VI | EN
23. Lê Văn Ngữ và chuyến đi Pháp năm 1900 qua một tài liệu lưu trữ của Phủ thống sứ Bắc Kỳ (TBHNH 2012)
23. Lê Văn Ngữ và chuyến đi Pháp năm 1900 qua một tài liệu lưu trữ của Phủ thống sứ Bắc Kỳ (TBHNH 2012)

LÊ VĂN NGỮ VÀ CHUYẾN ĐI PHÁP NĂM 1900 QUA
MỘT TÀI LIỆU LƯU TRỮ CỦA PHỦ THỐNG SỨ BẮC KỲ

NGUYỄN THỊ DƯƠNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

về hành trạng của Lê Văn Ngữ, người ta đã biết ông từng sang Pháp, bằng cứ là cuốn Phụ tra tiểu thuyết của ông được biên soạn tại Paris năm Thành Thái thứ 12 (1900) ghi chép hành trình từ Hà Nội đi Pháp và những điều mắt thấy tai nghe ở xứ người. Nhưng vì sao Lê Văn Ngữ lại có thể sang Pháp thì có lẽ chỉ tài liệu của Phủ Thống sứ Bắc Kỳ mới giải đáp được rõ ràng.

Năm 1900 nước Pháp tổ chức hội Đấu xảo, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cho quan viên Nam triều ở Bắc Kỳ cử người tham dự. Phái bộ được cử đi có Tổng đốc Ninh Thái Vũ Quang Nhạ làm Chánh sứ, Tuần phủ Bắc Ninh Trần Đình Lượng cùng Tuần phủ hàm sung Đốc học Trường Hậu bổ Hà Nội Hoàng Trọng Phu làm Phó sứ. Sách Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên có ghi chép sự kiện này(1). Ngoài ra, còn có một thành viên khác của phái bộ được Trú kinh Khâm sứ đại thần cử đi, đó là Đốc học Xuân Trường Từ Đạm(2). Vậy Lê Văn Ngữ được đi cùng đoàn với tư cách gì? Trong phần đầu và cuối sách Phụ tra tiểu thuyết có nhắc tới việc ông được theo Đệ Tam giáp Đồng Tiến sĩ Từ Đạm phụng mệnh đi sứ. Nhưng mục đích của Lê Văn Ngữ nhân dịp được đi theo Từ Đạm sang Pháp lần này là muốn được đệ đạt và trình bày những kiến thức mà ông thắc mắc về thiên văn, khoa học tại Bảo tàng Paris. Điều này thể hiện rõ trong đơn thỉnh cầu trình lên Thống sứ Bắc Kỳ ngày 20 tháng 3 năm Thành Thái thứ 12 (1900).

Văn bản nằm trong hồ sơ số 33451 viết bằng chữ Hán (10 trang) trên giấy tín chỉ loại 5 xu (theo quy định của chính quyền lúc bấy giờ, chuyên dùng để viết các loại bẩm khất, đơn kiện…), trang đầu có con dấu Indochine Française, trang kế có dấu triện Long vân “Đại Nam Thành Thái”. Kèm theo bản trình bẩm chữ Hán của Lê Văn Ngữ, trong hồ sơ tại Phủ Thống sứ Bắc Kỳ có bản dịch ra chữ quốc ngữ viết bằng bút mực trên giấy tây (12 trang) và một tờ ghi chú của Phủ Thống sứ bằng tiếng Pháp tóm tắt bản dịch. Phần đầu văn bản là đơn trình của Lê Văn Ngữ gửi Thống sứ Bắc Kỳ “…Bởi tôi có một vài lẽ còn nghi, tôi đã bàn tính suy nghĩ trở đi trở lại rồi, nay tôi xin đưa sang viện Bác vật thành Paris sửa định mà tôi chưa biết lệ nhà nước thế nào; vậy tôi xin viết rõ ràng mấy khoản ấy, kính tới trình trước tòa quan lớn xin quan lớn chỉ giáo cho…”. Phần sau là thư trình “các ngài quân tử ở viện Bác vật nước Đại Pháp”, trong đó Lê Văn Ngữ bàn bốn vấn đề về trời đất vận chuyển, về độ mặt trời mặt trăng đi, về sự tri giác vận động và về sao chổi khi ẩn khi hiện.

Cần nhấn mạnh rằng Lê Văn Ngữ chưa từng giữ chức vụ gì trong hệ thống quan lại triều đình, việc được theo phái đoàn sang Pháp theo như ông nói là được Từ Đạm cho “cùng đi”, nhưng thực ra điều đó là nằm trong chủ trương của Nam triều. Ngoài những người đứng đầu phái bộ có hàm Ngũ phẩm trở lên thì với những người tùy tùng, Nam triều chủ trương “sức cho huyện phủ các hạt chọn cử người nào thông minh, nhớ giỏi mỗi huyện 20 người để theo Đốc học bản tỉnh tôn quan Từ Đạm” (Trại xảo hậu tự). Lê Văn Ngữ đã không phụ lời dặn dò của Từ Đạm trước lúc lên đường “… Dữ kỳ ngoạn vu mục bất nhược ngộ chi ư tâm, truân vu ngôn bất nhược hình chi ư bút…” (So với việc vui mắt chẳng bằng ngộ trong lòng, nói đi nói lại nhiều lần chẳng bằng ghi chép lại) và kết quả chính là tác phẩm Phụ tra tiểu thuyết(3) ra đời.

Bên cạnh đó, là một người vốn theo cái học Nho gia, trong buổi giao thời, Lê Văn Ngữ “bế môn tựu học”, “thường đọc Vạn quốc sử ký(4), luận thiên hạ sự thế”…, nhưng có nhiều điều chưa hiểu rõ, Lê Văn Ngữ có ý ra nước ngoài học hỏi giao lưu nhưng chưa có điều kiện “… như tôi là kẻ tài hèn trí thiển, xe chở đấu đong, mà tôi cũng muốn lấy sự mình tôi thửa biết thửa nghe mà vượt bể mang tráp theo đòi các ông, đặng tựa mặt vưng lời, cầm roi bưng mực hầu các ông mà học, song le vì sự không có tiền nên không có thể mà đi được…”. Chuyến đi này quả là một dịp tốt để ông mở rộng tầm nhìn. Phụ tra tiểu thuyết ghi chép sơ lược hành trình chuyến đi, những điều thực mục sở thị tại Paris và một số ghi chép khác trong đó có một phụ lục Kính đệ Bác vật viện thư văn (Thư kính trình Bảo tàng Paris) nội dung giống như phần thứ hai trong tài liệu Lưu trữ, nhưng không thấy ghi chép bình luận gì về việc trình bày kiến thức ở Bảo tàng Paris. Xem ra lá thư gửi tới Bảo tàng Paris của Lê Văn Ngữ đã không được hồi âm, nhưng rõ ràng sau thế hệ của những người như Nguyễn Trường Tộ, ông là một trong những trí thức Việt Nam sớm có sự quan tâm tới khoa học kỹ thuật và do đó cũng sớm có nhu cầu về việc giao lưu, trao đổi với học giới quốc tế, sự quan tâm và nhu cầu phải nói là còn hiếm hoi trong tầng lớp trí thức-nhà nho Việt Nam lúc bấy giờ. Về sau khi dịch được năm bộ sách xưa, ông cũng gửi thư tới Hội Quảng học Thượng Hải để xin được góp ý kiến (Trung Dung thuyết ước)…

Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam có nhiều biến chuyển bởi sự giao lưu giữa hai nền văn hóa Đông Tây, trong đó nổi bật là những kiến thức khoa học kỹ thuật nói chung còn khá xa lạ với các trí thức Nho học vốn chỉ quan tâm tới cái học tu tề trị bình-quản lý xã hội. Cho nên, cùng với các tác phẩm hiện còn của Lê Văn Ngữ, tài liệu trên đây góp phần làm rõ thêm về thân thế hành trạng cùng tư tưởng của ông, một khuôn mặt đáng lưu ý trong đội ngũ trí thức-nhà nho Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.  


Chú thích
:

(1). Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên, Cao Tự Thanh dịch và giới thiệu, Nxb. Văn hóa Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2011, điều 0969. Xin xem thêm Sứ tây nhật ký, kí hiệu A.1103, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

(2). Xin xem thêm Lãm tây kỷ lược, kí hiệu VHv.1784, tờ 44a, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

(3). Sách hiện được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu VHv.1881.

(4). Vạn quốc sử ký 萬國史記: tên bộ sách giới thiệu về lịch sử các nước trên thế giới do một học giả người Nhật thời Minh Trị là Cương Bản Giám Phụ biên dịch ra chữ Hán, sách này có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với giới trí thức Trung Quốc cận đại. 

《万国史记》是明治时期日本学者冈本监辅所著的一部史学著作,在十九世纪末二十世纪初对中国知识界和中国历史学研究都产生了重要影响。是当时中国文化人了解世界,开阔眼界的一本重要书籍。此书为民国石印版小字巾箱本

明治时期的日本学者冈本监辅编纂并出版的《万国史记》一书,客观全面地介绍了世界各国的历史,该书与中国人有着密切的联系,对近代中国知识界和中国史学的 近代化都产生了重要影响.皖西学院图书馆收藏有一部原为日本宫城师范学院所拥有、后通过规范程序流入中国、保存完好的原版《万国史记》.

(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.187-191

Nguyễn Thị Dương
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm