22. Tìm hiểu cấu trúc nội tại của Gia lễ (TBHNH 2012)
22. Tìm hiểu cấu trúc nội tại của Gia lễ (TBHNH 2012)
TÌM HIỂUCẤU TRÚCNỘI TẠI CỦA GIA LỄ
LÊ PHƯƠNG DUY
Căn cứ theo điển tịch Nho gia Tiên Tần, có hai cách phân loại về Lễ. Thứ nhất, Lễ gồm 8 loại, như thiên Hôn nghĩa sách Lễ ký viết: 禮 始 于 冠,本 于 婚,重 于 喪 祭,尊 于 朝 聘,和 于 鄉 射 “Lễ thủy vu Quan, bản vu Hôn; trọng vu Tang, Tế; tôn vu Triều, Sính; hòa vu Hương Xạ” (Lễ lấy Quan lễ để mở đầu, lấy Hôn lễ làm căn bản; lấy Tang lễ; Tế lễ làm long trọng; lấy Triều lễ, Sính lễ làm tôn kính; lấy Xạ lễ, Hương ẩm tửu lễ làm thân hòa). Thứ hai, Lễ gồm năm loại, như thiên Đại Tư đồ sách Chu Lễ viết: 以 五 禮 而 防 萬 民 之 偽, 而 教 之 中 “Dĩ ngũ lễ nhi phòng vạn dân chi ngụy, nhi giáo chi trung” (dùng năm lễ để phòng sự trá ngụy của muôn dân và dạy dân Trung đạo). Sách Chu Lễ không giải thích “ngũ lễ” là gì. Nhưng theo chú giải của Trịnh Huyền (không biết căn cứ vào đâu) giải thích rằng: 五 禮 謂 吉,凶,軍,賓,嘉 “Ngũ lễ vị Cát, Hung, Quân, Tân, Gia”(1)(Năm loại lễ gồm: Cát lễ (tức Tế lễ), Hung lễ (tức Tang lễ), Quân lễ (bái tướng, xuất sư, hiến phù); Tân lễ (ngoại giao), Gia lễ (phổ dụng trong đời sống, chủ yếu gồm Quan lễ, Hôn lễ, Khánh hạ, hương, xạ, yến). Cách phân loại thứ hai này ảnh hưởng rất lớn đến đời sau, trở thành mô thức để các triều đại, các Lễ học gia biên soạn Lễ điển, Lễ thư.
Bởi gia lễ được giới hạn trong phạm vi gia đình, gia tộc, với đối tượng là tầng lớp sỹ và thứ nhân nên cấu trúc nội tại của gia lễ cũng theo đó mà thu hẹp lại, thường chỉ bao gồm bốn loại nghi lễ chính là Quan lễ, Hôn lễ, Tang lễ, Tế lễ, được gọi chung là Tứ lễ. Khi nói đến Tứ lễ tức là nói đến bốn loại nghi lễ này. Từ “Tứ lễ” xuất hiện vào khoảng đời Tùy, thiên Quan lãng trong sách Trung thuyết của Vương Thông có viết: 正 家 以 四 禮,冠 昏 喪 祭 “Chính gia dĩ tứ lễ, Quan Hôn Tang Tế” (dùng Tứ lễ để làm ngay chính gia đạo, [tứ lễ gồm] Quan lễ, Hôn lễ, Tang lễ, Tế lễ). Qua đó, ta có thể thấy, vào đời Tùy thì Tứ lễ đã thuộc nội hàm của gia lễ.
Đến đời Tống, Chu Hy biên soạn sách Gia lễ, chia thành 5 quyển, mỗi quyển là một nội dung chính gồm: Thông lễ, Quan lễ, Hôn lễ, Tang lễ, Tế lễ thì cấu trúc nội tại của gia lễ đã được cố định và trở thành khuôn thức cho việc biên soạn các tác phẩm gia lễ đời sau.
Trong Gia lễ nguyên lưu quần thư thuật lược khảo, Bành Mỹ Linh nói: “Các trước tác đời sau kế thừa sách Gia lễ của Chu Tử, đều lấy Tứ lễ - Quan, Hôn, Tang, Tế trong nhật dụng thường hành của dân gia làm chủ, mà phụ thêm Thông lễ. Như vậy là đã hoàn toàn noi theo bố cục sách [Gia lễ] của Chu Tử. Nhan đề sách cũng theo đó mà đặt là Gia lễ. Có những trường hợp không có Thông lễ, mà chỉ trình bày Quan, Hôn, Tang, Tế thì đặt nhan đề là Tứ lễ. Một số ít trường hợp đặc biệt, như sách Tam lễ tòng kim 三 禮 從 今 gồm 3 quyển của Hoàng Bản Ký 黃 本 驥 đời Thanh không theo tôn chỉ trên, bởi “Quan lễ đã không thi hành từ lâu, nhân đó rút ba lễ Hôn, Tang, Tế từ trong sách Ngô học lục 吾學錄,ước rồi lại ước, [mỗi lễ] đều sắp xếp thành một quyển”. Có lẽ do hiện thực Quan lễ không còn được sử dụng, tựu sự luận sự, cho nên chỉ trình bày ba lễ còn lại. Ngoài ra, Phác Thế Thái 朴 世 采 của Triều Tiên soạn 三 禮 儀 Tam lễ nghi gồm 3 quyển. Tam lễ ở đây đã lược bỏ Tang lễ trong Tứ lễ, bởi vì: “Vào thời vua Quang Hải, Kim Trường Sinh 金長生 ở Sa Khê (1548 - 1631) đã tiến hành trùng đính, tăng bổ tác phẩm Tang lễ bị yếu 喪 禮 備 要 của Thân Nghĩa Khánh 申 義 慶, [khiến cho] tiết mục được đẩy đủ, hoàn bị, trên dưới đều thông dụng. Duy có ba lễ Quan, Hôn, Tang, Tế thì chưa từng được biên tập thành sách”(2). Như vậy, theo Bành Mỹ Linh thì ngoài những tác phẩm có nhan đề gia lễ, thì những tác phẩm có nhan đề Tứ lễ, Tam lễ đều thuộc phạm vi của gia lễ.
Như vậy có thể thấy, cấu trúc nội tại của gia lễ chủ yếu bao gồm Tứ lễ (Quan, Hôn, Tang Tế), như Tứ lễ sơ cảo 四禮初稿 của Tống Huân 宋纁(Minh), Tứ lễ tập thuyết 四禮集說của Hàn Thừa Tộ 韩承祚(Minh), Tứ lễ nghi 四禮疑của Lã Khôn 呂坤(Thanh), Một số trường hợp có cả Thông lễ như Tứ lễ lược tập 四禮略集của Bùi Huy Tùng (Nguyễn), hoặc bao gồm Tam lễ (thông thường là Hôn, Tang, Tế) như Tam lễ tòng kim của Hoàng Bản Ký (Thanh) nói trên, hay Thọ Mai gia lễ 壽梅家禮 của Hồ Gia Tân (Lê), Tam lễ tập yếu 三禮集要(nhiều tác giả, đời Nguyễn). Tuy nhiên, có nhiều trường hợp, cấu trúc nội tại của gia lễ chỉ bao gồm một lễ như Hôn lễ thông khảo 婚禮通考của Tào Đình Đống 曹庭棟(Thanh), Tang lễ bị ký 喪禮備記(khuyết danh - Việt Nam) hoặc hai lễ (thường là sự kết hợp Tang lễ và Tế lễ), nhưng thường lấy nhan đề Gia lễ như Văn Công gia lễ tồn chân 文公家禮存真của Đỗ Huy Uyển 杜輝琬(Nguyễn).
Tuy nhiên, có những tác phẩm không mang nhan đề Gia lễ hay Tam lễ, Tứ lễ lại có nội dung trình bày về gia lễ. Thông thường các tác phẩm này trình bày đủ cả bốn lễ Quan, Hôn, Tang, Tế như Trịnh thị gia nghi 鄭氏家儀của Trịnh Vịnh 鄭泳 đời Nguyên (gồm cả Thông lễ), Học ký 學記của Lý Cung 李塨 (Thanh), Tề gia bảo yếu 齊家寶要của Trương Văn Gia 張文嘉(Thanh).
Ngoài ra, khi tìm hiểu cấu trúc nội tại của gia lễ, chúng ta không thể bỏ qua mối quan hệ đan xen giữa gia lễ và gia huấn, gia quy. Theo Hán ngữ đại từ điển giải thích: “Gia quy là những quy củ trong gia đình” và “Gia huấn là sự giáo hối của bậc gia trưởng đối với con cháu để học tập về các phương diện lập thân, xử thế”. Gia huấn, gia quy hay gia lễ đều nằm trong phạm vi Lễ học của Nho gia, có chung một mục đích là tạo ra những khuôn phạm, quy giới mẫu mực để ước thúc hành vi con người, phân biệt đẳng cấp tôn ti, duy trì môn phong, đạo đức. Vì vậy, sự hòa trộn, đan xen trong các tác phẩm gia lễ và gia huấn, gia quy là điều dễ hiểu.
Trong luận văn Tiến sĩ Đường Tống lễ thư nghiên cứu - tòng công lễ đáo gia lễ, khi khảo về sự hình thành của gia lễ, tác giả Trương Văn Xương cho rằng sự hình thành của gia lễ là kết quả của một quá trình lịch sử phát triển từ gia huấn, và ông đã giành riêng một mục bàn về vấn đề này(3). Mở đầu, ông viết: “Từ thời Tây Hán, tuy giới sỹ tộc Nho học đã trở thành thành phần căn bản của xã hội, song, ngoài việc thông qua giáo dục bằng Kinh học, giới sỹ tộc Nho học phải làm thế nào để duy trì gia học môn phong, khiến con đường sỹ hoạn không bị suy chuyển, đó là một vấn đề quan trọng được đặt ra trong giới sỹ tộc Nho học. Khi đó, triều đình nhà Hán vẫn chưa hoàn thành hệ thống “lễ điển của quốc gia” (quốc gia điển lễ), nên giới sỹ tộc Nho học cũng chưa hoàn thành gia lễ, mà chỉ lưu truyền gia huấn”. Do vậy, giữa gia lễ và gia huấn đã sẵn có mối quan hệ đặc biệt. Từ thời Hán, đặc biệt từ thời Lục Triều về sau, việc trước thuật về đề tài gia huấn rất phát triển với các tác phẩm nối tiếng như Giới tử thư 戒子書của Đông Phương Sóc 東方朔(Hán), Gia giới 家戒của Kê Khang 稽康 (Tam Quốc), Dữ Tử Nghiễm Đẳng sớ 與子儼等疏 của Đào Uyên Minh 陶淵明 (Tấn), Đình cáo văn 庭诰文của Nhan Diên Chi 顏延之(Nam Bắc triều)…Trong đó, tiêu biểu là tác phẩm Nhan thị gia huấn 顏氏家訓của Nhan Chi Thôi 顏之推(Nam Bắc triều). Tác phẩm này tuy thuộc thể tài gia huấn, nhưng trong đó có đề cập nhiều đến các vấn đề về gia lễ học và lễ tục học. Bên cạnh đó, các tác phẩm thuộc thể tài gia quy, gia tắc, gia phạm(4) cũng không kém phát triển.
Lịch sử phát triển của gia huấn đến đời Tống được đánh dấu bởi Tư Mã Quang với ba tác phẩm Gia phạm 家笵, Cư gia tạp nghi 居家雜儀và Huấn kiệm thị khang 訓儉示康đã có ảnh hưởng lớn đến hậu thế. Sách Trung Quốc gia huấn sử viết: “Trong lịch trình phát triển của gia huấn trong giới sỹ hoạn, nói về sự ảnh hướng đối với đời Tống và từ đời Tống về sau thì gia huấn của Tư Mã Quang được xưng thứ nhất. Rất nhiều thế gia đại tộc cho tới một số nhân gia phổ thông đều lấy Gia phạm và Cư gia tạp nghi làm khuôn phép trị gia, giáo tử. Về sau, có không ít các tác giả viết về gia huấn, đều nhiều lần dẫn dụng sự luận thuật từ các danh thiên gia huấn của Tư Mã Quang trong tác phẩm của mình”(5). Trong ba tác phẩm trên, thì Cư gia tạp nghi vốn là một mục thuộc quyển 3, đặt sau Hôn nghi và trước Tang nghi trong sách Thư nghi của Tư Mã Quang. Sau này được Chu Hy đưa vào bộ gia lễ với một mục riêng gọi là Tư Mã thị cư gia tạp nghi. Sự có mặt của Cư gia tạp nghi trong Thư nghi -vốn là một tác phẩm gia lễ, và sau này được đưa vào sách gia lễ của Chu Hy, đã chứng minh sự đan xen, hòa trộn giữa thể tài gia lễ và gia huấn, gia quy đến đây đã được chính thức định hình. Sau này, có nhiều tác phẩm gia lễ có nội dung về gia huấn, gia quy. Và ngược lại, cũng có nhiều tác phẩm về gia huấn, gia quy có nội dung về gia lễ. Ta có thể lấy ví dụ như tác phẩm Hà thị gia quy 何氏家規của Hà Luân 何倫đời Minh đề cập nhiều đến gia lễ, hay Tề gia bảo yếu 齊家寶要của Trương Văn Gia 張文嘉đời Thanh có riêng phần về gia quy. Một số tác phẩm gia lễ của Việt Nam cũng không ngoại lệ, có thể kể đến các tác phẩm như: Thanh Thận gia lễ đại toàn của Thanh Thận (Hậu Lê) có một phần quyển 2 là gia huấn, Tứ lễ lược tập của Bùi Huy Tùng có phần Phụ tục gia quy. Hoặc trong quyển 2 của tác phẩm Nguyễn thị gia huấn của Nguyễn Mai Hiên (Nguyễn) có trình bày đủ bốn lễ Quan, Hôn, Tang, Tế.
Ngoài ra, sự khác biệt trong cấu trúc nội tại của gia lễ Việt Nam so với gia lễ Trung Quốc là việc đưa Hạ thọ lễ (lễ mừng thọ) vào nội dung của gia lễ. Trong bài viết Khảo về lễ thọ của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến đăng trên tạp chí Nam Phong, số 124, tháng 12 / 1927 đã nêu ra lý do và mục đích biên soạn Hạ thọ lễ. Nguyễn Hữu Tiến viết như sau: “Tôi ít lâu nay vẫn lưu tâm khảo đính về các lễ tục thông hành, để giúp cho các nhà dụng lễ có chỗ mà xem xét, lúc hành lễ khỏi đến nỗi sai lầm, như là lễ cưới lễ tang tôi đã xét trong Văn Công gia lễ và lễ Thọ Mai mà biên dịch ra, đã lục đăng trong bản chí. Duy còn lễ thượng thọ thì chưa thấy sách gia lễ nào chép cả, vì rằng nước ta xưa nay vẫn theo nghi lễ của Tàu, mà người Tàu chỉ có làm lễ sinh nhật mà thôi, chứ không hay làm lễ thọ, nên không thấy có ghi chép cái nghi tiết lễ thượng thọ”. Lại trích lời tự luận của ông Cử Nguyễn Giản Thạch như sau: “Lễ thượng thọ ở các gia lễ Tàu không có chép, mà trong Kinh Lễ cũng không bàn đến. Người đời xưa dùng ý sâu xa, muốn cho người con đương lúc bố mẹ còn sống, thường thường phải hết đạo hiếu kính, chứ không chuộng gì mà hư văn trong một vài ngày mà thôi. Nhưng trong Kinh Thư có nói rằng “Quyết phụ mẫu khánh, tự tẩy điến, trí dụng tửu”. Nghĩa là con làm ăn khá cha mẹ mừng, cũng nên sạch sẽ rửa ráy, ngụ lòng trung hậu mà dâng chén rượu. Đức Khổng Tử cũng nói rằng: “Phụ mẫu chi niên, bất khả bất tri dã, nhất tắc dĩ hỉ, nhất tắc dĩ cụ”. Nghĩa là người con phải nhớ tuổi cha mẹ, một là mừng, một là lo. Xem thế thì cổ nhân tuy chưa chế ra lễ thượng thọ, nhưng đại ý cũng đã tỏ ra đấy rồi”(6). Như vậy, một số nhà Nho Việt Nam cho rằng lễ Hạ thọ (lễ mừng thọ) ở Trung Quốc vốn không có. Tuy nhiên, trong phần Cư gia tạp nghi của Quyển 4 - Thư nghi của Tư Mã Quang đời Tống vốn đã có một đoạn nói về lễ mừng thọ, mở đầu viết rằng: 凡 節 序 及 非 時 家宴上壽于家長 “Phàm tiết tự cập phi thời gia yến thướng thọ vu gia trưởng” (Phàm theo năm tháng và những khi thích hợp thì tổ chức yến tiệc trong gia đình để dâng thọ lên bậc gia trưởng)(7). Sau đó là một đoạn miêu tả sơ lược nghi tiết của buổi lễ đó. Phần này cũng được đưa vào Tư Mã thị cư gia tạp nghi trong Văn Công gia lễ của Tính lý đại toàn. Sau này các nghi tiết đó đã được cụ thể hóa và chi tiết hóa trong sách Văn Công gia lễ nghi tiết của Khâu Tuấn đời Minh. Bản thân phần Ôn Công Hạ thọ lễ nghi tiết trong Hạ thọ lễ của Tứ lễ lược tập cũng được chép lại từ sách của Khâu Tuấn. Ngay cả phần Hạ thọ lễ trong sách Gia lễ chỉ nam của Nguyễn Tử Siêu cũng được dịch lại từ Văn Công gia lễ nghi tiết. Tác giả nói rõ rằng: “Giở lên nghi tiết tế thọ, là theo ở trong Ôn Công cư gia tạp nghi mà dịch ra, cứ theo như thói tục hành lễ cũng có tăng giảm châm chước nhiều”(8). Thư nghi, Văn Công gia lễ, Văn Công gia lễ nghi tiết đều là những sách căn bản về gia lễ, lại rất phổ dụng. Vậy tại sao những nhà Nho như Đông Châu, Nguyễn Giản Thạch lại coi lễ Hạ thọ không có ở Trung Quốc? Vì sơ xuất chăng? Điều này thật khó thể xảy ra. Hay vì quan niệm của các vị ấy khác với Ôn Công, Chu Tử, Khâu Tuấn nên không coi nghi lễ trên là Hạ thọ lễ. Điều này khả dĩ, vì: thứ nhất, ở Trung Quốc thời xưa, lễ sinh nhật của mọi người, bất kể già trẻ lớn bé, khi đến mừng tuổi đều gọi là “chúc thọ”, chứ không riêng gì người già. Thứ hai, đối tượng mừng thọ trong sách Thư nghi chỉ nói chung là “gia trưởng”, gia trưởng ở đây cũng có thể là người trẻ tuổi, chứ không như Việt Nam, nói tới mừng thọ thì đối tượng là chỉ ông bà, cha mẹ đã cao niên. Trên thực tế, các sách gia lễ Trung Quốc sau đó không hề nhắc tới lễ Hạ thọ, chứ chưa nói gì đến việc biên soạn thành một loại nghi lễ riêng biệt nằm trong gia lễ. Các nhà Nho Việt Nam soạn riêng lễ mừng thọ và đưa vào thành một lễ riêng của gia lễ bởi mục đích báo hiếu và mừng tuổi ông bà, cha mẹ khi còn sống. Và đây có lẽ là nguyên nhân chính để lễ Hạ thọ ra đời và phổ dụng ở Việt Nam. Nguyễn Giản Thạch nói: “Người đời xưa dùng ý sâu xa, muốn cho người con đương lúc bố mẹ còn sống, thường thường phải hết đạo hiếu kính, chứ không chuộng gì mà hư văn trong một vài ngày mà thôi… Xem thế thì cổ nhân tuy chửa chế ra lễ thượng thọ, nhưng đại ý cũng đã tỏ ra đấy rồi”. Thiện