VI | EN
23. Thêm một tấm bia CÔNG GIÁO viết bằng chữ Hán (TBHNH 2000)
TBHNH2000

THÊM MỘT TẤM BIA CÔNG GIÁO VIẾT BẰNG CHỮ HÁN

VƯƠNG THỊ HƯỜNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Sau nhiều thăng trầm lịch sử Ki tô giáo(1) cũng đã vào được Việt Nam. Nhưng khó khăn đầu tiên mà các giáo sĩ gặp phải khi truyền đạo cho người Việt Nam là sự phân biệt về ngô ngữ và văn tự. Bởi vậy họ đã dùng bộ chữ cái La-tinh thêm dấu phụ để ghi âm tiếng Việt, tạo nên chữ Quốc ngữ. Song khó khăn thứ hai mà họ mắc phải là so với các tôn giáo có nguồn gốc Á Đông đã vào Việt Nam từ trước (Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo), Ki tô giáo là tôn tháo mang đậm tính cách cứng rắn của truyền thống văn hóa phương Tây; do vậy mà trong một thời gian dài nó khó hòa đồng được với văn hóa Việt Nam. Nổi bật trong mối quan hệ này là mâu thuẫn giữa một bên là truyền thống thờ cúng tổ tiên của người Việt và bên kia là tính cách độc tôn của Ki tô giáo không chấp nhận việc thờ phụng ai ngoài Chúa. Tiêu biểu vào năm 1715 Giáo hoàng Clément XI đã chính thức tuyên bố coi việc thờ cúng tổ tiên là việc làm hoàn toàn đi ngược lại đạo Ki tô(2).

Người Việt Nam với truyền thống bao dung, vốn dễ chấp nhận mọi tôn giáo ngoại lai miến là các tôn giáo ấy phải đến với hòa bình chí thiện và phù hợp với tâm linh dân tộc. Vì thế mới có “tam giáo đồng nguyên” một cách hòa bình và uyển chuyển đến vậy. Còn đối với Ki tô giáo thì sao? Nó không chấp nhận ai ngoài việc thờ phụng Chúa, lại thường sử dụng ngôn ngữ La tinh tỏng khi đó người Việt nào cũng muốn thờ ông bà tổ tiên và đồng thời quen việc sử dụng chữ khối vuông (Hán – Nôm). Vậy đối với Ki tô giáo có xảy ra hiện tượng “đồng nguyên” tâm linh không? Nếu có, mức độ uyển chuyển của nó tới đâu? Tính tâm linh dân tộc (hay nói cách khác là bản sắc dân tộc) còn được bảo toàn và thống nhất? Để tìm được câu trả lời chúng tôi đã từng rất trăn trở. Thật may mắn trong một chuyến đi thực tế về huyện Kim Môn (Hải Dương) chúng tôi đã phát hiện thêm(3) một tấm bia của Thiên chúa giáo – tâm sbia này đã góp phần giải thích những thắc mắc đó. Chúng tôi xin giới thiệu về tấm bia để mọi người cùng so sánh và tham khảo.

Tấm bia hiện được đặt tại nhà ông trùm Hoàng Văn Thuật, giáo xứ Kẻ Bưởi, thôn Kim Trang Tây, xã Lam Sơn, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Bia có kích thước 1m15 x 0m54 được khắc bằng chữ Hán lẫn chữ Nôm, kiểu chữ chân phương. Bia khắc trên một mặt đá, trán có hình cây thánh giá có dây leo xung quanh. Tuy bia có niên đại muộn (1927) nhưng do không được bảo quản tốt nên mặt bia đã bị nứt và rỗ nên một số chữ bị mất hoặc mờ, khó đọc. Nội dung của bia cũng tương tự như một tấm bia hậu thần, hậu Phật và hương ước. Sau đây chúng tôi xin dịch nghĩa toàn bộ bản văn bia.

Dịch nghĩa:

BIA GHI HẬU

Ngày Chúa giáng sinh năm 1927, con là giáo dân lĩnh chức Phó trường xứ xã Kim Trang, Đoàn Văn Bửu xin được lạy thưa:

Đức cha cai quản, linh mục xứ Quỳnh Côi, Nguyễn Hữu Nguyên soi xét cho con xin phép được một (…) vị hậu khắc vào bia để ghi nhớ. Từ năm Canh Dần đến năm Giáo Dần cách nhau khoảng 30 năm, nghĩ đến công lao 9 tháng mang thai, 3 tháng bú mớm, đức cù lao như biển rộng, tình nghĩa như núi cao, làm cảm động cả trờ cao đất dày. Ngày 1 tháng 9 năm Giáp Dần, chúng tôi gồm Đoàn Văn Bưu, vợ thứ Nguyễn Thị Phượng và con gái Đoàn Thị Lan có lời xin giáp Nghĩa bản xã cho chúng con được góp 180 quan tiền vào công quỹ để say này tu sửa Thánh đường. Người có trách nhiệm ở Thánh đường, kì lão Cơ Văn Ấm, và người giúp việc Nguyễn Văn Hậu, Mai Văn Lộc cùng toàn xã đã nhận đủ số tiền đó. (Nay) thuận tình cho thân phụ của ông họ Đoàn tên tự Phúc Đường, giỗ ngày 1 tháng 4 và thân mẫu là bà họ Trần giỗ ngày 7 tháng 3 được gửi vào Thánh đường của đức thánh Bảo Lộc (Pao-lo).

Số ruộng hậu được lưu lại gồm: một thửa ruộng 3 sào 6 thước tại xứ Đồng Mai: phía Đông Nam giáp ruộng nhà Lương Thị Điền, phía Tây giáp ruộng nhà Văn Kí, phía Bắc giáp đường Bối. Lại còn một mảnh ao 11 thước tại xứ Ngõ Đông: phía Đông giáp ruộng nhà Văn Cấp, phía Tây gần đường. Số ruộng ấy giao cho (…). Hằng năm vào ngày giỗ biện lễ trị giá 2 quan tiền; ngày tết Nguyên đán biện lễ trị giá 1 quan và xin được đọc Kinh tại Thánh đường.

Thảng hoặc có ăn uống thì phải biếu lộc cho xứng với đức. Nếu như có làm bài văn tụng niệm thì sẽ được bản xã giúp đỡ. Việc làm này khiến cho Giáo dân trở về với đức, trăm đời không quên. Nay tôn các vị là hậu:

- Tháng 8 năm Nhâm Dần, Linh mục đại nhân Hoàng Hữu Độ đã có lời truyền để các họ ở Kim Trang tu sửa 1 tòa Thánh đường để mọi giáo dân có nơi phụng sự.

Các khoản nhu phí sửa chữa tòa Thánh đường do Linh mục ủy thác cho cựu Phó tổng Đoàn Văn Diễn cùng bà thứ nhất Nguyễn Thị Phượng gia tâm trù liệu các khoản phí tổn. Ông bà đã đóng góp 200 đồng cho giáp Nghĩa.

Ngày – tháng – năm Quý Mão đã cùng làm đơn, ưng thuận cho vợ chồng giáo dân này được làm hậu để đền đáp công lao của họ.

Số ruộng gửi hậu là: Một thửa ruộng 6 sào 13 thước tại xứ Đồng Mai: phía Đông giáp ruộng Chùa, phía Tây giáp ruộng của giáp Nghĩa. Cũng tại xứ Đồng mai này còn một thửa 6 sào 2 thước: phía Đông giáp đất của Biện Đức, phía Tây giáp ruộng họ Lương - người bản giáp. Những người đã nhận ruộng cấy, hàng năm phải nộp hoa lợi để dùng vào các ngày cúng lễ, truyền lại cho con cháu mãi mãi về sau. Lệ cúng giỗ kê khai dưới đây:

1. Các vị hậu sinh thời hàng năm vào ngày tết Nguyên đán được biếu như lệ định.

2. Khi bản giáp tổ chức yến ẩm phải kính biếu trầu cau các vị hậu đều nhau, vạn đời không thay đổi.

3. Sau khi các vị hậu trăm tuổi, bản giáp biện: một đầu lợn, một mâm xôi, một buồng cau, một chai rượu, thêm 10 nải chuối tiêu mang vào từ đường làm lễ. Đến ngày giỗ biện lễ mỗi người trị giá tổng cộng 3 đồng, mang đến Thánh đường, đọc kinh để biểu thị sự đồng tâm nhất trí của mọi người.

Nay định lệ: các dịp lễ Thánh, kính mình thánh, bản giáp xin một lễ mang ra một các vị hậu, một lễ thánh Mi diệu (Mai-sa). Toàn thể các cụ ông các cụ bà hãy tuân theo quy định này.

Đoàn Như Thảo viết và khắc bia. Đô-mi-ni cô Diễn kí.

Chú thích:

(1) Là tên gọi chung của tất cả các tông phái cùng thờ chúa Jesus Christ. Qua tiếng Hán các tên cùng được chuyển tiếng Việt là Ki tô, Cơ đốc.

(2) Quan điểm này phải mãi đến Cộng đồng Vatican II (1962-1965) mới được điều chỉnh theo tinh thần tôn trọng những sự khác biệt và các sắc thái văn hóa địa phương.

(3) Theo thông tin mà chúng tôi nhận được, trước đây người ta đã phát hiện được vài tấm bia của Thiên chúa giáo ghi bằng chữ Hán ở tỉnh Phúc Yên, Nam Định.

Thông báo Hán Nôm học 2000, tr.194-198

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm