24. Từ nguyên của “Pháy pháy” và “Phới phới” qua ngữ liệu Tiếng Việt thế kỉ XV - XX (TBHNH 2012)
24. Từ nguyên của “Pháy pháy” và “Phới phới” qua ngữ liệu Tiếng Việt thế kỉ XV - XX (TBHNH 2012)
TỪ NGUYÊN CỦA “PHÁY PHÁY” VÀ
“PHỚI PHỚI” QUA NGỮ LIỆU TIẾNG VIỆT THẾ KỶ XV- XX
TRẦN TRỌNG DƯƠNG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Trong Hồng Đức quốc âm thi tập thế kỷ XV có câu thơ:
Hiu hiu gió thổi hương lồng áo,
PHÁY PHÁY mưa sa ngọc đượm chân (44.4)
Chữ “pháy pháy” là theo cách phiên đề xuất của chúng tôi. Các cách phiên cũ cho ngữ tố này như sau: nhóm Nguyễn Tá Nhí (2008: 349) phiên “phới phới”. Chữ “phới phới” là một từ vựng cổ, sau chuyển thành “phơi phới” trong Tiếng Việt hiện đại có các nghĩa sau: “1. Phấn chấn vui tươi, đầy sức sống vì đang phát triển mạnh và có nhiều hứa hẹn. Tuổi xuân phơi phới. Lòng xuân phơi phới, chén xuân tàng tàng (Truyện Kiều)(1). 2. Mở rộng và tung bay trước gió. Cờ bay phơi phới.” [Nguyễn Như Ý 2008: 1267] và có thể kể thêm câu thơ “bữa ấy mưa xuân phơi phới bay” trong thơ Nguyễn Bính. Việt Nam tự điển của Hội Khai trí Tiến đức ghi: “phơi phới. Xem phới phới. Phới phới. Thường nói là “phơi phới”. Phát động một cách nhẹ nhàng” [1931: tr.443].
Tuy nhiên, cả hai nghĩa trên cần phải được xem xét lại trong ngữ cảnh cụ thể của Tiếng Việt thế kỷ XV. Nguyên văn chữ Nôm ghi “派派” giống như các văn bản Truyện Kiều, âm Hán Việt là “phái phái”. Từ điển Đại Nam quốc âm tự vị ghi: “phới phới: bộ nhẹ nhàng, khinh khoái. Nhẹ phới phới: nhẹ lắm” [1898: tr.815], và không thấy ghi nhận âm “phơi phới”, đồng thời cũng cho biết từ nguyên của chữ “phơi phới” vốn dẫn thân từ một tính từ là “phới” với nghĩa là “nhẹ”, lưu tích còn trong từ song tiết đẳng lập “phới nhẹ” [1898: tr.815]. Từ điển này còn ghi một điệp thức cổ hơn là “pháy pháy” với nghĩa “mảy mảy như sợi tơ, nhỏ lắm. Mưa pháy pháy: mưa bay, mưa sương, mưa nhỏ hột quá. Tằm pháy: tằm mới nở” [1898: tr. 797]. Nhưng điệp thức cổ hơn nữa chính là “phảy phảy” với nghĩa “nhẹ nhàng”, và nguyên từ của nó là “phảy”- một danh từ: “một phảy: một phết nhỏ. Chấm phảy: làm ra một chấm, một nét đưa nhỏ nhỏ” [1898: tr. 797]. “Phảy” là một từ gốc Hán, có khả năng là đọc theo âm Hậu Hán Việt (âm chuyển nhập vào hệ thống từ vựng Tiếng Việt từ đời Minh Thanh). Có thể thấy sự đối ứng của nó với âm “pie” trong pinyin tiếng Hoa. Chữ Hán viết là 撇, trỏ nét phẩy trong cách viết bút lông “phiệt”丿.
Đến đây có thể lược thuật lại lịch sử của ngữ tố trên như sau. Nguyên từ là “phảy” trỏ một nét đưa nhẹ nhàng như dấu phảy. Hình thức láy toàn phần của nó là “phảy phảy”, đây là một tính từ trỏ trạng thái hoặc hình ảnh các nét mảnh nhẹ nhàng như tơ, là một từ Hán Việt Việt tạo. “Phảy phảy” sẽ cho một biến âm khác là “pháy pháy” vào cuối thế kỷ XIX như ghi nhận của Paulus Của. Như vậy, “phảy phảy”, “pháy pháy” là tính từ chuyên dùng để trỏ trạng thái của sự vật, thường được dùng để tả cảnh mưa xuân bay. Cho nên, câu thơ đang xét nằm trong bài “Xuân” nên đọc là “Phảy phảy/ pháy pháy mưa sa ngọc đượm chân”.
Chữ “phảy phảy” và “pháy pháy” cần phải được phân biệt với chữ “phới phới” và “phơi phới”- tính từ trỏ tâm trạng. Các từ điển cổ hầu như không thấy ghi nghĩa này, nhưng có thể thấy rõ qua các văn liệu cổ như sau. Thế kỷ XVI: “lòng mừng phới phới, nhẹ tăm tăm” (Bạch Vân quốc ngữ, 10a). Thế kỷ XVII: “tự nhiên phới phới mừng lòng” (Thiên Nam ngữ lục, 62b), “phới phới lòng mừng ruổi đến chẳng sai” (Thiên Nam ngữ lục, 82b), “quyến khách thơ ngâm lòng phới phới” (Trịnh Căn, 23a), “phới phới đòi phen bước dặm xuân” (Trịnh Căn, 32b), “phới phới cùng vui cõi diệu chân” (Trịnh Cương, 5a). Thế kỷ XIX: “lòng xuân phới phới chén xuân tàng tàng” (Truyện Kiều, câu 425). Đầu thế kỷ XX: “gió xuân phới phới rước xuân vào” (Vị Thành giai cú tập biên, 15a).
Ngoài ra, “phới phới” còn có một nghĩa khác nữa là trỏ “vẻ lồng lộng, phần phật do gió thổi”, như “tám bức quần hồng bay phới phới” (Hồng Đức, 54b), “cờ phới phới kia dinh đồn lũy” (Trịnh Cương, 11b), “phới phới gió lay chồi liễu” (Phạm Thái, 20a). Từ điển Việt- Bồ- La ghi: “phới phới: một vật gì động đậy bởi gió” [A des Rhodes 1656, tb 1994: 182].
Đến đầu thế kỷ XX, với câu thơ “bữa ấy mưa xuân phơi phới bay”, Nguyễn Bính dùng thủ pháp nhân cách hóa, tâm trạng hóa mưa xuân, khiến cho câu thơ đa nghĩa vừa mang tình cảm của nhân vật lại vừa như miêu tả trạng thái mưa xuân. Cũng từ câu thơ ấy, các từ cận âm nhưng khác nhau về nguyên từ đã đồng quy về một ngữ tố.
Như vậy, “phảy phảy”, “pháy pháy” là ngữ tố cổ. “Phới phới” (với cả 2 nghĩa như trên) là âm cổ của “phơi phới” hiện nay. Các ngữ tố này cần phải được phân biệt với nhau khi thực hiện phiên chuyển từ Nôm sang latin, và nên tách thành các mục từ độc lập, để khắc phục tình trạng lẫn lộn trong một số từ điển từ trước đến nay(2).
Chú thích:
(1). “Phơi phới: cởi mở và thỏa mãn” [Đào Duy Anh. Tb. 1987.Từ điển Truyện Kiều. Phan Ngọc bổ sung và sửa chữa. Nxb. KHXH. H. tr.365]. Nguyễn Quảng Tuân phiên “phơi phới” [Nguyễn Quảng Tuân. Truyện Kiều: bản Nôm cổ nhất Liễu Văn đường 1871. Nxb. Văn học. Tp Hồ Chí Minh. tr.68]. Nguyễn Tài Cẩn và Đào Thái Tôn phiên “phới phới” [Nguyễn Tài Cẩn. 2008.Tư liệu Truyện Kiều: Thử tìm hiểu bản sơ thảo Đoạn trường tân thanh. Nxb. Giáo dục. H. tr.84; Đào Thái Tôn. Nghiên cứu văn bản Truyện Kiều bản Liễu Văn đường 1871, Nxb. KHXH. H. tr.212.
(2). Ví dụ “Tự điển chữ Nôm” của Viện Nghiên cứu Hán Nôm [Nguyễn Quang Hồng (Chủ biên) 2006: 895-896].
Tài liệu tham khảo:
1. A. de. Rhodes 1651. Dictionarivm Annnamiticivm Lvsitanvm et Latinvm ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in Lucem Editum ab Alexandro de Rhodes e Societati Jesu, Eiusdemque Sacra Congregationis Missionario Apostolico. - Romae: typis & sumptibus eiusdem Sacr. Congreg. p. 633., 1994. Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính phiên dịch, Nxb. KHXH. H.
2. L.J. Taberd, (1838), Dictionarium Anamitico- Latinum (南越洋合字彙Nam Việt Dương hiệp tự vị), Frederrichnagori Vulgo Serampore.
3. Pierre Pegneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc Bỉ Nhu), (1999), Dictionarium Anamitico Latinum 1772-1772 (Tự vị An nam La tinh), Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu, Nxb. Trẻ.
4. Huình Tịnh Paulus Của, (1895-1896), “大 南 國 音 字 彙” Đại Nam quốc âm tự vị, SaiGon Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4, rue d’Adran, 4.; Nxb. Trẻ,1998 (theo ấn bản 1895-1896).
5. Hội Khai trí Tiến đức, (1931), Việt Nam tự điển, HANOI Imprimerie Trung-Bac Tan-Van. Mặc Lâm xuất bản.
6. Nguyễn Tá Nhí (Chủ trì), Tổng tập văn học Nôm Việt Nam, Tập 1, Nxb. KHXH, H., 2008.
7. Nguyễn Quang Hồng (Chủ biên). 2006. Tự điển chữ Nôm. Nxb. Giáo dục. Hà Nội.
8. Nguyễn Như Ý (Chủ biên) 2008. Đại từ điển Tiếng Việt. Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.192-196)