở tất cả các chứng bệnh, các chuyên khoa. Trong bài viết này chỉ xin khuôn lại ở bệnh đậu mùa.
Thư tịch y dược cổ truyền Việt Nam, lưu trữ tai Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, viết về bệnh đậu mùa chiếm tỷ lệ kha khá, khoảng trên dưới 10%. Điều ấy phản ánh bệnh đậu mùa trước đây đã hoành hành như thế nào tại nước ta. Cách phòng và chữa bệnh đậu mùa cũng rất đa dạng, mỗi thầy thuốc đều rút ra những kinh nghiệm riêng cho mình, chép lại thành sách, nên sách viết về đậu mùa ngày càng nhiều. Vả, bệnh đậu mùa xảy ra thường xuyên, mà mỗi lần chữa bệnh lại phải mở sách ra tra cứu thì thật bất tiện. Để khắc phục điều này, các thầy thuốc nước ta đã dùng chữ Nôm soạn thành thể văn vần, chủ yếu là thể lục bát và song thất lục bát, dễ nhớ dễ thuộc. Và cũng chính vì vậy, một loạt bài diễn Nôm về cách chữa đậu mùa, cũng như cách chữa các bệnh khác ra đời. Riêng về bệnh đậu mùa số bài diễn Nôm chiếm tỷ lệ cao nhất, hiện thống kê được trên 70 bài với cách chữa các chứng đậu khác nhau. Sau đây xin nêu ra một số bài diễn Nôm tiêu biểu, để thấy rõ đặc trưng của sách y dược cổ truyền Việt Nam nói chung, sách về đậu mùa nói riêng.
Số bài diễn Nôm thể lục bát, chiếm tỷ lệ lớn, có mặt hầu hết ở cách chữa các chứng. Như chữa chứng đậu bắt đầu phát nóng (Sơ nhiệt):
Diện bộ khí sắc bảo cho,
Ngũ tạng thuộc đế thực là chẳng sai
(Sơ nhiệt diện sắc hoặc thanh bạch hoàng hắc luận hậu chứng ca).
Sơ nhiệt nghịch chứng bảo cho,
Đệ tử môn đồ học lấy cho tinh
(Sơ phát nhiệt nghịch chứng ca).
Thể nó phát nhiệt nóng mình,
Đầu thống thân thống cả mình cùng đau
(Sơ nhiệt hiểm chứng ca).
Hay:
Nhất luận phát nhiệt ba ngày,
Xem trong mình nó khoá này làm sao
(Chẩn đậu gia truyền Quốc âm).
Khi phát hiện ra đậu thì lập tức phải chữa ngay, xem bệnh nặng hay nhẹ, liên quan đến tính mạng:
Đậu thương vừa khóa thịnh hành,
Mở xem nặng nhẹ lưu tình chữa ngay
(Chẩn đậu Quốc ngữ ca).
Lại luận đậu trọng cho hay,
Phúc trướng tiết tả thực nay khôn dùng
(Luận đậu khinh trọng sinh tử).
Về sử dụng thuốc chữa đậu cũng phải thận trọng, tinh tường:
Sản hậu xuất đậu bấy nay,
Tối kỵ bạch thược mà thay hoàng kỳ
(Trị chẩn đậu môn)
Các bài gia truyền, bí truyền chữa đậu thường thường mở đầu bằng câu:
Ngồi rồi luận chứng lên hoa,
Kê bày sau trước để hoà cho hay.
(Gia truyền trị đậu)
Nhân rồi thong thả thanh nhàn,
Xem trong đậu chẩn ta làm một chương.
(Gia truyền đậu chẩn bí pháp).
Ngày rồi luận ca dụng dược,
Nhận xem đậu chẩn chữa thuốc cho tinh.
(Gia truyền trị đậu chẩn dụng Quốc ngữ ca)
Còn bí truyền thì:
Thư đường nhân khoá ban rồi,
Sư ở sơn thượng những lời thiên kim.
(Bí truyền trị đậu ca quát).
Thời vừa khóa tiết đầu xuân,
Xem trong ba giới xoay vần dưới lên.
(Gia truyền chiếm quả Quốc ngữ bí mật).
Thời vừa Ất Mão xuân thiên,
Mở xem các quyển gia truyền diệp thi.
(Gia truyền chẩn đậu liệt bản bí mật phú).
Chữa sởi cũng được diễn Nôm:
Đậu rồi lại luận, chẩn ma,
Vì đâu thói cũ ngẫm là cam go.
(Ma đậu môn).
Diễn Nôm thể song thất lục bát, số lượng ít hơn lục bát, chỉ có mấy bài:
Am thảo mỗi chữ ngồi xem thuộc,
Mở quyển vàng tuyển các đậu thương.
Tiên hiền lời dạy cho tường,
Thượng đẳng trung đẳng tu tường chửa sai.
(Trạch tuyển trị liệu chẩn đậu đẳng chứng sổ nghiệm gia truyền bí áo).
Hay:
Mở quyển xem chuẩn thằng y học,
Thuật Hiên Kỳ bí lục Nội kinh.
Linh khu Tố vấn phát minh,
Dược nhị quyền hành phép chế y gia.
Sao mà chẳng lập ấu khoa,
Để sau hư thực chính tà chẳng tinh.
(Khán đậu cát hung môn Quốc ngữ ca).
Đậu đã xong da đà như cũ,
Còn lời này lại nhủ cho hay.
Hoặc do có kẻ chẳng may,
Bỗng bên điều dưỡng lâu ngày lại ra.
(Đậu hậu dư độc ca).
Ngoài thể lục bát, song thất lục bát ra, các thày thuốc nước ta còn dùng thể thơ thể thất ngôn:
Quả nó lên đầu có bạch tương,
Tục danh dịch đậu ấy tai ương.
Làm thày phải xem cho tường tận,
Chớ giữ làm chi mất tiếng thường
(Khán đậu phát các ban quan hình quả hung cát chứng thi).
Hay:
Cành cành chứng ấy đã nên danh,
Quả nó sơ sơ bảo tốt lành.
Ăn uống chơi bời dù mặc nó,
Ấy là phúc đức dẫu trời sinh
(Chứng đậu thuận).
Hay thể ngũ ngôn chỉ có một bài:
Lâm thâm chẳng lỗ không,
Liền lại một đốm hồng.
Bẩy ngày đậu sinh ngả,
Quả táo chẳng nên nồng
(Thần đoán đậu bí quyết giải nghĩa).
Có nhiều bài diễn Nôm khá dài, đề cập hầu hết các chứng đậu hiểm, đậu thuận, đậu nghịch, như bài Trạch tuyển trị liệu chẩn đậu đẳng chứng sổ nghiệm gia truyền bí áo擇選 治 療 疹 痘 等 症 數 驗 家 傳 祕 奧 gồm 400 câu lục bát, và song thất lục bát, cách chữa đậu mùa từ lúc nung bệnh đến khi bệnh thu yếm:
Am thảo mỗi chữ ngồi xem thuộc,
Mở quyển vàng tuyển các đậu thương.
Tiên hiền lời dậy cho tường,
Thượng đẳng trung đẳng tu tường chửa sai.
Dạy khóa phụ nhân dưỡng thai...
- Đậu mọc sau tai, hư thực cát hung:
Liệu xem mạch đậu hoà lường,
Lại xem nhĩ hậu cho tường chẳng nay...
- Bàn đậu nặng nhẹ, sống chết:
Lại luận đậu trọng cho hay,
Phúc trướng tiết tả thực nay khôn dùng...
- Đậu sơ phát nhiệt:
Đậu sơ phát nhiệt khoá này,
Thương hàn tương tự chứng này cho minh.
Tăng hàn tráng nhiệt bất minh,
Thân nhiệt phúc thống vệ vinh nhiệt nhiều...
gồm 14 chứng và các giai đoạn của đậu mùa.
Hay bài Trị đậu Quốc ngữ ca 治 痘 國 語 歌 có tới 450 câu lục bát, cách trị bệnh đậu mùa gia truyền:
Thung dung luận đậu gia truyền,
Ba ngày mình nóng xem liền lên tai.
Chân tay bàn lãnh cả hai,
Vi tiêu độc ẩm ấy bài hữu công.
Kiều linh cam thảo mộc thông...
Hay bài Trị đậu khoa 治 痘 科 có trên 300 câu lục bát:
Ngồi rồi luận chứng lên hoa,
Phép nhà truyền để ta hòa ngâm ca.
Mai sau việc thấy xem ra,
Ấy là thai độc thực là chẳng sai.
Chẩn đậu vốn nó hai loài,
Âm dương nhị khí ai ai cho tường...
Còn ở Trị chẩn đậu môn 治疹痘門thì diễn Nôm, lục bát, chữa đậu ở các giai đoạn: Phát nhiệt ba ngày (58 câu). Đậu báo ba ngày (58 câu). Đậu mọc ở rốn (50 câu). Đậu khởi trướng ba ngày (66 câu). Đậu thu yếm (74 câu). Đậu hậu (54 câu). Phụ nữ có thai mắc đậu (60 câu) và kết luận:
Sản hậu xuất đậu bấy nay,
Tối kỵ bạch thược mà thay hoàng kỳ.
Hữu thai xuất đậu gian nguy,
Thủy chung cẩn thận điều thì chẳng sai.
Này lời khuyên bảo ai chi,
Đậu thai giữ lấy an thai chửa mừng.
Nhìn chung, số bài diễn Nôm chữa đậu mùa khá nhiều, nhưng đáng tiếc hầu hết các bài diễn Nôm không ghi tác giả. Đây cũng là tình trạng chung cho các chuyên khoa khác, không riêng gì đậu mùa.
Tác giả của những bài diễn Nôm đó đếm được trên đầu ngón tay. Mở đầu là Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIV), với cách diễn Nôm có tính gợi mở (Quán chúng là củ cây rau lang), tiếp theo là La Khê và Trần Văn Nghĩa (thế kỷ XVIIII), với Thập tam thiên gia giảm Quốc âm ca:
Y nghiệp ta vốn học truyền,
Những mong người thế đều lên xuân đài.