Đình cũng nói: “Các nước văn minh trọng người thiếu niên, cho nên lễ thọ không có giảng đến, tục Á châu ta trọng người có tuổi, vì người có tuổi đã trải việc đời và biết nhiều sự lạ. Vậy đáng nên quý, đáng nên trọng, đừng có mượn tiếng văn minh chuộng người thiếu niên, khinh người lão đại. Như thế thì người ta ở đời khi ít tuổi, không lễ gì trọng bằng lễ hôn, đến khi nhiều tuổi không lễ gì vui bằng lễ thọ. Đạo làm con thờ cha mẹ, khi lão cảnh cũng nên làm một tiệc thọ, để cha mẹ vui vẻ cùng các cháu và họ đương”(9). Hiện khảo trong các thư tịch gia lễ đời Lê hiện còn chúng ta chưa thấy xuất hiện lễ Hạ thọ. Nên tạm đoán rằng lễ Hạ thọ của Việt Nam xuất hiện vào khoảng đời Nguyễn và lời bàn của hai cụ Nguyễn Giản Thạch và Thiện Đình ở trên có lẽ là tâm thức chung của các nhà Nho đời Nguyễn. Đời Nguyễn, Hạ thọ lễ đã được nhiều bậc túc Nho biên soạn. Ta có thể kể đến các phần Hạ thọ lễ trong Tứ lễ lược tập của Bùi Huy Tùng, phần Hạ thọ lễ trong sách Gia lễ chỉ nam của Nguyễn Tử Siêu, Nghi tiết lễ thọ của cụ Chí Đình, Nghi tiết lễ thọ của cụ Ngạc Đình trong Khảo về lễ thọ (Nam Phong tạp chí số 124, 12/1927), Lễ Hạ thọ trong Nghi lễ phổ thông IV của Thiện Đình (Nam Phong tạp chí số 149, 4/1930). Sách Tứ lễ lược tập ra đời khoảng năm 1839 có lẽ là cuốn sách gia lễ ghi chép lễ Hạ thọ sớm nhất hiện còn. Qua đó ta thấy rằng, Hạ thọ lễ là một bộ phận độc lập của gia lễ Việt Nam.
Chú thích:
(1). Chu lễ chú sớ - Địa quan Tư đồ - Đại Tư đồ (Thập tam kinh chú sớ - quyển Thượng, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã 2011, tr. 702).
(2). Xem Bành Mỹ Linh - Gia lễ nguyên lưu quần thư thuật lược khảo dị (bản tóm tắt), khoa Văn học Trung Quốc, Đại học Đài Loan, tháng 10, năm Trung Hoa dân quốc thứ 90.
(3). Xem 由家訓的發展 - 論士族的家禮之產生Do gia huấn đích phát triển - luận sỹ tộc đích gia lễ chi sản sinh [Từ sự phát triển của gia huấn - bàn về sự ra đời của gia lễ trong giới sỹ tộc] (Trương Văn Xương - Luận văn Tiến sĩ Đường Tống Lễ thư nghiên cứu - tòng công lễ đáo gia lễ, Đại học Đài Loan 2006, tr. 326 - 333).
(4). Thông thường gia quy, gia phạm, gia tắc… được xếp gộp vào thể loại gia huấn (xem Bao Đông Pha tuyển chú - Trung Quốc lịch đại danh nhân gia huấn tinh tụy, An Huy Văn nghệ xuất bản xã 2000). Ở đây, sở dĩ chúng tôi tách biệt gia huấn và gia quy là dựa trên kết quả khảo sát sự có mặt của những nội dung mang đề mục gia huấn và gia quy trong các tác phẩm gia lễ hay ngược lại của Trung Quốc và Việt Nam. Còn trên thực tế, giữa gia huấn và gia quy ít khi có ranh giới phân biệt rõ ràng.
(5). Xem 司馬光的家訓Tư Mã Quang đích gia huấn (Trung Quốc gia huấn sử, Từ Thiếu Cẩm và Trần Diên Bân, Thiểm Tây Nhân dân xuất bản xã 2003, tr. 390).
(6). Nguyễn Hữu Tiến, Khảo về lễ thọ (Nam Phong tạp chí, số 124, tháng 12 / 1927).
(7). Tư Mã Quang - Thư nghi (Tứ khố toàn thư bản).
(8). Nguyễn Tử Siêu - Gia lễ chỉ nam (Hà Nội, Nhật Nam thư xã, 1931, tr. 128 - 129).
(9). Thiện Đình, Nghi lễ phổ thông - Lễ hạ thọ (Nam Phong tạp chí, số 149, 4/1930).
(Thông báo Hán Nôm học 2012, tr.173-176)