Ra hàng cũng được mấy bài,
Để cho hậu học theo đòi hoạt nhân.
Thứ nhất tự bài tứ quân,
Tiện thường bất thực điều cân thế này...
Vốn bài diễn Nôm của La Khê có 13 thiên, nhưng bị thất truyền, chỉ còn lại 7 thiên đầu. Sau được một người học trò hiệu Trạch Viên chủ nhân (tức Trần Văn Nghĩa), bổ sung 6 thiên sau. Trong lời dẫn diễn Nôm bổ sung, Trần Văn Nghĩa nói:
Tôi nay học tiển tài hèn,
Đã vang dạy dỗ bảy thiên chừng này.
Bấy lâu suy ngẫm phép thày,
Dám thêm sáu nữa cho đầy mười ba...
Tiếp đến là một người hiệu Tráng Nho Lão Tuyền Vật, tên tự Tác Phúc diễn Nôm hai đơn thuốc của Trung y là “Hồi sinh đơn” (Đơn hồi sinh thuốc lành hoạ mấy, nước Thiên triều ơn thể rộng suy) và “Như ý đơn” (Tráng Nho Lão khóa ngày rồi, thông biên ngoài đã nghị chơi lịch truyền), vào mùa hè năm Vĩnh Thịnh thứ 13 (1717).
Hải Thượng Lãn Ông cũng có bài diễn Nôm về mạch pháp: Hải Thượng Lãn Ông chẩn mạch pháp (Tả thốn thuộc tâm dữ bào, tôn làm quân hỏa ở vào Nam phương) và về bảo vệ thai nghén có bài Bảo thai chủng tử Quốc âm toản yếu (Nay mừng vận mở thái hanh, ấy rằng tất quý bể kình bặt hơi). Nhưng trong bộ Hải Thượng Lãn Ông y tông tâm lĩnh không thấy đưa 2 bài này vào.
Lại một người tên hiệu Anh Hà Cúc Trai cư sĩ có bài diễn Nôm Y kinh Quốc ngữ, về cách chữa các chứng tạp bệnh (Lương y ngất núi đàn cây, trời xanh ai mở ngày rày cho ra), chưa rõ người thời nào.
Lại một vị ở Thái y viện có bài Thái y viện soạn dụng dược ca, về tạp bệnh (Y phương đặt từ Phục Hi, ngẫm chưng thảo mộc diệp bì hoa nhân), cũng chưa rõ tên hiệu là gì, vào thời nào.
Sơn Trang có bài Chẩn đậu Sơn Trang bí pháp gia truyền (Thư đường nhân khóa ban rồi, sư ở chỉ thượng những lời thiên kim). Sơn Trang, chưa rõ là ai.
Cựu Thái y viện Thừa chánh sứ Du Trung Bá có Lương y tiệp hiệu, hay còn có tên Gia truyền tập nghiệm lương phương Quốc ngữ(Hội lành nên vận uy linh, đời vui ngọc chúc thái bình âu ca).
Lại có Song Mai Tống Trí Hiên, chưa rõ người đời nào, diễn Nôm sách Tỉnh y, nguyên văn chữ Hán có tên Tỉnh y Quốc âm ca (Ông Ngô Hữu Tính đời Minh, trị bệnh ôn dịch dành dành tỉnh y).
Đó là những tác giả diễn Nôm cho các chuyên khoa khác. Còn ở đậu mùa thì Sơn Trang có bài Chẩn đậu Sơn Trang bí pháp gia truyền(Thư đường nhân khóa ban rồi, sư ở chỉ thượng những lời thiên kim). Sơn Trang, chưa rõ là ai.
Và một người họ Nguyễn: Y lâm tâm ấn Nguyễn tiên sinh tân chế đậu khoa quyển chi ngũ 醫林心印阮先生新製痘科卷之五với 200 câu lục bát, về những phương thuốc và cách chữa đậu mùa do ông mới chế ra:
Tâm ấn trị đậu phép nhà,
Chẳng qua công bổ thanh tà vi giai,
Đậu thời bẩm tự sơ thai,
Âm dương giao cấu vì người phát lên.
Thanh tâm quả dục đôi bên,
Kinh ba ngày sạch huyết yên tinh hòa.
Tử cung vừa độ khai ra,
Lập chiến cục, ấy rằng mặc, nào đâu là độc mà lo...
Nhìn chung, tác giả diễn Nôm y dược cổ truyền Việt Nam nói chung, cho bệnh đậu mùa nói riêng, do nhiều nguyên nhân khác nhau, thường thất truyền, số có ghi tác giả, chỉ chiếm một phần rất nhỏ. Trong đó, hoặc là chỉ ghi tên hiệu, hoặc chỉ là một chức danh, hay chỉ ghi họ..., khiến rất khó biết lai lịch, để lại không ít khó khăn khi muốn tìm hiểu cặn kẽ một tác giả./.
Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.295-304